Vụ dầu tràn : Ngư dân gốc Việt cùng kiện BP Thursday, June 17, 2010
Dương Ðông/Người Việt
NEW ORLEANS (NV) - Một đơn kiện tập thể dành cho ngư dân gốc Việt vùng Vịnh Mexico vừa được đệ nạp tại tòa liên bang ở Louisiana, theo hồ sơ của tòa cho biết.

Một ngư dân gốc Việt ở Grand Isle, Louisiana không có gì làm sau khi kỹ nghệ đánh tôm ở Louisiana phải ngừng lại vì vụ nổ dàn khoan Deep Horizon. (Hình: Joe Raedle/Getty Images)
Ðơn kiện do bốn ngư dân gốc Việt đứng tên đại diện, đòi bồi thường cho cả một tập thể mọi người Việt Nam bị thiệt hại do vụ nổ dàn khoan khiến dầu loang từ hồi tháng 4 tới nay. Vụ nổ dàn khoan Deep Horizon nay đang được xem là tai họa môi sinh tệ hại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ðơn kiện tố cáo BP bất cẩn gây thiệt hại, và cho rằng người Việt Nam bị thiệt hại nhiều hơn người khác vì ít biết tiếng Anh, không thể theo dõi thông tin về vụ dầu loang vì tin tức này chỉ loan báo bằng tiếng Anh. Họ không có khả năng đổi nghề khác và, theo đơn kiện, bị BP lừa gạt. Vụ lừa gạt, theo lời của luật sư ghi trong đơn kiện, diễn ra sau vụ dầu loang, BP thuê người biết tiếng Việt đi gặp mọi người trong cộng đồng và đổi một món tiền nhỏ nếu người ta chịu ký vào giấy của BP. Theo đơn kiện, cư dân Việt Nam trong vùng, khi ký vào giấy, không biết là mình đã cam kết không kiện BP. Sau khi vụ này bị phanh phui ra, BP phải xin lỗi và rút lại những tờ giấy cam kết đó. Bốn người đại diện cho tập thể người Việt Nam trong đơn kiện là bốn ngư dân sống tại bốn tiểu bang khác nhau. Ông Nguyễn Văn Khả sống tại Louisiana; ông Kiều Văn Thiết sống tại Alabama; ông Dũng Trần sống ở Florida và ông Nguyễn Văn Hữu sống tại Mississippi. Ðơn kiện cho biết cả bốn người đều đã từng hành nghề đánh cá tại Việt Nam trước khi qua Mỹ tỵ nạn. Ðơn kiện viết: “Nghề đánh cá là chất keo giữ cộng đồng Việt Nam lại với nhau. Người ta biết về cộng đồng Mỹ gốc Việt trong vùng Vịnh hầu hết là điều đó.” Người Việt Nam bắt đầu đánh cá, đánh tôm trong vùng Vịnh Mexico ngay từ những ngày đầu tiên sau khi có người Việt Nam tại Mỹ. Trong những năm đầu, thời thập niên 1970, nhiều người bị dân địa phương kỳ thị chủng tộc, bị đánh phá, nhiều tàu bị đốt. Tuy nhiên, với sự đấu tranh và theo thời gian, ngư dân gốc Việt dần dần trở thành một phần của ngành đánh cá, đánh tôm ở trong vùng. Ở các tiểu bang Texas, Louisiana, Alabama, Florida, Mississippi, có thống kê cho thấy ngư dân Việt Nam chiếm 60% số người trong nghề này tại địa phương. Trong các công ty bị đơn, ngoài công ty BP, còn có các công ty cung cấp các bộ phận trên dàn khoan Deep Horizon. Có tất cả 13 công ty bị kiện trong vụ này. Vụ nổ cháy dàn khoan diễn ra hôm 10 tháng 4. Từ đó tới nay, dầu vẫn còn tiếp tục xì ra khỏi giếng với mức độ lên tới 5,000 thùng một ngày. Ðơn kiện tố cáo vụ dầu loang này đang gây thiệt hại hàng trăm triệu cho cư dân trong vùng. Ðơn kiện do văn phòng Luật Sư Lemmon Law Firm ở Louisiana và văn phòng luật sư Lee Tran & Liang ở California đứng đơn.
