Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 29289642

 
Tin tức - Sự kiện 09.06.2026 14:10
Đảng CSVN tiếp tay bán nước cho TQ
15.03.2014 04:23

Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng

Đà Nẵng là một thành phố mà ông Nguyễn Bá Thanh, cựu chủ tịch Đà Nẵng từng tuyên bố là thành phố không có người ăn xin, không có trộm cắp, không có xì ke ma túy và không có người nghèo…

 Thế nhưng, không có quan điểm nào đưa ra nhằm khẳng định Đà Nẵng không bị Trung Quốc xâm thực. Chính vì thế, ngay trên hai con đường có tên Hoàng Sa và Trường Sa chạy dọc theo bờ biển Đà Nẵng, các biệt khu của người Tàu cùng với hàng trăm quán sá mang biển hiệu Tàu mọc lên dày đặc.

Đâu rồi Đà Nẵng xưa?

Lệnh của TQ buộc  thuyên chuyển Nguyễn Bá Thanh ra Hà Nộđể thao túng ĐNi

.Đó là chưa muốn nói rằng hai con đường với bãi cát vàng trải dài, rừng dừa xanh miên man theo gió biển đã hoàn toàn không còn mang dáng dấp nguyên sơ của nó bởi mùi hôi thối nồng nặc của cống rãnh cộng với mùi thức ăn Tàu vốn chặt to kho mặn bốc ra từ các nhà hàng Tàu đã khiến cho bất kì người Việt nào đi qua hai con đường này cũng phải bụm mũi và ngỡ ngàng không biết mình đang đi lạc vào khu phố ổ chuột nào đó ở nước Trung Quốc xa xôi.

Một người dân Đà nẵng bức xúc nói: “Chuyện cũ thời xưa, tối tối ra đường, nó đi đầy đường. Tất cả các quán ven ven đều có bảng hiệu Tàu hết rồi mà, thực đơn cũng chữ Tàu hết mà!”

Vào vai những du khách xứ Bắc ghé thăm xứ Quảng, chúng tôi dạo một vòng trên đường Hoàng Sa, con đường mà theo một người dân sống lâu năm ở đây nói rằng ông Nguyễn Bá Thanh thời còn làm chủ tịch thành phố đã dành riêng cho việc tiếp đón và lưu trú của khách cấp nhà nước Trung Quốc nhằm khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, có riêng tên đường và có riêng đơn vị hành chính hẳn hoi. Chuyện này hư thực ra sao chưa rõ.

Thế nhưng chưa đầy một năm sau khi ông Nguyễn Bá Thanh rời chức vị chủ tịch thành phố Đà Nẵng để ra Hà Nội nhậm chức Trưởng Ban Nội Chính Trung Ương thì mọi việc đã hoàn toàn thay đổi, con đường này trở thành biệt khu của người Tàu, mọi hoạt động ở đây đều mang dáng dấp của một thành phố Trung Hoa thu nhỏ.

da-nang-2-250.jpg
Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng. RFA PHOTO.

Một người dân khác, tên Oanh, sống ở Đà nẵng lâu năm, chia sẻ với chúng tôi thêm về người Tàu ở thành phố này, bà Oanh cho biết, những năm trước 1980, thành phố Đà Nẵng vốn có rất nhiều người Tàu sống ở đây, họ là hậu duệ của những vị tướng Tàu “phản Thanh phục Minh”, xuôi thuyền sang Thuận Hóa, tức Huế bây giờ để xin triều đình nhà Nguyễn cho họ lưu trú, tránh nạn diệt vong trên quê hương của họ. Sống lâu năm, họ tổ chức thành hội, đoàn, có tổ chức Minh Hương hẳn hoi. Thế nhưng, chiến tranh Việt – Trung năm 1979 đã khiến họ đồng loạt quay về Trung Hoa theo lời hiệu triệu của chính phủ Trung Hoa thời bấy giờ.

Điều này cho thấy người Tàu dù đã sống lâu năm ở đất Việt Nam, họ vẫn tôn thờ Mao Trạch Đông, vẫn đau đáu về cố quốc và chưa bao giờ xem Việt Nam là quê hương, là tổ quốc thứ hai của họ giống như người Việt sang Mỹ lưu vong đã xem đất Mỹ là ân nhân, là quê hương yêu dấu thứ hai của mình. Chính vì thế, khi người Tàu xuất hiện dày đặc ở Đà Nẵng, điều này khiến cư dân Đà Nẵng cảm thấy lo ngại và bất an bởi chính sách bành trướng của họ.

Thả con tép câu con tôm

Một người dân Đà Nẵng khác tên Dũng, chia sẻ với chúng tôi rằng ông thấy người Tàu quá nguy hiểm, họ đã dễ dàng qua mặt nhà cầm quyền cũng như qua mặt nhân dân ở đây. Ông này nói thêm là thực ra, người Tàu trở lại Đà Nẵng không phải mới mẽ gì, họ sang đây đã ngót nghét mười năm trên danh nghĩa đi đầu tư kinh doanh, và hệ quả là những mảnh đất vàng, những điểm trọng yếu dọc bờ biến Đà Nẵng nhanh chóng trở thành khu xây dựng bí mật của họ, có hẳn tên mới China Beach. Không có người Việt Nam nào được đến gần khu vực xây dựng của họ.

Theo ông Dũng phân tích, để có được những diện tích trọng yếu này, chắc chắn họ đã lót tay cho các quan chức không phải ít. Vì nhiều người dân Đà Nẵng mong mỏi được mua ở khu vực này nhưng không bao giờ có đủ cơ hội để mua. Nhưng người Trung Quốc đã khéo bỏ tiền ra để lấy trọn một khu vực đẹp nhất, trọng yếu nhất của Đà Nẵng để biến thành biệt khu của mình.

da-nang-3-250.jpg
Khách sạn thuộc một doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam tại Đà Nẵng. RFA PHOTO.

Và việc mua được những diện tích đất vàng ở Đà Nẵng cũng nhanh chóng kéo theo hệ quả là người dân ở khu vực này bị Tàu hóa vì động cơ kiếm tiền, không ít các cô gái ở đây sẵn sàng làm phục vụ ở các bar, nhà hàng của người Tàu vì theo họ, các ông chủ người Tàu trả tiền rất mát tay và xài rất sang. Hơn nữa, nếu không chọn làm việc cho các ông chủ người Tàu vốn sống gần nhà mình, các cô gái này phải đi làm việc trong khu công nghiệp cách nơi họ ở quá xa và đồng lương cũng còm cỏi.

