VN sắp vượt Thái Lan trở thành vô địch xuất khẩu gạo thế giới
07.07.2010 04:25
Gạo Việt Nam đắt khách
Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Thương mại Hồng Công (HKTDC), xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Hồng Công (Trung Quốc) trong 5 tháng đầu năm 2010 đạt giá trị 11 triệu USD. Trong cả năm 2009, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Hồng Công đạt tổng giá trị 12 triệu USD.
Theo dự đoán của ông Vũ Thịnh Cường, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hồng Công và Ma Cao, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Hồng Công sẽ tiếp tục tăng trong 6 tháng cuối năm nay vì hiện đã có nhiều doanh nghiệp nhập khẩu gạo của Hồng Công và Thâm Quyến (Quảng Đông - Trung Quốc) đề nghị cơ quan thương vụ của Việt Nam tại Hồng Công và Ma Cao giúp tìm nhà cung cấp gạo lớn và đảm bảo chất lượng. < meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">< meta name="ProgId" content="Word.Document">< meta name="Generator" content="Microsoft Word 14">< meta name="Originator" content="Microsoft Word 14">
"Việt Nam có thể là nước xuất khẩu gạo hàng đầu"
Theo dự đoán của ông Vũ Thịnh Cường, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hồng Công và Ma Cao, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Hồng Công sẽ tiếp tục tăng trong 6 tháng cuối năm nay vì hiện đã có nhiều doanh nghiệp nhập khẩu gạo của Hồng Công và Thâm Quyến (Quảng Đông - Trung Quốc) đề nghị cơ quan thương vụ của Việt Nam tại Hồng Công và Ma Cao giúp tìm nhà cung cấp gạo lớn và đảm bảo chất lượng.
"Việt Nam có thể là nước xuất khẩu gạo hàng đầu”
Theo Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, Việt Nam có thể vượt Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới trước năm 2015 do giá gạo của Thái Lan cao hơn.
Hãng tin Bloomberg dẫn lời ông Chookiat Ophaswongse, cựu Chủ tịch và hiện là cố vấn Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, cho biết khối lượng gạo xuất khẩu của nước này có thể giảm xuống tám triệu tấn trong năm nay. Năm 2009, Thái Lan xuất khẩu 8,6 triệu tấn gạo trong khi Việt Nam xuất khẩu sáu triệu tấn.
Tuy nhiên, giá gạo của Thái Lan và Việt Nam ngày càng chênh lệch. Theo bảng theo dõi giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, giá gạo loại 5% tấm của Thái Lan trong năm 2008 cao hơn 68 USD so với gạo cùng loại của Việt Nam, nhưng đến năm 2009 thì mức chênh lệch này lên tới 123 USD.
Ngoài ra, giá đồng tiền của Việt Nam giảm từ cuối năm 2008 đã khiến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm so với cách đây hai năm, trong khi giá trị đồng baht của Thái Lan lại tăng từ 33,5 baht/1 USD lên 32,3 baht/1 USD trong cùng thời gian.
Ông Rut Subniran, Giám đốc điều hành Công ty xuất khẩu Herba Bangkok S.L., và ông Chookiat cũng cho biết chi phí vận chuyển, chi phí lao động và các chi phí hậu cần khác ở Việt Nam cũng thấp hơn so với ở Thái Lan.
Tại một cuộc hội thảo mới đây, ông Chookiat đã nhấn mạnh rằng Thái Lan có thể sẽ không còn là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới trong năm năm nữa vì không thể tiếp tục cạnh tranh được với Việt Nam.
Theo số liệu đăng trên trang web của Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế, từ năm 1980 Thái Lan đã vượt Mỹ trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, trong khi xuất khẩu gạo của Việt Nam đến năm 1988 mới vượt con số một triệu tấn sau khi chính phủ áp dụng chính sách kinh tế định hướng thị trường nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp.
Tạo thương hiệu cho hạt gạo Việt Nam
ND- Một tin khá "chấn động" của hoạt động giao thương vào cuối tháng 6 vừa qua: Việt Nam sắp đứng đầu bảng về xuất khẩu gạo. Chủ tịch danh dự Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái-lan, Chukiatthừa nhận: Thái-lan đang đối mặt trực diện với nguy cơ đánh mất ngôi vua xuất khẩu gạo vào tay Việt Nam trong cuộc đua chiếm lĩnh thị trường gạo thế giới.
Lợi thế giá rẻ
Chỉ trong 25 ngày đầu tháng 6-2010 xuất khẩu gạo Việt Nam đạt gần 478 nghìn tấn, trị giá gần 198 triệu USD. Lũy kế xuất khẩu gạo từ ngày 1-1 đến 25-6-2010 là 3.165.833 tấn, đạt trị giá 1,418 tỷ USD. Giá gạo xuất khẩu năm tháng đầu năm nay đã đạt trung bình 454 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2009.
Tại thị trường gạo Ðông-Nam Á, sản lượng xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh trong những năm qua. Riêng năm 2009, lượng gạo của Việt Nam xuất sang Ma-lai-xi-a đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 2008 và hoàn toàn làm chủ thị trường này. Tại thị trường Phi-li-pin, các nhà xuất khẩu gạo Thái-lan hoàn toàn bị lép vế so với Việt Nam khi lượng gạo từ Băng-cốc xuất sang thị
trường này chỉ bằng 1/10 so với nước ta. Trên thị trường thế giớinăm2009,khoảngcách giữa Việt Nam và Thái-lan ngày càng được thu hẹp đáng kể. Theo các nhà phân tích thị trường gạo Thái-lan, sở dĩ cán cân xuất khẩu gạo thay đổi nhanh chóng như trên là vì Việt Nam có lợi thế về giá thành rẻ. Nhờ giá nhân công rẻ, chi phí sản xuất một tấn gạo trắng tại Việt Nam mất 360 USD, trong khi Thái-lan mất 500 USD.