2 viên chức Vietnam Airlines bị truy tố buôn lậu ở Sài Gòn

Chuyến máy bay của hàng không Vietnam Airlines đáp xuống phi trường ở Việt Nam. Một số phi công và tiếp viên của hãng này mới bị thẩm vấn ở phi trường Sydney, Úc, và hai viên chức ở Sài Gòn vừa bị bắt và truy tố về tội buôn lậu. (Hình: AFP/Getty Images)
SÀI GÒN (TH) - Hai nhóm phi hành đoàn của hãng hàng không Vietnam Airlines đã bị cảnh sát Úc giữ thẩm vấn ở phi trường Sydney, tin tức từ báo Nhân Dân cho hay như vậy và không được biết nguyên nhân đích xác của vấn đề. Ðồng thời, theo tờ Tuổi Trẻ, một số viên của của hãng hàng không nói trên ở Sài Gòn đã bị bắt và truy tố về tội buôn lậu cũng liên quan tới nước Úc. Ngày 17 tháng 6, 2010, báo Nhân Dân điện tử loan tin nói rằng ngày 31 tháng 5, 2010 vừa qua, phi hành đoàn gồm 13 người của chuyến bay Vietnam Airlines mang số VN782 đã bị giữ lại để thẩm vấn khi làm thủ tục xuất cảnh tại sân bay để chuẩn bị cho chuyến bay từ Sydney về Sài Gòn. Cảnh sát liên bang Úc (AFP) “tạm giữ hộ chiếu để đến ngày 18 tháng 6 sẽ đưa ra tòa án xét xử. Bảy tiếp viên trong đoàn buộc phải ở lại tại khách sạn trong thành phố.” Tờ Nhân Dân không nói những người nói trên bị giữ lại Úc và chờ ra tòa vì tội danh gì. Rồi đến ngày 16 tháng 6, 2010, “AFP tiếp tục giữ và tiến hành thẩm vấn phi hành đoàn 14 người của chuyến bay VN782 khi đang làm thủ tục lên máy bay tại sân bay Sydney.” Tuy nhiên “sau khi hai lái chính và 10 tiếp viên được phép ra tàu làm nhiệm vụ, còn một lái chính và một tiếp viên tiếp tục bị kiểm tra và phỏng vấn đến 13 giờ chiều cùng ngày mới được thả và trả lại hộ chiếu mà không được giải thích lý do tạm giữ.” Những năm qua, một số phi công của Vietnam Airlines đã bị chính phủ Úc bỏ tù vì tội chuyển ngân bất hợp pháp và rửa tiền. Rất nhiều phi công và tiếp viên phi hành của Việt Nam trên các đường bay quốc tế đã bị bắt giữ liên quan đến rửa tiền, buôn lậu ma túy và các loại hàng hóa, kể cả đồ ăn cắp. Báo Nhân Dân nói rằng Vietnam Airlines “phản đối việc bắt giữ người lái và tiếp viên” tại Sydney và coi việc “tiến hành khám xét, tạm giữ thành viên tổ bay của Vietnam Airlines khi không thông báo cho đại diện Vietnam Airlines tại Xít-ni là sai luật, có hệ thống, gây uy hiếp an toàn bay (do thiếu tổ bay) và cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của Vietnam Airlines tại Ô-xtrây-li-a.” Tờ báo còn cho hay văn phòng Vietnam Airlines tại Úc cũng tổng lãnh sự sứ quán CSVN “đề nghị nhà chức trách Ô-xtrây-li-a hợp tác và cung cấp các thông tin liên quan song không nhận được bất cứ thông tin và trả lời cụ thể nào.” Tháng 4, 2008, phi công Lại Quốc Việt của Vietnam Airlines đã bị cảnh sát Úc bắt giữ và truy tố về tội rửa tiền, một số tiền lên đến 3.4 triệu Úc kim mang từ Sydney về Việt Nam trong các năm 2005 và 2006 làm 40 chục lần. Ðến tháng 12, 2009, ông đã bị đưa ra tòa và lãnh án 9 năm rưỡi tù cùng với một số tòng phạm. Trong khi phi công Việt còn chờ ra tòa thì tháng 6, 2007, phi công Trần Văn Ðăng của Việt Nam Airlines đã bị truy tố ở Úc vì liên quan đến các vụ rửa tiền lên đến $93 triệu Úc kim. Cái ngày ông Ðăng bị bắt ở phi trường Sydney, túi hành lý của ông chứa tới $500,000 Úc kim trên tổng số $6.5 triệu Úc kim được chuyển lậu từ Úc về Việt Nam, theo bản tin tờ Sydney Morning Herald. Ðiều đáng nói là, ông Ðăng nguyên là một phi công chiến đấu, và cũng từng được tin cậy để lái các chuyến bay chở viên chức cao cấp CSVN đi công du. Ông Ðăng đã bị tòa án Úc kết án 4 năm rưỡi tù. Theo tờ Sydney Morning Herald, tại tòa, ông Ðăng nói rằng hành động chuyển tiền lậu của ông được thúc đẩy từ “ước muốn giúp người nghèo ở quê nhà.” Mặt khác, theo