Thuyền, biệt danh là “Thuyền Ba đờ ghe”, từng làm việc lâu năm với người Tàu trên đường Hoàng Sa, cho chúng tôi biết: “Họ qua mình họ ở thì đầu tiên cũng thiện cảm với mình. Nhưng khi mình đã làm việc cho họ rồi thì mình cũng không khác chi người ở cho họ thôi. Cái cách của họ với mình không thiện cảm lắm đâu. Không giống như người mình với người mình, có nghĩa là mình làm lấy lương nhưng người ta quý trọng mình. Còn họ mình làm được thì làm, không làm được thì họ nói khó chịu lắm! Không dễ đâu! Riêng ở Đà Nẵng đây thì nhiều lắm!”

Hiện tại, Thuyền không còn làm việc với người Tàu ở đây nữa, và cô cũng ngậm ngùi nhận ra rằng người chủ Trung Quốc chưa bao giờ đối xử tốt với nhân viên Việt Nam cả, một đồng xu của họ bỏ ra, bao giờ cũng ngầm chứa một phép toán bên trong mà ở đó, nếu là con gái, phải cộng trừ nhân chia cho ra đáp số bằng xác thịt, nhục dục và tiết hạnh. Còn nếu là con trai, cái giá phải trả là những đường dây ma túy, xã hội đen, làm kẻ bưng bô cho ông chủ, phải trả giá bằng sự vong nô tuyệt đối.

Điều này cho thấy các ông chủ Trung Quốc bao giờ cũng biết sử dụng đồng tiền và tùy từng tình huống mà kinh doanh nó, chiêu thức thả con tép để lấy con tôm của họ luôn đắc địa, luôn mang về cho họ phần thắng lợi. Và trên một mảnh đất, một quê hương mà kẻ ăn không hết, người làm không ra, thì những “kẻ ăn không hết” sẽ dễ dàng trở thành những tên Việt gian để đưa kẻ ngoại bang vào làm chủ, còn những “người làm không ra” sẽ rất dễ sa ngã vào những đồng tiền mị dân của kẻ thực dân mới với vỏ bọc nhà đầu tư, ông chủ tốt bụng.

Tạm biệt thành phố Đà Nẵng, chúng tôi ra thẳng sân bay và mua vé quay trở về miền Bắc, một cảm giác buồn xâm chiếm đến nghẹt thở, một nỗi bất an và trĩu nặng khi nghĩ đến chuyện trước đây, Bình Dương, Hà Tĩnh đã dày đặc người Tàu. Không ngờ, chưa bao lâu sau đó, Đà Nẵng cũng dày đặc người Tàu, rồi đây, không biết sẽ đến thành phố nào trở thành phố Tàu trên đất nước Việt Nam nữa đây? Đương nhiên là người Trung Quốc đã có mặt trên khắp ba miền đất nước! Thật là buồn khi mơ hồ nhận ra rằng mình đang lưu vong trên quê cha đất tổ của mình!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Đất Quảng Trị tràn ngập người Trung Quốc

Thêm một lần nữa, ba chữ “người Trung Quốc” làm nhức nhối một vùng đất Việt Nam, đặc biệt là những vùng duyên hải Việt Nam đang bị thâu tóm, xâu xé và chảy máu bởi những kẻ bên ngoài đóng vai nhà đầu tư nhưng thực chất, bên trọng họ ẩn chứa những mối nguy cho dân tộc. Tỉnh Quảng Trị, cũng giống như những tỉnh nghèo khác, lại bị người Trung Quốc tràn ngập xứ đất này và cũng như nhiều nơi khác, họ lại đóng vai nhà đầu tư cùng hàng loạt hành tung bí ẩn, khó hiểu và ngạo mạn, bất chấp của họ.

Những vùng đất trong tầm ngắm của TQ

Nếu như những năm cuối của thập niên 2010, nhân dân đã bức xúc vì người Trung Quốc tràn lan ở những vùng miền núi trọng yếu, vùng chiến lực quân sự của Việt Nam như Tây Nguyên Trung phần Việt Nam, các nông trường dọc theo dãy Trường Sơn, các cửa khẩu phía Bắc và những tỉnh lị cận biên giới như Bình Dương, Tây Ninh, Long An, An Giang, Cà Mau… Thì hiện tại, mức độ tràn lan của họ kinh khủng gấp trăm lần trước đây.

Nếu như ở những nơi này, người Trung Quốc có được đặc quyền đặc lợi là tha hồ khai thác, được hoạt động bí mật, người Việt Nam không được vào khu vực hoạt động của họ và họ chỉ đóng một mức thuế tượng trưng… Thì hiện tại, mức độ tràn lan của người Trung Quốc trên đất Việt Nam đã đi vào chỗ không thể kiểm soát được nữa và nhân dân càng lúc càng thấy lo ngại cho sự tung hoành của họ. Mọi vùng đất duyên hải đều có mặt người Trung Quốc.

Một người dân ven biển Quảng Trị than thở: “Quá nguy hiểm chứ, bên phía cửa Việt, cửa Tùng, tức là nó lấy danh nghĩa đầu tư kinh tế. Vậy mà bên phía chính quyền nó làm lơ, không đấu tranh là chết luôn.”

Theo người này nói, thời gian gần đây, hầu như mọi mảnh vườn ở làng Hà Tây, xã Triệu An, huyện Triệu Phong đều lâm vào nạn xâm lăng một cách trắng trợn của người Tàu và nhà cầm quyền địa phương. Nghĩa là khi người Tàu đến đây, việc đầu tiên họ làm là tìm đến các cơ quan, các quan chức để bằng mọi giá liên kết, đút lót và mua chuộc bằng được các quan chức này. Để rồi sau đó là những hành động xâm lăng.

Hành động xâm lăng của người Tàu được thực hiện theo con đường đầu tư kinh tế trá hình. Người này khẳng định đó là xâm lăng và bán nước chứ không phải đầu tư gì cả. Vì một khi đầu tư kinh tế đích thực, biểu hiện đầu tiên của việc đầu tư phải là thiện chí, thuận mua vừa bán và không có những hành tung đen tối.

Đằng này, thay vì thỏa thuận với nhân dân để mua đất, người Tàu lại mua chuộc và biến quan chức địa phương thành tay sai của họ, các quan chức địa phương nghiễm nhiên trở thành con rối trong cuộn dây giật của người Tàu. Thay vì bảo vệ nhân dân và bảo vệ quyền lợi quốc gia, bảo vệ lợi ích quốc dân, các quan chức địa phương lại bằng mọi giá bảo vệ người Tàu, xem họ như những quan thầy và bất chấp nỗi tủi nhục, đau khổ của nhân dân, họ hết dùng thủ đoạn này chuyển sang thủ đoạn khác để biến đất canh tác, đất vườn của nhân dân thành công trình của người Tàu.