Mức chênh lệch về giá của cùng loại gạo do Việt Nam và Thái-lan xuất khẩu đang ngày càng lớn. Theo số liệu của Cơ quan Nông lương Liên hợp quốc (FAO), vào năm 2007, loại gạo 5% tấm của Thái-lan đắt hơn của Việt Nam 12 USD/tấn. Tới năm 2008, mức chênh này là 68 USD/tấn, và năm nay đã lên tới 123 USD/tấn.
Nâng cao giá trị hạt gạo để xây dựng thương hiệu
Tuy lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng vàhiện nay đang đứng trước cơ hội chiếm lĩnh ngôi vị dẫn đầu thế giới, nhưng giá xuất khẩu gạo Việt Nam lại đang đứng chót thế giới. Dù được lợi thế về giá nhưng năng lực cạnh tranh về chất lượng của hạt gạo Việt Nam kém gạo Thái-lan.
Gạo Việt Nam hạt không đồng nhất, mau xuống mầu, không thương hiệu cũng như không thể truy nguyên nguồn gốc từ cánh đồng nào, tỉnh nào. Các chuyên gia về lúa gạo khu vựcnhận xét: Nông dân Việt Nam mạnh ai nấy làm, cho nên dù cócùng cánh đồng nhưng quá nhiều giống lúa. Theo các chuyên gia, cần phải tổ chức sản xuất theo hướng cánh đồng một giống gắn với tập huấn nâng cao kỹ năng ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến. GS, TS Võ Tòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học An Giang, đồng thời là nhà khoa học nổi tiếng Ðông-Nam Á về lúa gạo, cho rằng doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần chung lưng với nông dân tạo được vùng nguyên liệu đủ lớn để có thể chủ động về sản lượng bên cạnh đó cũng dễ dàngthực hiện các quy trình canh tác theo nhóm giống, tiểu vùng sinh thái; quy trình, kỹ thuật sau thu hoạch; quản lý kinh tế hộ; tiếp thị quảng bá. Có vậy sẽ tạo được thương hiệu cho gạo Việt Nam bởi chủ động được chất lượng gạo đồng đều, thuần chủng.
Hiện nay, nông dân trồng nhiều giống lúa chất lượng cao, nhưng khi mua lúa, thương lái cũng như doanh nghiệp sợ tốn kém không phân loại ngay từ đầu để các loại chung với nhau. Khi xuất khẩu, các nước thường tính giá theo tỷ lệ tấm, không có giá riêng. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bùi Bá Bổng cũng cho rằng, gạo Việt Nam vẫn thua Thái-lan trong khâu chế biến. Nông dân chỉ mong bán được giá cao, nhưng vì khâu thu mua, tồn trữ, chế biến không làm tốt nên thường giá chỉ đạt được ở mức thấp. Bên cạnh đó vấn đề sản xuất gạo an toàn cũng là điều cần chú trọng. Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Trương Thanh Phong cho rằng: Nhu cầu gạo thế giới ngày một tăng, nhưng các nước nhập khẩu dù thiếu ăn vẫn lấy rào cản về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm làm rào cản gia nhập thị trường của gạo Việt Nam. Do vậy, nông dân cần chú trọng khâu sản xuất an toàn, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Một trong những giải pháp tối ưu được nhiều chuyên gia nêu ra trong các diễn đàn về xây dựng thương hiệu cho hạt gạo Việt Nam đó là tạo mối liên kết bền vững giữa "bốn nhà" (Nhà nước - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - nhà nông). Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ÐBSCL- Trường đại học Cần Thơ cho rằng: "Việc liên kết bốn nhà cần dựa theo nguyên tắc thị trường, bảo đảmhài hòa lợi ích các bên. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần chọn thị trường, nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng ở thị trường đó để đặt hàng cho nông dân sản xuất loại giống mình cần và nhà khoa học cũng sẽ tham gia trong việc nghiên cứu, lai tạo chọn giống hỗ trợ cho nông dân. Nhà nước cầnđóng vai trò quyết định trong việc phân phối, điều hòa lợi ích"
PHAN THANH PHONG
Nông dân miền Nam bị CS miền Bắc bóc lột với sự độc quyền xuất khẩu gạo
TP - Nông dân đồng bằng sông Cửu Long lo gạo rớt giá. Thủ tướng yêu cầu đảm bảo cho bà con trồng lúa có lãi ít nhất 30%. Hàng ngàn tỷ đồng tín dụng ưu đãi được nhà nước rót cho việc mua gạo trong mỗi vụ, vụ năm nay chắc cũng thế. Liệu bà con trồng lúa có được ít nhất 30% lãi? Liệu nhiều ngàn tỷ đồng tín dụng ưu đãi có làm cho cuộc sống của nông dân đỡ chật vật?
Thu hoạch lúa ở Kiên Giang . Ảnh: Hồng Lĩnh
Khó trả lời. Nhưng có một điều chắc chắn, nếu điều hành xuất khẩu gạo tốt hơn, nếu không để cho vài công ty khuynh đảo thì chắc chắn tình hình của bà con trồng lúa được cải thiện hơn đáng kể. Rất đáng tiếc vài công ty khuynh đảo đó lại là các doanh nghiệp nhà nước và được giao giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực lúa gạo.
Đấy là hai Tổng Công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và miền Nam (Vinafood 2), chiếm trên 80% thị phần gạo xuất khẩu. Hai công ty này cũng khống chế Hiệp hội Lương thực, được Chính phủ trao cho quá nhiều "quyền quản lý nhà nước" đối với lúa gạo.
Vừa rồi trong cuộc họp họ đã ra dấu hiệu để cho việc buôn bán của họ dễ dàng hơn, và đẩy khó cho chính phủ hay nông dân. Họ bảo "Hiệp hội Lương thực Việt Nam và các doanh nghiệp xuất khẩu đều lúng túng bởi, đến thời điểm này, Bộ Tài chính vẫn chưa ban hành giá thành sản xuất lúa vụ đông xuân 2009-2010, trong khi vụ hè thu đã bước vào mùa thu hoạch".