tờ Tuổi Trẻ ngày Thứ Tư, 16 tháng 6, 2010: “Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án buôn lậu xảy ra tại cảng hàng không sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), đồng thời thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Ðức Vũ (nhân viên Trung Tâm Khai Thác Tân Sơn Nhất thuộc Tổng công ty Hàng Không VN-Vietnam Airlines) và Nguyễn Minh Hoàng (ngụ Q.Bình Thạnh).” Theo tờ Tuổi Trẻ, khám xét chỗ ở và nơi làm việc của hai người vừa kể, “cơ quan chức năng thu giữ $20,000 USD, 20 triệu đồng và nhiều tài liệu liên quan.” Ði vào chi tiết, tờ Tuổi Trẻ nói dựa theo các tin tức điều tra sơ khởi thì từ tháng 8, 2002 đến tháng 5, 2010, “ông Vũ nhận vận chuyển hàng lậu từ Úc về VN cho hai đối tượng khác. Liên tục trong thời gian dài, mỗi tuần các đối tượng ‘đánh’ 2-3 chuyến hàng, mỗi chuyến từ 5-9 kiện hàng điện tử. Khi hàng về đến sân bay, ông Vũ có nhiệm vụ đến khu hành lý khách quốc tế đưa hàng ra khỏi khu vực máy soi của hải quan. Việc chung chi cho nhân viên hải quan, cách thức nhận hàng đều được các đối tượng ‘mã hóa’ bằng ký hiệu và quy ước riêng. Thông tin ban đầu cho biết tiền công mà Vũ nhận được từ các đối tượng khoảng 200 triệu đồng.” Còn đối với Nguyễn Minh Hoàng, “trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến nay đã trực tiếp nhận hàng lậu từ ông Vũ, sau đó mang đi giao cho các đối tượng khác tiêu thụ. Hoàng còn nhận tiền từ hai đối tượng người VN đang làm việc tại Úc gửi về (khoảng 1 triệu đôla Úc) để trả công và chung chi cho các đối tượng khác trong đường dây vận chuyển, tiêu thụ hàng lậu, trong đó riêng Hoàng được trả công 70 triệu đồng.” |
Thiếu niên Việt tại Cambodia: Cạm bẫy tình dục trong kỹ nghệ làm đẹp
Ninh Thị Thiên Hương (từ Phnom Penh) Chuyển ngữ: Triệu Phong/Người Việt
PHNOM PENH - Tôi nghĩ mình đã đưa sai địa chỉ cho người lái xe ôm, khi anh ta dừng trước một mỹ viện có bảng hiệu màu xanh, ghi chữ “VA RY.” Trong khi đang loay hoay dò lại địa chỉ nơi cuốn sổ tay, một chị từ trong tiệm bước ra, và hỏi: “Có phải em là Hương không?” Tim tôi chợt đánh thót lên. Lần đầu tiên tôi nghe có người nói tiếng Việt kể từ khi tôi đến Phnom Penh cách đây hai ngày.

Bên trong thẩm mỹ viện VA RY tại thủ đô Phnom Penh, Cambodia: khoảng 12 đến 15 em nhỏ làm việc để tự nuôi sống mình trong một môi trường đầy cạm bẫy. (Hình: Ninh Thị Thiên Hương) Tôi đáp: “Dạ phải, em là Hương.” Chị mỉm cười rồi mở cửa cho tôi bước vào. Chị tên là Tâm. Tôi gọi chị là “chị Tâm.” Chị Tâm sống trong một tòa nhà bốn tầng, cỡ trung bình, nằm giữa khu vực gia cư của thủ đô xứ Cambodia. Nhờ sự giúp đỡ của bà mẹ đang ở bên Mỹ, chị mua được căn nhà này hồi năm 2003. Rồi chị sửa nó lại thành một mỹ viện. Chị hành nghề “làm đẹp” cho người, kiếm tiền nuôi hai con trai, một đứa chín tuổi, còn đứa kia lớn hơn một tuổi. Một năm sau khi mua căn nhà, chị Tâm bắt đầu nhận nuôi thêm từ 12 đến 15 em nữa, ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Hầu hết đều là các em gái thuộc những gia đình ở các vùng xa xôi nghèo khó, nơi chỉ sống với lợi tức $1 cho mỗi người trong một ngày. Ngoài khó khăn này, các em gái luôn phập phồng lọ sợ bị trục xuất. Và các em sống bên lề xã hội. Mặc dù sinh ra ở Cambodia, các em vẫn không được quyền có quốc tịch Cambodia, thường xuyên bị ruồng rẫy vì gốc gác Việt Nam của mình. Ở Cambodia, người Việt Nam bị gọi là “yuon,” tương đương với chữ “nigger” tức nô lệ da đen ở Mỹ. Những điều kiện hạn chế này khiến họ chỉ có thể theo học ở những trường không chính thức, thường do các tổ chức tôn giáo lập nên, và buộc phần đông phải bắt đầu hành nghề bán thức ăn dạo trên hè phố ngay từ lúc mới lên năm.