Những dự án “tắc kè đổi màu”

tq-qt-2-030314-250.jpg
Tỉnh Quảng Trị, miền trung Việt Nam. RFA PHOTO.

Một người dân khác ở Quảng Trị nói: “Tức là hồi giờ nó làm ở miền Bắc, giờ nó làm ở miền Trung. Nhưng cái đó cũng phụ thuộc bên mình mà. Thế chiến lược của thằng Trung Quốc là nó đánh giữa miền Trung để nó cắt đôi miền Nam và miền Bắc ra.”

Theo một người dân khác, chuyện thu hồi đất, phù phép diện tích đất của người dân trở thành nơi xây dựng cho người Trung Quốc có những bước đi và lộ trình của nó chứ không phải là ngẫu nhiên. Cũng như ở những tỉnh khác, dường như cơ quan cầm quyền địa phương đã có chung một công thức lấy đất của dân nhân danh công trình phúc lợi xã hội, dự án nhà nước. Và theo luật nhà đất cũng như luật dân sự hiện hành, việc thu hồi đất của nhân dân để xây dựng công trình nhà nước, công trình mang tính phúc lợi xã hội là hợp lý, mức đền bù theo giá nhà nước qui định.

Có thể là một nơi mỗi khác, thủ đoạn của quan chức địa phương sẽ dích dắc cho phù hợp vùng miền, nhưng việc đầu tiên bao giờ cũng là ra thông báo, sau đó họp dân một cách tượng trưng, đưa những tay chân vào phát biểu thể hiện sự nhất trí để lôi kéo nhân dân, sau đó đến lệnh thu hồi đền bù. Và tất cả chuỗi thông báo, lệnh thu hồi đền bù này đều nhân danh lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Chính vì sự nhân danh như thế, nhân dân khó bề chống đối hoặc không đồng ý.

Và khi đất đã bị thâu tóm về tay nhà cầm quyền, lúc đó dự án sẽ đổi màu như một con tắc kè, ban đầu nó mang màu xanh của niềm hy vọng nhân dân, sau đó nó chuyển dần sang màu tía rồi lộ nguyên màu đỏ của sức mạnh độc tài, thâu tóm và lừa bịp nhân dân. Thay vì xây dựng công trình phúc lợi cho xã hội, người ta bắt đầu bán cho Trung Quốc và người Trung Quốc lại xây dựng thành những mật khu mà người Việt Nam không thể nào biết được bên trong nó chứa những gì và nó có lợi ích hay độc hại, nguy hiểm cho an ninh quốc gia gì không. Nói chung là nhân dân mù tịt trước những mật khu của người Tàu ngay trên quê hương mình.

Một người dân khác nói thêm là mức độ nguy hiểm của các mật khu Trung Quốc mà trên danh nghĩa đó là những công trình kinh tế trọng điểm, những công trình đầu tư nước ngoài triệu đô tưởng chừng như đơn giản nhưng thực tế, nó mang lại một tai biến lớn cho dân tộc.

Sở dĩ gọi là tai biến bởi ông này quan niệm rằng não trạng của cả dân tộc cũng giống như bộ não của một con người, một khi nhồi nhét quá nhiều chất độc, hoặc là nó tạo khối u, hoặc là nó tắc nghẽn động mạch và một ngày nào đó, mạch máu bùng vỡ, làm cho não bộ bị tê liệt, nhẹ thì tàn tật suốt đời, nặng thì tử vong.

Tình trạng các công trình người Tàu xuất hiện ở các vùng duyên hải miền Trung là một tình trạng đầu độc đúng nghĩa. Hoặc là các thương nhân Tàu sẽ vung tiền, kéo hàng loạt thanh niên, đặc biệt là những cô gái mới lớn, con nhà nghèo rơi vào nghề bán dâm vì mê túi tiền của họ và bị họ gài bẫy để rồi hàng loạt cô gái phải sa chân vào con đường mại dâm.

Về phần nam thanh niên, bởi học hành dang dở, thất nghiệp kéo dài nên khi có một công việc nào nhanh hái ra tiền, họ sẽ bất chấp để kiếm tiền. Và chuyện kết bè kết nhóm, tổ chức băng đảng để buôn bán ma túy và chèo kéo những thanh niên đồng lứa vào đường dây, sau đó giới thiệu cho những ông trùm người Tàu để mở rộng thị trường ma túy đang là ung nhọt nhức nhối ở Quảng Trị.

Một lần nữa, người Trung Quốc lại thành công trong chiến dịch bành trướng của họ trên đất Quảng Trị.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.



Trung Quốc đang có ý đồ gì ở Việt Nam?

Dư luận Việt Nam thể hiện qua báo chí và các diễn đàn trên mạng đang bày tỏ sự quan tâm rất lớn về hiện tượng người Trung Quốc xâm nhập sâu vào nền kinh tế Việt Nam và với cung cách đặc biệt khác thường. Câu hỏi đặt ra là phía sau những hành động đó ẩn khuất những mưu toan gì cả về kinh tế lẫn chính trị?

Kinh tế hay chính trị?

Trả lời Nam Nguyên tối 13/3/2014, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập từ Hà Nội nhận định:

“Sự lo ngại trong công luận của Việt Nam rất là lớn, tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có các đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín như người dân ở đấy nói lại, như ở Hà Tĩnh công an vào họ cũng không cho vào. Như vậy ở đấy thành ra lãnh địa của Trung Quốc rồi chứ còn gì nữa!

Và nhân kinh nghiệm ở Ukraina làm người ta cũng liên tưởng đến, nếu như ông Putin đã lấy lý do để bảo vệ kiều dân Nga ở Ukraina, thì cũng rất có thể đến một ngày nào đấy Trung Quốc lấy lý do để bảo vệ những công nhân Trung Quốc ở đấy, họ cũng sẽ làm một đòn tương tự thì lúc ấy sẽ ra làm sao?”