Theo nhận định của họ "dù giá gạo tăng nhẹ nhưng thị trường xuất khẩu đang sụt giảm. Bên cạnh đó, chất lượng gạo vụ hè thu thấp, trong khi lượng gạo tồn kho vụ đông xuân còn nhiều nên việc tiêu thụ và giá lúa sẽ bất lợi cho nông dân". Khó thế đấy nên chúng tôi có mua rẻ thì bà con hãy thông cảm, chính phủ hãy giúp nông dân bằng cách đưa tiền cho chúng tôi mua gạo giúp bà con nông dân.
Họ thật là khôn và khéo. Dẫu là doanh nghiệp nhà nước, họ vẫn đặt lợi ích của họ lên trên hết, và điều đó chẳng sai. Cái sai là các quan chức nhà nước cứ nghĩ họ phải có trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị nên ưu ái hết mức và dùng như công cụ để dễ bề can thiệp.
Chuyên gia hàng đầu về lúa gạo, GS. Võ Tòng Xuân, đã phải thốt lên, "độc quyền, giá gạo sẽ còn rớt thê thảm" (Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, PLTP, 10-7-2010). Một cựu quan chức nông nghiệp, chuyên gia lão luyện về lúa gạo, ông Trần Đức Tụng (PLTP, 3-7-2010) cũng cực lực phê phán sự độc quyền của hai tổng công ty nhà nước và cho rằng nhà nước còn phải "bù lỗ dài dài vì độc quyền xuất khẩu gạo".
Tiếng nói của hàng triệu nông dân, những góp ý của các chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này, liệu có đến tai những người có quyền quyết định? Quyết định của họ có thực sự vì dân hay vì một nhóm lợi ích quá ít ỏi về số lượng nhưng lại quá nhiều tiền và nhiều quyền?
Hai ông độc quyền này có "vai trò chủ đạo" hay không trong lĩnh vực này? Họ có phải là công cụ "nuôi ba năm dùng một giờ" như một Phó Thủ tướng tự hào nói về vai trò của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước khi nó được dùng để đối phó với những bất ổn kinh tế như lạm phát bùng nổ, khủng hoảng hay khan hiếm lương thực?
Phải lấy nông dân làm gốc
Chắc mọi người còn nhớ, vài năm trước, lúc giá gạo thế giới tăng vùn vụt, các nhóm lợi ích này đã khuyên chính phủ ra lệnh dừng xuất khẩu gạo với lý do "an ninh lương thực", nhưng thực ra là vì động cơ lợi nhuận của chính họ. Ngay khi đó GS. Võ Tòng Xuân đã lên tiếng không có vấn đề "an ninh lương thực" và khuyên hãy tiếp tục xuất để bà con nông dân được lợi. Họ đã chẳng thèm nghe.
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Tin tạm dừng xuất khẩu càng dễ làm cho giá gạo thế giới tăng nữa, càng gây khó khăn cho thị trường thế giới. Giá gạo càng tăng trên thị trường thế giới sẽ ảnh hưởng ngược trở lại thị trường nội địa của chúng ta.
Hẳn còn nhớ mấy ngày căng thẳng mà bà con ở TP Hồ Chí Minh đổ xô đi "tích trữ gạo" giữa thủ đô của lúa gạo. Chính quyền thành phố phải dùng biện pháp hành chính (hoàn toàn đúng trong lúc khủng hoảng như vậy) để lệnh cho các đại gia quốc doanh phải mở kho. Rồi họ làm gì? Họ mang gạo hẩm ra thị trường, đến nỗi chính quyền thành phố lại phải can thiệp, không nhận gạo của họ.
Đấy là ứng xử có thể hiểu được của các trùm tư bản thời chủ nghĩa tư bản hoang dã (không thể là hành xử của các ông doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong một đất nước nơi nhà nước là “của dân, do dân và vì dân” ở đầu thế kỷ hai mươi mốt).
Hãy nhìn vào những việc có thực đó, mổ xẻ, tìm nguyên nhân và tìm cách cải thiện. Hai ông độc quyền này không phải là giải pháp của ngành lúa gạo. Đã đến lúc nhà nước phải xem lại cách quản lý của mình về lúa gạo trên cơ sở lấy nông dân làm gốc, chứ không phải đi ưu ái cho vài ông quốc doanh độc quyền "giữ vai trò chủ đạo".
Nguyễn Quang A
Gạo VN bị Nhật cảnh cáo
Sau một loạt lô hàng thủy sản VN sang thị trường Nhật Bản bị phát hiện có dư lượng kháng sinh, nay đến lượt gạo. Nếu không giải quyết tốt vụ việc có khả năng gạo VN cũng sẽ giống thủy sản.
Bộ Thương mại Việt Nam cho biết vừa qua đã nhận được thông báo của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản về việc hải quan Nhật Bản phát hiện một số lô hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam vi phạm về qui định vệ sinh an toàn thực phẩm của nước này. Theo đó, hai lô hàng có trọng lượng gần 300.000 kg gạo tẻ bị phát hiện có dư lượng acetarmiprid cao, 0,03 ppm, cao gấp ba lần tiêu chuẩn cho phép là 0,01ppm. Hai lô hàng được tàu Stella Cosmo vận chuyển đến Nhật vào ngày 1/5/2007 sau khi rời cảng Việt Nam vào ngày 22/4/2007.