Mặc dù sinh ra ở Cambodia, các em vẫn không được quyền có quốc tịch Cambodia, thường xuyên bị ruồng rẫy vì gốc gác Việt Nam của mình. (Hình: Ninh Thị Thiên Hương)
Mặc dầu xuất thân thiếu học và nghèo khó, chị Tâm tin rằng, với việc huấn nghệ trong lãnh vực kỹ nghệ thẩm mỹ đang thịnh hành ở Cambodia, chị có thể mang lại cho các con nuôi của mình niềm hy vọng. Chị thuê ba chuyên viên thẩm mỹ trẻ tuổi đến dạy các em, từ cách trang điểm cho đến làm tóc và móng tay. Em nào có năng khiếu và chăm chỉ hơn cả thì được chị gửi đến học ở trường chuyên môn để lấy chứng chỉ tốt nghiệp. Ðiều rủi ro, nghề thẩm mỹ ở chốn này, vừa là sự may mắn, vừa là nỗi bất hạnh. Tôi suy luận rằng, ngành thẩm mỹ thu được nhiều tiền nhờ những cô gái bán thân, vốn vẫn thường lui tới nơi đây. Do vậy, không lạ gì kỹ nghệ mua bán tình dục bùng nổ mạnh ở Phnom Penh trong mười năm qua, song hành với sự tăng trưởng của hơn 600 mỹ viện trong thành phố. Thẩm mỹ viện nhiều đến độ, tiệm này nằm cách tiệm kia chỉ chừng hai, hoặc ba, khu phố! Theo chị Tâm, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa kỹ nghệ thẩm mỹ với kỹ nghệ bán dâm đã tạo cơ hội “để lấy cứt làm giàu.” Chị biết các cô gái bán thân thường ghé đến tiệm VA RY để làm đẹp, đồng thời họ cũng có thể đã xúi giục các dưỡng tử của mình bán thân, để kiếm tiền. Tuy nhiên, chị tin rằng chị có thể che chở cho những đứa con nuôi khỏi tầm ảnh hưởng này, bằng cách luôn luôn nhắc nhở chúng về đạo đức nghề nghiệp và giữ vững tinh thần cứng rắn. Chị áp dụng triệt để lịch trình giờ giấc, làm việc từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối, và không được đi đâu sau 9 giờ tối. Thế nhưng, những đồng tiền mang lại từ kỹ nghệ tình dục của xứ này đã và đang góp phần nuôi sống cửa tiệm của chị? Chị Tâm giải thích, rằng đồng tiền mà những người bán thân mang đến cho tiệm thẩm mỹ còn có thể được dùng để mang lại cho các dưỡng tử của chị một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tối thiểu, chúng có thể yên lòng tự nuôi sống bản thân mình. *** Ngày hôm sau tôi trở lại mỹ viện của chị Tâm để nhờ “lên đồ,” để đi dự đám cưới của một người Cambodia mà một người bạn ở địa phương mời tôi đến dự.