Nếu như ông Putin đã lấy lý do để bảo vệ kiều dân Nga ở Ukraina, thì cũng rất có thể đến một ngày nào đấy TQ lấy lý do để bảo vệ những công nhân Trung Quốc ở đấy, họ cũng sẽ làm một đòn tương tự thì lúc ấy sẽ ra làm sao? 
-TS Lê Đăng Doanh

Mô tả thực chất các hoạt động đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam mà dư luận cho là bất thường, có thể tiềm ẩn những toan tính khó hiểu. TS Lê Đăng Doanh phân tích:

“Đầu tư chính thức nước ngoài của Trung Quốc vào Việt Nam thì không lớn nhưng mà Trung Quốc vì nhiều lý do, trong đó có lý do Việt Nam xây nhà máy điện nhưng không có vốn lại vay từ quỹ xuất khẩu của Trung Quốc, cho nên phải chấp nhận nhà thầu Trung Quốc công nghệ Trung Quốc. Thứ hai nữa, Trung Quốc có những cách làm không phù hợp với luật pháp của bất kỳ nước nào là đút lót để mua lại của các doanh nghiệp Việt Nam các mỏ các khoáng sản là cái mà Trung Quốc hiện nay đang rất cần và thứ ba là Trung Quốc cũng mua lại công ty CP là công ty hiện nay chiếm 70% thị trường thức ăn gia súc của Việt Nam. Sự lo ngại của người dân Việt Nam là hiện nay Trung Quốc có những dự án ở Tây Nguyên là vùng địa bàn chiến lược về mặt quân sự cũng như về mặt chiến lược đối với Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc đầu tư vào nhiều dự án, khác với các nước khác Trung Quốc xây một khu riêng và dựng hàng rào lên kín mít và người dân không biết trong đấy họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính hay là họ định chuẩn bị cái gì đây.”

Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ bày tỏ sự đồng tình với  công luận. Theo đó, về mặt kinh tế thì Việt Nam đã lệ thuộc Trung Quốc khá nhiều mặt, nhất là tình trạng nhập siêu nặng nề. Từ trước đến nay có khá nhiều dự án của Trung Quốc vào Việt Nam không qua kênh đầu tư trực tiếp mà qua đấu thầu, trúng thầu EPC cho các nhà máy quan trọng của Việt Nam như điện, cảng biển, hóa chất….Bà Phạm Chi Lan tiếp lời:

cong_nhan_TQ-2-250
Công nhân TQ thuộc tập đoàn điện khí Dong Fang đang thi công tại VN. File photo.

“Thực tế có nhiều doanh nghiệp hoặc cá nhân Trung Quốc vào làm ăn ở Việt Nam theo kiểu không có phép tắc gì cả và gây ra những nhiễu loạn trong xã hội cũng như gây thiệt hại cho người Việt Nam rất nhiều. Như chuyện họ đi nuôi tôm nuôi cá ở vùng biển Khánh Hòa, hoặc đi thuê người dân trồng khoai lang ở Vĩnh Long hoặc là đi thu mua các loại rễ cây, sừng móng trâu bò v..v.. Những câu chuyện gần như là những câu chuyện thường kỳ trên báo chí rồi.

Ngoài ra lượng người Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp vào Việt Nam và làm việc ở Việt Nam hiện nay cũng quá nhiều qua các nhà máy các công trình khác nhau. Họ vào Việt Nam không có phép tắc gì cả. Thí dụ báo chí gần đây nói, họ vào một nhà máy điện, chính quyền địa phương yêu cầu phải làm thủ tục để xin visa làm việc, xin phép cho người lao động của Trung Quốc ở đó. Nhưng người ta cứ thản nhiên bỏ mặc tất cả những yêu cầu của chính quyền cứ để người của người ta vào Việt Nam không có phép tắc gì cả. Tất cả những chuyện đó cộng với tất cả những vấn đề về biên giới về biển đảo mà Trung Quốc càng ngày càng lấn và tỏ thái độ ngang ngược hơn thì chắc chắn nó gây mối lo ngại cho người việt Nam. Điều lo ngại của người Việt Nam là hoàn toàn chính đáng và cảnh báo ngay là điều hết sức cần thiết hiện nay.”

Cần có hành động gì?

Đáp câu hỏi của Nam Nguyên là đứng trước những sự báo động cả về kinh tế lẫn chính trị mà công luận quan tâm, người Việt Nam sẽ phải có hành động gì. TS Lê Đăng Doanh phát biểu:

Rõ ràng bây giờ cần phải có một báo cáo ra Quốc hội về thực trạng các đầu tư của Trung Quốc như thế nào, thực trạng họ làm gì. 
-TS Lê Đăng Doanh

“Rõ ràng bây giờ cần phải có một báo cáo ra Quốc hội về thực trạng các đầu tư của Trung Quốc như thế nào, thực trạng họ làm gì, những người nào có phép, những người nào không có phép và nếu như họ vào đây mà họ dựng hàng rào, họ không cho công an vào kiểm soát, chúng ta không biết họ ở trong đó họ xây dựng nhà máy hay họ đào công sự thì đấy là điều hết sức nguy hiểm. Tôi rất mong Quốc hội kỳ này họp sẽ có ý kiến và sẽ yêu cầu Chính phủ báo cáo về những tình hình đó và công bố công khai cho dân biết… Quốc hội sẽ có những quyết định và biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam.”

Báo Đất Việt o­nline ngày 11/3 đưa lên mạng bài “Trung Quốc đầu tư nghìn tỷ vào Nam Định, thêm lo? Theo đó, UBND tỉnh Nam Định vừa cấp chứng nhận đầu tư cho Tập đoàn dệt may Yulun Giang Tô Trung Quốc xây dựng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm với tổng vốn đầu tư 68 triệu USD tương đương 1.400 tỷ đồng tại khu công nghiệp Bảo Minh huyện Vụ Bản. Dự án này có tiến độ thực hiện từ nay đến tháng 6/2016, thời hạn sử dụng đất 46 năm. Tập đoàn Yulun Trung Quốc sẽ xây dựng nhà máy trên diện tích 80.000m2, công suất sản xuất sợi 9.816 tấn/năm; dệt 21,6 triệu mét vải/năm; nhuộm 24 triệu mét/ năm. Ngoài dự án của Yulun, tỉnh Nam Định cũng đang xem xét để trình Chính phủ dự án khu công nghiệp dệt may sử dụng tới 1.000 héc-ta đất tại huyện Nghĩa Hưng. Tờ báo trích một loạt ý kiến chuyên gia quan ngại Trung Quốc đầu tư mạnh, lộ ý đồ kiểm soát thị trường Việt Nam.

cong_nhan_TQ-250
Lao động Trung Quốc tại công trình thi công nhà máy xi măng Nghi Sơn. File photo.

Bên cạnh sự xâm nhập nhiều lãnh vực trong nền kinh tế Việt Nam, Trung Quốc được cho là sẽ có làn sóng đầu tư mạnh vào ngành may mặc, một phần nhỏ vào ngành dệt nhuộm. Chiến lược của các nhà đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam trong lĩnh vực dệt may là đón đầu cơ hội Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà bản thân Trung Quốc không tham gia. Theo dự kiến sản phẩm dệt may xuất khẩu vào Mỹ và các nước nội khối TPP sẽ hưởng lãi suất 0% nếu đáp ứng điều kiện gọi là “tính từ sợi yarn forward” hàng may mặc phải được sản xuất từ sợi có xuất xứ các nước thành viên TPP. Trong bối cảnh doanh nghiệp dệt may Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu là gia công, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, thì họ sẽ rất khó khăn trong cạnh tranh khi hiệp định TPP trở thành hiện thực.