Theo Bộ Thương mại, hai lô hàng này vẫn đang bị giữ tại cảng của Nhật và sẽ bị kiểm tra theo lệnh của Bộ Y tế, Lao động và Phúc Lợi Nhật Bản, tức sẽ bị kiểm tra 30% lô hàng. Hai lô hàng trên thuộc hợp đồng trúng thầu cho Chính phủ Nhật Bản với tổng sản lượng trên 30.000 tấn.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Tổng thư ký Hiệp hội lương thực Việt Nam, cho biết đã được cơ quan Việt Nam thông tin về vụ việc xảy ra ở Nhật. Tuy nhiên, bà nói rằng hiệp hội chưa nhận được phản ánh của khách hàng về những lô hàng nói trên.
“Cho đến nay, những lô hàng gạo xuất khẩu vào thị trường Nhật đã được thanh toán đầy đủ nhưng chúng tôi không nhận được phản ánh hay phàn nàn nào về dư lượng từ phía đối tác”, bà Nguyệt nói.
Theo bà Nguyệt, thị trường Nhật rất khó tính về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm nên các nhà xuất khẩu Việt Nam rất cẩn thận và việc kiểm tra được tiến hành rất nghiêm ngặt từ khâu kiểm tra hàng ở Việt Nam, thậm chí cả đối với dư lượng chất trừ sâu vốn được sử dụng khá nhiều trong gieo trồng lúa gạo ở Việt Nam.
Bà còn cho biết thêm rằng các mẫu gạo được kiểm tra không chỉ ở Việt Nam mà còn được đưa sang Thái Lan và cả Nhật Bản để kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm trước khi lô hàng được xuất khẩu.
Mặc dù phát hiện ra những lô hàng vi phạm nhưng cơ quan chức năng của Nhật Bản chưa xác định được lô hàng trên thuộc công ty nào. Gạo Việt Nam xuất sang Nhật do nhiều nguồn cung cấp khác nhau và thông qua đầu mối Tổng công ty Lương thực miền Nam. Chính vì vậy, việc xác định lô hàng trên đối với phía Nhật cực kỳ khó khăn.
Theo bà Nguyệt, theo yêu cầu của Bộ Thương mại, Hiệp hội cũng tiến hành kiểm tra nhưng bà nói rằng việc truy tìm nguồn gốc đơn vị cung cấp gạo cũng rất khó khăn. Bộ Y tế, Lao động và Phúc Lợi Nhật yêu cầu phía Việt Nam phối hợp để truy xuất nguồn gốc gạo.
Theo Bộ Thương mại Việt Nam, việc phát hiện những lô hàng có dư lượng acetarmiprid cao sẽ ảnh hưởng đến uy tín chung và việc xuất khẩu gạo của Việt Nam, mặt hàng xuất khẩu chủ lực quốc gia.
Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã trúng thầu ít nhất là ba đợt với tổng sản lượng trên 45.000 tấn bao gồm gạo tẻ và nếp. Giá trúng thầu của đợt cuối cùng là 52.804 Yên Nhật/tấn tương đương 459,16 USD/tấn.
Năm ngoái, Việt Nam trúng thầu 120.000 tấn, trong đó khoảng 3.000 tấn gạo nếp trong khi năm 2005 chỉ gần 80.000 tấn, trong đó 80 tấn gạo nếp.
Từ năm 2002, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Nhật thông qua những cuộc đấu thầu do Chính phủ Nhật tổ chức như thế và kể từ đó lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam qua từ thị trường này càng tăng.
Theo Minh Quang
Vneconomy
"Việt Nam có thể là nước xuất khẩu gạo hàng đầu"
thứ tư, 30/06/2010, 10:53 (GMT + 7)
Theo Hiệp hội Các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, Việt Nam có thể vượt Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới trước năm 2015 do giá gạo của Thái Lan cao hơn.
Hãng tin Bloomberg dẫn lời ông Chookiat Ophaswongse, cựu Chủ tịch và hiện là cố vấn Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan, cho biết khối lượng gạo xuất khẩu của nước này có thể giảm xuống tám triệu tấn trong năm nay. Năm 2009, Thái Lan xuất khẩu 8,6 triệu tấn gạo trong khi Việt Nam xuất khẩu sáu triệu tấn.
Tuy nhiên, giá gạo của Thái Lan và Việt Nam ngày càng chênh lệch. Theo bảng theo dõi giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, giá gạo loại 5% tấm của Thái Lan trong năm 2008 cao hơn 68 USD so với gạo cùng loại của Việt Nam, nhưng đến năm 2009 thì mức chênh lệch này lên tới 123 USD.
Ngoài ra, giá đồng tiền của Việt Nam giảm từ cuối năm 2008 đã khiến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm so với cách đây hai năm, trong khi giá trị đồng baht của Thái Lan lại tăng từ 33,5 baht/1 USD lên 32,3 baht/1 USD trong cùng thời gian.
Ông Rut Subniran, Giám đốc điều hành Công ty xuất khẩu Herba Bangkok S.L., và ông Chookiat cũng cho biết chi phí vận chuyển, chi phí lao động và các chi phí hậu cần khác ở Việt Nam cũng thấp hơn so với ở Thái Lan.
Tại một cuộc hội thảo mới đây, ông Chookiat đã nhấn mạnh rằng Thái Lan có thể sẽ không còn là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới trong năm năm nữa vì không thể tiếp tục cạnh tranh được với Việt Nam.
Theo số liệu đăng trên trang web của Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế, từ năm 1980 Thái Lan đã vượt Mỹ trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, trong khi xuất khẩu gạo của Việt Nam đến năm 1988 mới vượt con số một triệu tấn sau khi chính phủ áp dụng chính sách kinh tế định hướng thị trường nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp.
Tạo thương hiệu cho hạt gạo Việt Nam
ND- Một tin khá "chấn động" của hoạt động giao thương vào cuối tháng 6 vừa qua: Việt Nam sắp đứng đầu bảng về xuất khẩu gạo. Chủ tịch danh dự Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái-lan, Chukiat thừa nhận: Thái-lan đang đối mặt trực diện với nguy cơ đánh mất ngôi vua xuất khẩu gạo vào tay Việt Nam trong cuộc đua chiếm lĩnh thị trường gạo thế giới.