Tiệm thẩm mỹ VA RY, Phnom Penh, Cambodia. (Hình: Ninh Thị Thiên Hương) Tôi cho các học viên ở tiệm VA RY biết rằng, tôi muốn được trang điểm màu nhạt và làm một kiểu tóc đơn giản. Tuấn, một em 21 tuổi, có cha mẹ sinh quán ở Nam Việt Nam, một mực nói rằng tôi cần phải “trang điểm thật đậm với màu sẫm,” có vậy mới hợp với bộ đồ màu đỏ của người Cambodia. “Chị Tâm bảo tụi em phải làm cho chị trông thật giống người bản xứ mới được.” Tôi không thể cưỡng lại được, chỉ biết cười tán đồng. Tôi nghĩ: “Biết bao giờ mình mới lại có dịp để mặc đồ đúng theo truyền thống của người Cambodia?” Trong khi Tuấn tô mặt tôi bằng ba lớp bột trắng, dán lên mắt tôi một đôi lông mi dài, và chấm lấm tấm lên vai và cổ tôi những màu lấp lánh, thì những cô gái và khách hàng ngồi gần đấy nhìn Tuấn đầy bái phục. Em tỉ mỉ từng mỗi nét cọ, em đặt mỗi lớp bột trắng và hạt lấp lánh ở mỗi chỗ một cách chính xác, với một số lượng có tính toán cẩn thận. Tuy vậy, Tuấn thoải mái làm việc, vì rằng tôi chưa hề biết được tay nghề của em thành thạo đến đâu, mãi cho đến khi làm xong. Trong vòng 20 phút, với khuôn mặt trắng bệt, mũi như nhỏ lại, đôi mắt đen trông to tướng, tôi không còn nhận ra mình được nữa! Các học viên đồng thốt lên: “Chị trông y hệt người Cambodia!” Kế tiếp là phần làm tóc. Tuấn dùng lược, thận trọng chải thành hai tầng, với tầng trên tạo thành một vương miện tròn vo. Tôi lo lắng hỏi: “Liệu nó có bị rớt xuống hay ngả sang một bên không em?” Tuấn trấn an tôi với nụ cười tươi tắn: “Chị có thể khiêu vũ suốt đêm mà đến mai vẫn còn xài được.” Cũng như mọi thanh thiếu niên sống trong nhà của chị Tâm, Tuấn ăn nói nhỏ nhẹ và cười luôn miệng mỗi khi nói chuyện. Tuy nhiên, ẩn mình dưới vẻ trầm lặng và tươi vui ấy là một người trẻ từng chứng kiến, cũng như đã kinh qua, những mặt tăm tối nhất của cuộc đời. Lúc mới lớn, em phải giúp đỡ cha mẹ nuôi sống ba con nhỏ bằng cách bán thức ăn trên các vỉa hè ở Svay Pak, khu vực “đèn đỏ” vốn gây chú ý trên chương trình truyền hình “Dateline” vào năm 2004, vì đây là nơi dung dưỡng nạn nô lệ tình dục trẻ em. Hằng ngày, Tuấn nhìn thấy hàng hàng lớp lớp, có đến hàng trăm phụ nữ và em gái Việt Nam, nhỏ nhất chỉ mới năm tuổi, nối đuôi xếp hàng bán thân cho du khách, hầu hết là người Tây Phương và quan chức địa phương, cùng các doanh gia. Theo thăm dò gần đây, những người bán thân này chỉ kiếm được $50 mỗi tháng, và phải tiếp bình quân 14 khách mỗi tuần. (Theo thống kê của Joanna Busza, ấn phẩm “Sex Work and Migration: The Dangers of Over-simplication - A Case Study of Vietnamese Women in Cambodia,” 2004). Mặc dù hai chính quyền Việt Nam và Cambodia đều cảnh giác về việc xóa nạn đĩ điếm ở Svay Pak, Tuấn cho tôi hay rằng, người ta chỉ buộc được kỹ nghệ mua bán tình dục này chuyển sang hình thức làm ăn trá hình mà thôi. Ma cô và khách mua dâm bây giờ gặp nhau ở những địa điểm bí mật, còn các chị em thì lên đồ như mọi cô gái ăn mặc hở hang bình thường, ra vào những nơi thanh lâu, tửu quán. Tuấn cho biết vẫn còn gặp một số những cô gái này ở một mỹ viện khác tại Phnom Penh, nơi em mới bắt đầu đến làm vào buổi chiều. Tôi không thể không nghĩ đến Tuấn, và cả những thanh thiếu niên kia, khi bước vào tiệc cưới. Họ là một số trong rất nhiều những người bị lãng quên nhất trên đất nước Cambodia. Vậy đó, vậy mà họ lại giúp cho tôi hòa nhập ở buổi tiệc cưới mà thành phần đa số là người Miên ưu việt, có giáo dục và nhiều ảnh hưởng nhất. Biết bao giờ các em có thể hòa nhập được vào xã hội Cambodia, chỉ với công việc sáng tạo của đôi tay? (Phóng sự này do sinh viên Ninh Thị Thiên Hương viết cho nhật báo Người Việt. Ðộc giả có thể đóng góp ý kiến trực tiếp cho tác giả qua email ninh@usc.edu) |