Đáp câu hỏi của chúng tôi về việc ngành dệt may Việt Nam trông chờ nước ngoài đầu tư vào lãnh vực sản xuất bông sợi, dệt nhuộm để có thể đáp ứng điều kiện “tính từ sợi” của TPP, nhưng nay dư luận lại rất lo lắng khi có yếu tố Trung Quốc. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Khi mà Trung Quốc quyết định đầu tư vào ngành dệt ở Việt Nam, tôi cho là một phần nào đó cũng có thể chấp nhận được. Nếu như những nhà máy dệt họ đưa vào thực sự hiện đại, tốt cả về hiệu quả kinh tế cũng như bảo vệ môi trường. Nhưng phía Việt Nam phải có được cơ chế kiểm soát tốt về giá trị của đầu tư như thế nào, trình độ công nghệ như thế nào, lượng nhân công làm việc ở nhà máy là người nào. Còn nếu họ đầu tư theo kiểu một số trường hợp đã diễn ra, họ đưa nhân công của họ vào làm việc tất cả các khâu, kể cả lao động bình thường rất giản đơn không cần kỹ thuật gì cả mà không sử dụng người Việt Nam thì đấy lại là vấn đề khác.

Tôi cho là một mặt là được nhưng mặt khác vào giai đoạn này Việt Nam cũng rất cần tự mình phát triển ngành dệt của mình và có thể tìm kiếm con đường hợp tác đối với các đối tác khác nữa chứ không nhất thiết chỉ có Trung Quốc. Tôi cho là để tránh phụ thuộc lâu dài thì cần tránh phụ thuộc chỉ vào một đối tác cung cấp dệt ở Việt Nam, thí dụ như nhà đầu tư từ Trung Quốc. Nên có một số nhà đầu tư khác nhau từ các nước khác nhau, ví dụ có thể từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và các nơi khác để tránh sự phụ thuộc vào nhà đầu tư Trung Quốc. Bởi vì khi vào Việt Nam quá nhiều họ nắm phần khống chế của ngành dệt Việt Nam thì vẫn đưa Việt Nam vào sự lệ thuộc họ.”

Theo các chuyên gia, luật pháp của Việt Nam có thể chưa đầy đủ, nhưng chỉ với những qui định hiện hành, cũng có thể kiểm soát sự lũng đoạn kinh tế xã hội Việt Nam từ phía người Trung Quốc. Có chăng là các cấp chính quyền từ cao xuống thấp đã không thực thi pháp luật một cách đúng mực. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp đồng tiền hối lộ đã thể hiện giá trị siêu đẳng của nó.

Bị công an thẩm vấn vì tưởng niệm trận Gạc Ma

Cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bá Đăng ở huyện Nam Sách, Hải Dương bị công an bắt đi thẩm vấn trong hai ngày 13 và 14 tháng 3 vì ông này có ý định tổ chức cuộc tưởng niệm 64 chiến sĩ Việt Nam hy sinh tại đảo Gạc ma hồi ngày 14 tháng 3 năm 1988.

Sau khi được về nhà, vào lúc 8:40 phút tối ngày 14 tháng 3, ông Nguyễn Bá Đăng cho RFA biết:

Suốt hai hôm qua họ luôn tra vấn tôi- cả ngày và cả đêm qua và ngày hôm nay. Họ cho là tôi tổ chức biểu tình, xuống đường ngày 14 tháng 3. Và họ đưa ra  hơn chục bài viết của tôi và muốn biết về nội dung hơn chục bài viết đó.

Gia Minh: Hôm nay mới là ngày 14 tháng 3, vậy chuyện tổ chức biểu tình đó như thế nào?

Ông Nguyễn Bá Đăng: Họ chủ động bắt tôi trước ngày 14 tháng 3 để ngăn cản không cho tôi tiếp xúc với những người dân khác trong nước để tổ chức kỷ niệm ngày 14 tháng 3- ngày mà các đảo Gạc ma, Cô Lin trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc xâm lấn. Mục đích là họ muốn phá không cho xuống đường để tưởng nhớ ngày Trung Quốc xâm lấn biển đảo của chúng ta.

Gia Minh: Trước việc họ nói ông tổ chức tưởng niệm ngày 14 tháng 3 và những bài viết trên facebook của ông, thì ông trình bày lại với họ thế nào.

Ông Nguyễn Bá Đăng: Tôi đã hoàn toàn không hợp tác với họ và trả lời họ rằng việc chúng tôi và người dân Việt Nam xuống đường là để tưởng nhớ đến những ngày mà đảo của chúng ta bị mất về tay Trung Cộng.

Tôi đã hoàn toàn không hợp tác với họ và trả lời họ rằng việc chúng tôi và người dân Việt Nam xuống đường là để tưởng nhớ đến những ngày mà đảo của chúng ta bị mất về tay Trung Cộng.
- Ông Nguyễn Bá Đăng

Tôi cũng có viết những bài viết nói lên hiện tình của đất nước.

Tôi hoàn toàn không hợp tác với họ, và họ không đủ tư cách để tra vấn và làm việc với tôi.

Gia Minh: Ông có thể cho biết những người làm việc với ông là những ai?

Ông Nguyễn Bá Đăng: Họ thay phiên nhau làm việc, họ rất đông khoảng từ 15 đến 20 người. Họ luôn bao vây quanh tôi để áp đảo. Trong đó tôi có nhớ một số tên công an, đó là công an Dương, công an Khương, công an Bình, công an Phong, công an Nho. Một số những nhân vật không mặc quân phục, mặc thường phục tôi không nhớ.

Gia Minh: Trong hai ngày và một đêm làm việc như thế thì sinh hoạt ăn, ngủ, nghỉ ra sao?

Ông Nguyễn Bá Đăng: Đêm hôm qua họ không cho tôi ngũ, bắt phải làm việc nên tôi phản đối rất kịch liệt. Tôi nói làm việc phải có giờ giấc, trong một ngày chỉ được làm việc 8 tiếng, không được kéo dài suốt đêm để ảnh hưởng đến sức khỏe của tôi và sức khỏe của người khác. Họ có cho tôi ăn tối và ăn sáng, nhưng họ luôn làm buổi tra vấn rất căng thẳng. Họ đập bàn, đập ghế, họ dọa nạt, đe dọa tôi với một lực lượng hùng hậu rất đông.