Lợi thế giá rẻ
Chỉ trong 25 ngày đầu tháng 6-2010 xuất khẩu gạo Việt Nam đạt gần 478 nghìn tấn, trị giá gần 198 triệu USD. Lũy kế xuất khẩu gạo từ ngày 1-1 đến 25-6-2010 là 3.165.833 tấn, đạt trị giá 1,418 tỷ USD. Giá gạo xuất khẩu năm tháng đầu năm nay đã đạt trung bình 454 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2009.
Tại thị trường gạo Ðông-Nam Á, sản lượng xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh trong những năm qua. Riêng năm 2009, lượng gạo của Việt Nam xuất sang Ma-lai-xi-a đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 2008 và hoàn toàn làm chủ thị trường này. Tại thị trường Phi-li-pin, các nhà xuất khẩu gạo Thái-lan hoàn toàn bị lép vế so với Việt Nam khi lượng gạo từ Băng-cốc xuất sang thị
trường này chỉ bằng 1/10 so với nước ta. Trên thị trường thế giới năm 2009, khoảng cách giữa Việt Nam và Thái-lan ngày càng được thu hẹp đáng kể. Theo các nhà phân tích thị trường gạo Thái-lan, sở dĩ cán cân xuất khẩu gạo thay đổi nhanh chóng như trên là vì Việt Nam có lợi thế về giá thành rẻ. Nhờ giá nhân công rẻ, chi phí sản xuất một tấn gạo trắng tại Việt Nam mất 360 USD, trong khi Thái-lan mất 500 USD.
Mức chênh lệch về giá của cùng loại gạo do Việt Nam và Thái-lan xuất khẩu đang ngày càng lớn. Theo số liệu của Cơ quan Nông lương Liên hợp quốc (FAO), vào năm 2007, loại gạo 5% tấm của Thái-lan đắt hơn của Việt Nam 12 USD/tấn. Tới năm 2008, mức chênh này là 68 USD/tấn, và năm nay đã lên tới 123 USD/tấn.
Nâng cao giá trị hạt gạo để xây dựng thương hiệu
Tuy lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng và hiện nay đang đứng trước cơ hội chiếm lĩnh ngôi vị dẫn đầu thế giới, nhưng giá xuất khẩu gạo Việt Nam lại đang đứng chót thế giới. Dù được lợi thế về giá nhưng năng lực cạnh tranh về chất lượng của hạt gạo Việt Nam kém gạo Thái-lan.
Gạo Việt Nam hạt không đồng nhất, mau xuống mầu, không thương hiệu cũng như không thể truy nguyên nguồn gốc từ cánh đồng nào, tỉnh nào. Các chuyên gia về lúa gạo khu vực nhận xét: Nông dân Việt Nam mạnh ai nấy làm, cho nên dù có cùng cánh đồng nhưng quá nhiều giống lúa. Theo các chuyên gia, cần phải tổ chức sản xuất theo hướng cánh đồng một giống gắn với tập huấn nâng cao kỹ năng ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến. GS, TS Võ Tòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học An Giang, đồng thời là nhà khoa học nổi tiếng Ðông-Nam Á về lúa gạo, cho rằng doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần chung lưng với nông dân tạo được vùng nguyên liệu đủ lớn để có thể chủ động về sản lượng bên cạnh đó cũng dễ dàng thực hiện các quy trình canh tác theo nhóm giống, tiểu vùng sinh thái; quy trình, kỹ thuật sau thu hoạch; quản lý kinh tế hộ; tiếp thị quảng bá. Có vậy sẽ tạo được thương hiệu cho gạo Việt Nam bởi chủ động được chất lượng gạo đồng đều, thuần chủng.
Hiện nay, nông dân trồng nhiều giống lúa chất lượng cao, nhưng khi mua lúa, thương lái cũng như doanh nghiệp sợ tốn kém không phân loại ngay từ đầu để các loại chung với nhau. Khi xuất khẩu, các nước thường tính giá theo tỷ lệ tấm, không có giá riêng. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bùi Bá Bổng cũng cho rằng, gạo Việt Nam vẫn thua Thái-lan trong khâu chế biến. Nông dân chỉ mong bán được giá cao, nhưng vì khâu thu mua, tồn trữ, chế biến không làm tốt nên thường giá chỉ đạt được ở mức thấp. Bên cạnh đó vấn đề sản xuất gạo an toàn cũng là điều cần chú trọng. Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Trương Thanh Phong cho rằng: Nhu cầu gạo thế giới ngày một tăng, nhưng các nước nhập khẩu dù thiếu ăn vẫn lấy rào cản về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm làm rào cản gia nhập thị trường của gạo Việt Nam. Do vậy, nông dân cần chú trọng khâu sản xuất an toàn, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Một trong những giải pháp tối ưu được nhiều chuyên gia nêu ra trong các diễn đàn về xây dựng thương hiệu cho hạt gạo Việt Nam đó là tạo mối liên kết bền vững giữa "bốn nhà" (Nhà nước - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - nhà nông). Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ÐBSCL- Trường đại học Cần Thơ cho rằng: "Việc liên kết bốn nhà cần dựa theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm hài hòa lợi ích các bên. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần chọn thị trường, nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng ở thị trường đó để đặt hàng cho nông dân sản xuất loại giống mình cần và nhà khoa học cũng sẽ tham gia trong việc nghiên cứu, lai tạo chọn giống hỗ trợ cho nông dân. Nhà nước cần đóng vai trò quyết định trong việc phân phối, điều hòa lợi ích" PHAN THANH PHONG
Sau một loạt lô hàng thủy sản VN sang thị trường Nhật Bản bị phát hiện có dư lượng kháng sinh, nay đến lượt gạo. Nếu không giải quyết tốt vụ việc có khả năng gạo VN cũng sẽ giống thủy sản.
Bộ Thương mại Việt Nam cho biết vừa qua đã nhận được thông báo của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản về việc hải quan Nhật Bản phát hiện một số lô hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam vi phạm về qui định vệ sinh an toàn thực phẩm của nước này. Theo đó, hai lô hàng có trọng lượng gần 300.000 kg gạo tẻ bị phát hiện có dư lượng acetarmiprid cao, 0,03 ppm, cao gấp ba lần tiêu chuẩn cho phép là 0,01ppm. Hai lô hàng được tàu Stella Cosmo vận chuyển đến Nhật vào ngày 1/5/2007 sau khi rời cảng Việt Nam vào ngày 22/4/2007.
Theo Bộ Thương mại, hai lô hàng này vẫn đang bị giữ tại cảng của Nhật và sẽ bị kiểm tra theo lệnh của Bộ Y tế, Lao động và Phúc Lợi Nhật Bản, tức sẽ bị kiểm tra 30% lô hàng. Hai lô hàng trên thuộc hợp đồng trúng thầu cho Chính phủ Nhật Bản với tổng sản lượng trên 30.000 tấn.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Tổng thư ký Hiệp hội lương thực Việt Nam, cho biết đã được cơ quan Việt Nam thông tin về vụ việc xảy ra ở Nhật. Tuy nhiên, bà nói rằng hiệp hội chưa nhận được phản ánh của khách hàng về những lô hàng nói trên.
“Cho đến nay, những lô hàng gạo xuất khẩu vào thị trường Nhật đã được thanh toán đầy đủ nhưng chúng tôi không nhận được phản ánh hay phàn nàn nào về dư lượng từ phía đối tác”, bà Nguyệt nói.
Theo bà Nguyệt, thị trường Nhật rất khó tính về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm nên các nhà xuất khẩu Việt Nam rất cẩn thận và việc kiểm tra được tiến hành rất nghiêm ngặt từ khâu kiểm tra hàng ở Việt Nam, thậm chí cả đối với dư lượng chất trừ sâu vốn được sử dụng khá nhiều trong gieo trồng lúa gạo ở Việt Nam.
Bà còn cho biết thêm rằng các mẫu gạo được kiểm tra không chỉ ở Việt Nam mà còn được đưa sang Thái Lan và cả Nhật Bản để kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm trước khi lô hàng được xuất khẩu.
Mặc dù phát hiện ra những lô hàng vi phạm nhưng cơ quan chức năng của Nhật Bản chưa xác định được lô hàng trên thuộc công ty nào. Gạo Việt Nam xuất sang Nhật do nhiều nguồn cung cấp khác nhau và thông qua đầu mối Tổng công ty Lương thực miền Nam. Chính vì vậy, việc xác định lô hàng trên đối với phía Nhật cực kỳ khó khăn.
Theo bà Nguyệt, theo yêu cầu của Bộ Thương mại, Hiệp hội cũng tiến hành kiểm tra nhưng bà nói rằng việc truy tìm nguồn gốc đơn vị cung cấp gạo cũng rất khó khăn. Bộ Y tế, Lao động và Phúc Lợi Nhật yêu cầu phía Việt Nam phối hợp để truy xuất nguồn gốc gạo.
Theo Bộ Thương mại Việt Nam, việc phát hiện những lô hàng có dư lượng acetarmiprid cao sẽ ảnh hưởng đến uy tín chung và việc xuất khẩu gạo của Việt Nam, mặt hàng xuất khẩu chủ lực quốc gia.
Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã trúng thầu ít nhất là ba đợt với tổng sản lượng trên 45.000 tấn bao gồm gạo tẻ và nếp. Giá trúng thầu của đợt cuối cùng là 52.804 Yên Nhật/tấn tương đương 459,16 USD/tấn.
Năm ngoái, Việt Nam trúng thầu 120.000 tấn, trong đó khoảng 3.000 tấn gạo nếp trong khi năm 2005 chỉ gần 80.000 tấn, trong đó 80 tấn gạo nếp.
Từ năm 2002, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Nhật thông qua những cuộc đấu thầu do Chính phủ Nhật tổ chức như thế và kể từ đó lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam qua từ thị trường này càng tăng.