Gia Minh: Được biết từ khi mãn hạn tù cho đến nay ông về ở tại gia đình, địa phương;  vậy lực lượng chức năng có những hành xử thế nào với ông?

Ông Nguyễn Bá Đăng: Từ ngày tôi ra khỏi nhà tù nhỏ để vào nhà tù lớn thì được hơn một năm rồi; nhưng tôi thường xuyên bị chính quyền và công an các cấp luôn canh gác quanh nhà tôi. Tôi đi đâu họ cũng theo dõi và gây rất nhiều khó khăn đối với tôi và gia đình tôi.

Gia Minh: Lâu nay ông có tiếp xúc được với những người từng đấu tranh với ông trước đây và những người hiện nay công khai lên tiếng cho dân chủ- nhân quyền và quyền của con người tại Việt Nam không?

Ông Nguyễn Bá Đăng: Tôi luôn bị canh gác như vậy, nhưng luôn cố gắng lúc nào có thể được là vượt vòng vây của họ để cùng với những anh em cùng chung lý tưởng đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam. Chúng tôi trong nước gặp rất nhiều khó khăn, họ luôn đe dọa chúng tôi.

Hiện nay họ sử dụng mọi thủ thuật đàn áp, đánh người và thậm chí họ sẽ tìm cách thủ tiêu. Hiện nay họ sẽ có nhiều phương cách tàn bạo hơn.
- Ông Nguyễn Bá Đăng

Gia Minh: Là người từng bị kết án tù, ông thấy tình hình hoạt động trước đây và hiện nay có những chuyển biến tích cực hay tiêu cực gì thưa ông?

Ông Nguyễn Bá Đăng: Trước đây trong thời gian tôi hoạt động cũng như hiện nay, nhà cầm quyền luôn tìm cách đàn áp và bóp từ trong trứng nước các nhà hoạt động vì dân chủ- nhân quyền của Việt Nam. Theo tôi từ trước cho đến nay họ càng đàn áp tinh vi hơn, tàn bạo. Hiện nay họ sử dụng mọi thủ thuật đàn áp, đánh người và thậm chí họ sẽ tìm cách thủ tiêu. Hiện nay họ sẽ có nhiều phương cách tàn bạo hơn.

Gia Minh: Nhưng ông thấy phong trào, và những người tham gia phong trào nhất là những người hoạt động ngoài đường phố, có thêm người không thưa ông?

Ông Nguyễn Bá Đăng: Phong trào dân chủ của Việt Nam hiện nay mạnh mẽ, đông đảo hơn trước rất nhiều. Sự sợ hãi cuả người dân và các nhà đấu tranh dân chủ- nhân quyền và các dân oan trước bạo quyền đã vươn xa hơn, họ cũng đã không còn những sự sợ hãi như trước đây. Mà nhiều người đấu tranh quyết liệt cho một tổ quốc Việt nam được dân chủ, tự do.

Gia Minh: Cám ơn ông Nguyễn Bá Đăng.

Xin phép được nhắc lại, ông Nguyễn Bá Đăng năm nay 50 tuổi. Ông từng bị bắt bốn lần vào các năm 2003, 2007, 2008 và 2010. Năm 2010, ông bị kết án 3 năm tù về tội ‘tuyên truyền chống Nhà Nước’.

Báo Úc: Trung Quốc là hiểm họa số 1

Published o­n February 16, 2014   ·   No Comments

china bien dong quan doi_BPRM.jpg

Bản phúc trình của Học viện chiến lược Úc (ASPI) nhận định: Trung Quốc là hiểm họa lớn nhất đối với nền an ninh Úc và an ninh châu Á. Sự nguy hiểm của Trung Quốc xuất phát từ hai nguyên nhân chính: sự lớn mạnh của nền kinh tế và khả năng rút lui ra khỏi khu vực của một nước Mỹ đang bị yếu dần.

Bản phúc trình này được đăng trên tờ Tin tức nước Úc. Báo cáo cũng nhận định: nước Úc đang đứng trước nguy cơ tồi tệ nhất kể từ năm 1942 nếu như phải thực sự chống chọi với “một sự khiêu khích từ bên ngoài”

ASPI là một tổ chức do chính phủ Úc tài trợ. Bản báo cáo do chuyên gia kinh tế toàn cầu người Mỹ David H Hale viết dưới tiêu đề “Trung Hoa tân mộng” (China’s New Dream), cũng cấp cái nhìn rõ hơn về phép màu kinh tế Trung Quốc và từ phép màu này dẫn đến khả năng cường tráng về cơ bắp.

trung quoc bien dong de doa_yres.jpg
Lãnh đạo Úc tiếp ông Tập Cận Bình, tuy nhiên, Úc cần phải cân nhắc giữa quan hệ kinh tế với TQ và quan hệ đồng minh truyền thống với Mỹ

Bản phúc trình không chỉ đích danh Trung Quốc như là một kẻ khiêu khích tiềm năng, nhưng phác thảo ra một bức tranh gây lo ngại, rằng đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Bắc Kinh cùng với những động thái tăng cường sức mạnh quân sự gần đây cho thấy Trung Quốc có thể sẽ dùng vũ lực để đạt được những mục đích trong tương lai.

“Sự trỗi dậy của Trung Quốc như là một siêu cường sẽ trở thành thách thức đối ngoại lớn nhất của Úc trong thế kỷ 21” – báo cáo viết.

“Canberra sẽ phải cẩn trọng để giữ mức cân bằng giữa quan hệ kinh tế với Trung Quốc và quan hệ đồng minh truyền thống với Mỹ. Đe dọa lớn nhất sẽ xảy ra nếu nước Mỹ không giải quyết được những khó khăn của mình, buộc phải cắt giảm ngân sách quốc phòng và rút khỏi khu vực Đông Á. Lúc đó sẽ là thảm họa”.

Năm 2012, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng nhanh, ước đạt 166,2 tỉ USD so với vỏn vẹn 22,2 tỉ USD của năm 2000 và hiện đứng thứ nhì sau Mỹ (660 tỉ USD).

“Trung Quốc đã đưa ra những yêu sách đòi đến phần lớn Biển Đông, gia tăng xung đột biên giới với Việt Nam và Philippines” – báo cáo viết.

“Tháng 11.2013, Trung Quốc đã tuyên bố thành lập vùng nhận diện bay trên Biển Đông. Hành vi này đã có thể kích hoạt một cuộc leo thang căng thẳng trong khu vực và rất dễ dẫn đến chiến tranh”.

Ông Hale cũng cho rằng, hiểm họa lớn nhất đến từ thói khiêu khích của Trung Quốc sẽ là một cuộc đụng độ quân sự.