Theo Minh Quang Vneconomy
Tạo thương hiệu cho hạt gạo Việt Nam
ND- Một tin khá "chấn động" của hoạt động giao thương vào cuối tháng 6 vừa qua: Việt Nam sắp đứng đầu bảng về xuất khẩu gạo. Chủ tịch danh dự Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái-lan, Chukiat thừa nhận: Thái-lan đang đối mặt trực diện với nguy cơ đánh mất ngôi vua xuất khẩu gạo vào tay Việt Nam trong cuộc đua chiếm lĩnh thị trường gạo thế giới. Lợi thế giá rẻ Chỉ trong 25 ngày đầu tháng 6-2010 xuất khẩu gạo Việt Nam đạt gần 478 nghìn tấn, trị giá gần 198 triệu USD. Lũy kế xuất khẩu gạo từ ngày 1-1 đến 25-6-2010 là 3.165.833 tấn, đạt trị giá 1,418 tỷ USD. Giá gạo xuất khẩu năm tháng đầu năm nay đã đạt trung bình 454 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2009. Tại thị trường gạo Ðông-Nam Á, sản lượng xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh trong những năm qua. Riêng năm 2009, lượng gạo của Việt Nam xuất sang Ma-lai-xi-a đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 2008 và hoàn toàn làm chủ thị trường này. Tại thị trường Phi-li-pin, các nhà xuất khẩu gạo Thái-lan hoàn toàn bị lép vế so với Việt Nam khi lượng gạo từ Băng-cốc xuất sang thị trường này chỉ bằng 1/10 so với nước ta. Trên thị trường thế giới năm 2009, khoảng cách giữa Việt Nam và Thái-lan ngày càng được thu hẹp đáng kể. Theo các nhà phân tích thị trường gạo Thái-lan, sở dĩ cán cân xuất khẩu gạo thay đổi nhanh chóng như trên là vì Việt Nam có lợi thế về giá thành rẻ. Nhờ giá nhân công rẻ, chi phí sản xuất một tấn gạo trắng tại Việt Nam mất 360 USD, trong khi Thái-lan mất 500 USD. Mức chênh lệch về giá của cùng loại gạo do Việt Nam và Thái-lan xuất khẩu đang ngày càng lớn. Theo số liệu của Cơ quan Nông lương Liên hợp quốc (FAO), vào năm 2007, loại gạo 5% tấm của Thái-lan đắt hơn của Việt Nam 12 USD/tấn. Tới năm 2008, mức chênh này là 68 USD/tấn, và năm nay đã lên tới 123 USD/tấn. Nâng cao giá trị hạt gạo để xây dựng thương hiệu Tuy lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng và hiện nay đang đứng trước cơ hội chiếm lĩnh ngôi vị dẫn đầu thế giới, nhưng giá xuất khẩu gạo Việt Nam lại đang đứng chót thế giới. Dù được lợi thế về giá nhưng năng lực cạnh tranh về chất lượng của hạt gạo Việt Nam kém gạo Thái-lan. Gạo Việt Nam hạt không đồng nhất, mau xuống mầu, không thương hiệu cũng như không thể truy nguyên nguồn gốc từ cánh đồng nào, tỉnh nào. Các chuyên gia về lúa gạo khu vực nhận xét: Nông dân Việt Nam mạnh ai nấy làm, cho nên dù có cùng cánh đồng nhưng quá nhiều giống lúa. Theo các chuyên gia, cần phải tổ chức sản xuất theo hướng cánh đồng một giống gắn với tập huấn nâng cao kỹ năng ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến. GS, TS Võ Tòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học An Giang, đồng thời là nhà khoa học nổi tiếng Ðông-Nam Á về lúa gạo, cho rằng doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần chung lưng với nông dân tạo được vùng nguyên liệu đủ lớn để có thể chủ động về sản lượng bên cạnh đó cũng dễ dàng thực hiện các quy trình canh tác theo nhóm giống, tiểu vùng sinh thái; quy trình, kỹ thuật sau thu hoạch; quản lý kinh tế hộ; tiếp thị quảng bá. Có vậy sẽ tạo được thương hiệu cho gạo Việt Nam bởi chủ động được chất lượng gạo đồng đều, thuần chủng. Hiện nay, nông dân trồng nhiều giống lúa chất lượng cao, nhưng khi mua lúa, thương lái cũng như doanh nghiệp sợ tốn kém không phân loại ngay từ đầu để các loại chung với nhau. Khi xuất khẩu, các nước thường tính giá theo tỷ lệ tấm, không có giá riêng. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bùi Bá Bổng cũng cho rằng, gạo Việt Nam vẫn thua Thái-lan trong khâu chế biến. Nông dân chỉ mong bán được giá cao, nhưng vì khâu thu mua, tồn trữ, chế biến không làm tốt nên thường giá chỉ đạt được ở mức thấp. Bên cạnh đó vấn đề sản xuất gạo an toàn cũng là điều cần chú trọng. Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Trương Thanh Phong cho rằng: Nhu cầu gạo thế giới ngày một tăng, nhưng các nước nhập khẩu dù thiếu ăn vẫn lấy rào cản về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm làm rào cản gia nhập thị trường của gạo Việt Nam. Do vậy, nông dân cần chú trọng khâu sản xuất an toàn, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Một trong những giải pháp tối ưu được nhiều chuyên gia nêu ra trong các diễn đàn về xây dựng thương hiệu cho hạt gạo Việt Nam đó là tạo mối liên kết bền vững giữa "bốn nhà" (Nhà nước - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - nhà nông). Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ÐBSCL- Trường đại học Cần Thơ cho rằng: "Việc liên kết bốn nhà cần dựa theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm hài hòa lợi ích các bên. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần chọn thị trường, nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng ở thị trường đó để đặt hàng cho nông dân sản xuất loại giống mình cần và nhà khoa học cũng sẽ tham gia trong việc nghiên cứu, lai tạo chọn giống hỗ trợ cho nông dân. Nhà nước cần đóng vai trò quyết định trong việc phân phối, điều hòa lợi ích".
6 tháng đầu năm, mặc dù Việt Nam xuất khẩu hơn 3 triệu tấn gạo - đạt 50% kế hoạch cả năm, nhưng so với cùng kỳ năm 2009, gạo xuất khẩu của Việt Nam đã bị sụt giảm khoảng 12% về khối lượng và xấp xỉ 30% về giá trị. Bên cạnh lý do dự báo sai lệch về thị trường cũng như nguồn cung thì nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm giảm cả về lượng và giá chính là khó khăn trong việc triển khai các hợp đồng xuất khẩu.
Dự báo lệch, giảm cả số lượng lẫn giá cả
Nhìn lại công tác dự báo hồi đầu năm, năm 2010 được nhận định là “năm vàng” của các nước xuất khẩu gạo, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả 6 tháng đầu năm cho thấy, xuất khẩu gạo đã giảm cả về số lượng và giá cả.
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục sụt giảm từ đầu năm 2010 đến nay. Nếu như giá gạo loại 5% tấm tại thời điểm tháng 12/2009 là 517 USD thì đến tháng 5 đã giảm xuống còn 358 USD/tấn (giảm 30,75%); giá gạo loại 25% tấm tại thời điểm tháng 12/2009 là 466 USD đã giảm xuống còn 335 USD/tấn tại thời điểm tháng 5 (giảm 28,11%). Giá gạo trong tháng 6 tuy có nhích lên đôi chút, xong vẫn thấp hơn rất nhiều so với thời điểm đầu năm (gạo 5% tấm: 373 USD/tấn; gạo 25% tấm: 340 USD/tấn).
Theo ông Trịnh Văn Tiến - Chuyên gia về ngành hàng lúa gạo thuộc Trung tâm Thông tin phát triển nông nghiệp - nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), có 2 nguyên nhân cơ bản cần đặc biệt lưu ý. Thứ nhất, là do dự báo sai lệch: Cuối năm 2009, trước thông tin Ấn Độ, Indonesia bị mất mùa và hiện tượng El Nino có thể xảy ra ở nhiều nước trồng lúa, giới truyền thông đã dẫn lời nhận định của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho rằng, năm 2010 là một năm cung thấp hơn cầu về lúa gạo.
Tuy nhiên, diễn biến thị trường gạo thế giới 6 tháng đầu năm nay cho thấy tình hình diễn ra hoàn toàn ngược lại so với dự báo. Ấn Độ tuy bị mất mùa vụ Kharif, nhưng sản lượng sụt giảm thấp hơn nhiều so với dự báo trước đó. Indonesia đang cân nhắc khả năng tham gia thị trường xuất khẩu gạo, mặc dù trước đó họ đóng cửa thị trường xuất khẩu gạo. Trong khi đó, Thái Lan và Việt Nam đang tồn đọng gạo xuất khẩu với khối lượng lớn.
Một nguyên nhân cơ bản nữa được ông Trịnh Văn Tiến nhấn mạnh, đó là: “Hợp đồng giao hàng 6 tháng đầu năm chủ yếu là hợp đồng chính phủ, việc triển khai gặp khó khăn do đối tác trì hoãn giao nhận hàng cũng như tạm ngưng triển khai đấu thầu các hợp đồng mới khi có thông tin sản lượng gạo đã tăng lên sau vụ đông xuân ở Thái Lan, Việt Nam và Indonesia. Hợp đồng thương mại cũng khó triển khai do trên thị trường có thêm sự tham gia của Bangladesh, Myanmar cạnh tranh trực tiếp với dòng sản phẩm gạo chất lượng thấp và trung bình của Việt Nam”.
Xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam
Dự báo, 6 tháng cuối năm này, xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Về sản lượng 6 triệu tấn có thể đạt được, nhưng về kim ngạch xuất khẩu có thể sẽ bị giảm sút. Hiện tại, Việt Nam và Thái Lan đang còn tồn đọng một lượng gạo xuất khẩu khá lớn, do đó sức ép về cung là rất lớn, do vậy, nhiều khả năng giá gạo xuất khẩu sẽ còn tiếp tục hạ xuống.
Ông Lê Văn Hùng, Phó Giám đốc Sở Công thương Cần Thơ nhận định: “Nhìn chung, tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ gặp khó khăn vì nhiều nước được mùa, nên nhập khẩu sẽ không nhiều. Bên cạnh đó, nếu Thái Lan tung gạo ra nhiều thì xuất khẩu của Việt Nam sẽ càng khó khăn hơn. Do đó, hiện ta đang nhắm tới thị trường châu Phi, thị trường này hiện đang có nhu cầu cao về gạo. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý khi thanh toán quốc tế, vì phương thức thanh toán của nhiều nước châu Phi còn lạc hậu. DN bán rồi cả năm sau mới thu được vốn thì sẽ rất khó khăn. Mặt khác, Chính phủ cần tìm thêm đầu ra, nếu không, vụ hè thu sẽ ế, nông dân sẽ gặp khó khăn”.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, một số doanh nghiệp xuất khẩu gạo đang tìm cách tiếp cận thị trường Brazil và Nam Mỹ. Nếu khai thông được thị trường này, tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam từ nay đến cuối năm sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, đây là một thị trường hoàn toàn mới, thị hiếu của người tiêu dùng ở các thị trường này cũng chưa rõ ràng, nên khả năng thành công cũng chưa thể dự đoán trước được. Thị trường khu vực Trung Đông và châu Phi tiêu dùng gạo đồ và các loại gạo Basmati là chủ yếu nên chúng ta rất khó cạnh tranh với những nước sản xuất loại gạo này là Thái Lan, Pakistan và Ấn Độ.
Trước những dự báo về khả năng khó khăn trong xuất khẩu gạo thời gian tới sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp xuất khẩu và người nông dân, ông Nguyễn Văn Phong, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh kiến nghị: “Nhà nước hỗ trợ về vốn để thu mua, dự trữ lúa gạo, để DN không bị ép giá. Nếu vốn ít, phải vay ngân hàng với lãi suất cao, thì DN nước ta cạnh tranh không được với nước ngoài”.
Có một nghịch lý trong sản xuất lúa gạo lâu nay là nông dân không được quyền định giá mà rơi vào tay thương lái. Điều này cho thấy vai trò điều hành trong xuất khẩu gạo của ta còn có rất nhiều vấn đề đáng bàn. Chính phủ cũng đã đặt ra yêu cầu phải đảm bảo nông dân có lãi 30% trong sản xuất lúa gạo. Điều này khó có thể trở thành hiện thực nếu không có một giải pháp đồng bộ cho vấn đề sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam.
Nhiều chuyên gia cho rằng, bên cạnh việc quan tâm về mức độ đầu tư cho sản xuất lúa gạo, cung cấp thông tin thị trường, cần đặc biệt quan tâm đến xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam, bởi hiện nay gạo Việt Nam xuất khẩu đi các thị trường thế giới đều phải qua các trung gian. Làm được điều này mới có thể nâng được giá trị của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.
Nguồn:VOV
Ghi chú tòa soạn: Mặc dầu nông dân VN chăm chỉ và tài năng hạng nhất thế giới nhưng các quan chức VC chỉ giõi tham nhũng hơn là tìm thị trường, họ thấy cái gì cũng khó chỉ trừ nhận tiền hối lộ!