Hiện tại, Trung Quốc đang là đối tác thương mại hàng đầu của 124 quốc gia, cao hơn hẳn so với 76 quốc gia của Mỹ và lượng vốn đầu tư trực tiếp tại nước này đã lên đến con số 832 tỉ USD.

Trung Quốc cũng đang có quỹ dự trữ ngoại hối tại đến 3.700 tỉ USD, kế đến là Nhật đạt 1.300 tỉ USD. Trung Quốc có 122 tỉ phú trong năm 2013 so với 422 của Mỹ, 110 của Nga, 39 của Đặc khu Hongkong và 26 của lãnh thổ Đài Loan.

Đây là quốc gia có nền sản xuất lớn nhất, trong năm 2012, Trung Quốc cho xuất xưởng 19,27 triệu chiếc xe, cao gần gấp 10 lần so với 2,1 triệu chiếc vào năm 2000. Trong khi cùng năm này, Mỹ cho ra đời 10,5 triệu chiếc, Nhật 9,9 triệu, Đức 5,6 triệu và Hàn Quốc 4,6 triệu chiếc.

Trung Quốc cũng sản xuất đến 75% tổng sản lượng điện thoại di động toàn cầu, 87% tổng lượng máy tính và 52% tổng lượng truyền hình.

THEO MỘT THẾ GIỚI



Read more: http://www.ttxva.net/bao-uc-trung-quoc-la-hiem-hoa-so-1/#ixzz2wJkrqbmw

Báo Nhật: Hiểm họa lớn nhất là Trung Quốc

< iframe src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?href=http://dantri.com.vn/the-gioi/bao-nhat-hiem-hoa-lon-nhat-la-trung-quoc-739826.htm&send=false&layout=standard&share=true&width=450&show_faces=false&action=like&colorscheme=light&font&height=35&" scrolling="no" frameborder="0" allowtransparency="true" style="margin: 0px; padding: 0px; border-style: none; overflow: hidden; width: 450px; height: 35px;">< /iframe>

Từ nhiều góc độ khác nhau, tờ Sankei Shimbun kết luận nguy cơ xâm hại lớn nhất chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia Nhật Bản là Trung Quốc.

Trong thực tiễn hoạt động chính trị đối ngoại, các quan hệ quốc tế đối với các nước khác thường được chia thành hai nhóm quan hệ, nhóm các nước thù địch và nhóm các nước có mối quan hệ hữu nghị - bạn bè, xuất phát từ những chính sách đối ngoại của các nước đó với một quốc gia có chủ quyền.

Các nước thù địch – đó là các nước xâm hại đến lợi ích chính đáng của quốc gia dân tộc, các nước bạn bè, đó là các nước tạo điều kiện cho lợi ích cho quốc gia trên cơ sở hai bên cùng có lợi ích cụ thể trên các lĩnh vực, hoặc có thể là kẻ thù của các nước thù địch. Một quốc gia độc lập bao gồm có ba thành tố cấu thành: Nhân dân, lãnh thổ và chủ quyền. Nước nào xâm hại cả ba thành tố đã nêu của một quốc gia – được xem xét như là một nguy cơ nghiêm trọng.

Tàu hải giám Trung Quốc trong khu vực tranh chấp Senkaku.

Tàu hải giám Trung Quốc trong khu vực tranh chấp Senkaku.

 

Ai đe dọa lợi ích Nhật Bản?

Trong thời gian gần đây, nhiều nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương như Mông Cổ, Việt Nam, Ấn Độ đã có nhiều hoạt động ngoại giao thể hiện tình đoàn kết hữu nghị với Nhật Bản. Điều đó không có nghĩa là các quốc gia đã thể hiện tình cảm sâu sắc với đất nước Mặt trời, một nguyên nhân đáng kể bắt nguồn từ bài học lịch sử, khi mà Trung Quốc đã nhiều lần xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của họ.

Trong một khái niệm nhất định nào đó, Trung Quốc đang có những hành vi thể hiện sự thù địch rõ ràng, kẻ thù của kẻ thù là bạn. Nguyên nhân mà các quốc gia đó thể hiện sự nồng ấm với Nhật Bản là họ tin tưởng Nhật Bản có khả năng chống trả lại những hành động xâm hại chủ quyền của Trung Quốc. Cũng có thể hiểu rằng, nếu mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc trở lên gần gũi hơn, rất nhanh chóng niềm tin vào Nhật Bản sẽ sụp đổ.

Hạm đội hải quân Trung Quốc không che giấu tham vọng biển xanh, gây lo lắng cho nhiều quốc gia.
Hạm đội hải quân Trung Quốc không che giấu tham vọng biển xanh, gây lo lắng cho nhiều quốc gia.

Vào đầu thế kỷ 20, Nhật Bản rất được coi trọng ở Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Lan. Thời gian ấy hai quốc gia này đang chống lại nước Nga, còn quân đội Nhật đã chiến thắng trong chiến tranh Nga - Nhật. “Quốc gia không có đồng minh vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn, mà chỉ có lợi ích vĩnh viễn” lời của Thủ tướng Anh Palmerston là nguyên tắc cơ bản của các quan hệ quốc tế.

Nguy cơ là sức mạnh nhân với tham vọng. Có lẽ trong lĩnh vực quân sự, nước có sức mạnh lớn nhất hiện nay phải là Mỹ, có khả năng đe dọa chủ quyền, lợi ích và toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản. Sau đó là Liên bang Nga, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, các nước đó có tiềm lực vũ khí hạt nhân với số lượng từ vài chục đơn vị đến hàng nghìn đơn vị, trong biên chế trang bị có từ hàng chục đến hàng trăm tên lửa đạn đạo, Nhật Bản nằm trong vùng bán kính tấn công của các tên lửa đó. Hàn Quốc cũng đã quyết định sản xuất và chế tạo một số tên lửa đạn đạo có tầm bắn xa đến 800 km, có khả năng công kích bờ biển phía bắc của Nhật Bản.

Nếu tiếp tục đánh giá các nước có tham vọng xâm hại quyền lợi chính đáng của Nhật Bản, thì Mỹ đang đóng vai trò của một nước đồng minh, có căn cứ trên đất Nhật Bản. Điều đó có nghĩa là tham vọng tấn công Nhật Bản bằng 0, nếu nhân với tiềm lực quân sự, thì nguy cơ đe dọa xâm hại chủ quyền của Nhật từ phía Mỹ là không tồn tại.

Nước Nga đang chiếm đóng một phần lãnh thổ của Nhật từ sau đại chiến thế giới lần thứ II và đang có tham vọng giữ nó. Nếu nhân với tiềm lực quân sự thì bản thân nước Nga cũng đang tồn tại một nguy cơ xâm hại quyền lợi của dân tộc Nhật Bản.

Nguy cơ lớn nhất từ Trung Quốc

Trung Quốc đang có tham vọng giành đoạt quần đảo Senkaku, nằm trong chủ quyền và dưới sự quản lý của Nhật Bản, âm mưu thay đổi tình hình thực tế. Có nghĩa là Trung Quốc đang nỗ lực muốn xâm hại sự toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản. Nếu nhân sức mạnh quân sự với tham vọng của Trung Quốc, thì nguy cơ đe dọa chủ quyền và lợi ích từ phía Trung Quốc là quá rõ ràng.

Bắt cóc những công dân Nhật Bản, Bắc Triều Tiên đã xâm hại đến đời sống của con người, là một phần tài sản vô giá của nhân dân Nhật Bản. Nếu nhân với tham vọng của Bắc Triều Tiên, chúng ta cũng thu được sự hiện hữu nguy cơ xâm hại lợi ích quốc gia Nhật. Hàn Quốc đã chiếm đảo Takeshima một cách bất hơp pháp của Nhật Bản và đang cố gắng duy trì tình trạng hiện tại. Kết quả của phép nhân tham vọng với sức mạnh quân sự cũng cho một kết quả tương tự, đó là nguy cơ.
Từ những nhận định thuần túy mang tính cơ học, có thể nhận thấy, nguy cơ xâm hại lớn nhất chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia Nhật Bản là Trung Quốc.

Hạm đội hải quân Trung Quốc không che giấu tham vọng biển xanh, gây lo lắng cho nhiều quốc gia.
Sankei Shimbun nhận định với tham vọng và sức mạnh không ngừng tăng lên trong mấy thập niên gầy đây, Trung Quốc đã trở thành nguy cơ lớn nhất với Nhật Bản.

Từ một góc nhìn khác về cơ cấu chính trị, Mỹ, Nga, Hàn Quốc là những nước dân chủ. Nói chung, hệ thống nhà nước dân chủ có cấu trúc phức tạp, từ đó, để tiến hành một cuộc chiến tranh đối với một nước khác rất khó khăn. Chiến tranh thường được bắt đầu bằng những đòn tấn công bất ngờ. Trong một xã hội dân chủ với sự công khai các hoạt động của nhà nước ở mức độ rất cao, các quyết định chính trị quân sự về việc bất ngờ tiến hành một cuộc chiến với một nước khác được đưa ra hoàn toàn không đơn giản. Đồng thời, trong một hệ thống chính trị dân chủ, một chính phủ lên nắm quyền lực không phải bằng sức mạnh loại trừ các thế lực chống đối, mà bằng khả năng thuyết phục cộng đồng xã hội.

Trong các mối quan hệ đối ngoại chính trị, các nhà nước dân chủ cũng phải thực hiện từ góc độ ưu tiên cho các cuộc đàm phán, đối thoại chính trị, kết quả từ các hoạt động đàm phán đó mới có thể đặt ra khả năng sử dụng các biện pháp quân sự, và dĩ nhiên là khả năng hình thành chiến tranh tương đối thấp. Trung Quốc và Bắc Triều Tiên là những nước có hệ thống chính trị tương đối độc lập, có nghĩa là không có các cơ chế hãm dân chủ trong các quyết sách về giải pháp đối ngoại chính trị cũng như tiến hành chiến tranh.

Hệ thống kiểm soát dân chủ cho phép nhà nước kiểm soát và điều hành quân đội trong điều kiện chiến tranh. Ở Mỹ, Nga và Hàn Quốc, hệ thống kiểm soát dân chủ được thực hiện nhằm thể hiện quyền quyết định thuộc về quyền lợi của nhân dân. Ở Bắc Triều Tiên, lực lượng có quyền lực là quân đội, nơi đây “quân đội cao hơn lực lượng chính trị”, ở Trung Quốc lực lượng lãnh đạo giai cấp là Đảng Cộng sản Trung quốc, được hình thành từ chiến đấu, Đảng lãnh đạo lực lượng quân đội và Quân với Đảng là một thể thống nhất. Do đó, lực lượng quân sự không nằm trong quyền kiểm soát dân sự. Đánh giá khách quan tất cả các yếu tố hiện hữu, có thể nhận rõ, nguy cơ xâm hại chủ quyền và lợi ích của Nhật Bản ngày này rõ ràng xuất phát từ những tranh chấp chủ quyền phía Trung Quốc.

Lùi bước Nhật sẽ mất hết

Nhật Bản cần phải có những hành động đáp trả những đòi hỏi vô lý từ phía Trung Quốc. Hành động của Trung Quốc với mục đích chiếm đoạt quần đảo Senkaku trong mỗi quan hệ với Trung Quốc không những đã xâm hại những lợi ích chính đáng của đất nước Nhật, mà còn đi ngược lại Hiến chương Liên Hợp Quốc. Nguyên tắc đầu tiên của Hiến chương Liên Hợp Quốc đã tuyên cáo: “Các nước thành viên của Liên Hợp Quốc từ bỏ việc đe dọa và sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại độc lập chính trị hay toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào.

Như vậy, những hành động của Nhật Bản, được thực hiện nhằm chống lại âm mưu và thủ đoạn chiếm đoạt quần đảo Senkaku bằng đe dọa sử dụng vũ lực và vũ lực là hoàn toàn chính đáng trên nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc và phù hợp với luật pháp quốc tế. Những hành vi của Trung Quốc nhằm vào quần đảo Senkaku và những hành động đáp trả của Nhật Bản không còn nằm trong phạm vi giới hạn xung đột lợi ích giữa hai quốc gia. Đây là vấn đề của sự công bằng và lẽ phải trong mối quan hệ quốc tế.

Hạm đội Nhật diễn tập trên biển.

Hạm đội Nhật diễn tập trên biển.

Lính đặc nhiệm Nhật diễn tập đổ bộ tấn công đường không.

Lính đặc nhiệm Nhật diễn tập đổ bộ tấn công đường không.


Hiện nay ở Nhật Bản đã dấy lênnhững cuộc thảo luận của cộng đồng xã hội về hậu quả của một cuộc chiến tranh, hậu quả của tâm lý chiến tranh và những áp lực kinh tế, những vấn đề phức tạp sẽ nảy sinh trong xung đột đối với Trung Quốc, và đã có những ý kiến tìm kiếm sự thỏa hiệp đối với Trung Quốc. Có thể dẫn một câu nói nổi tiếng của nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông: "Những suy nghĩ cho rằng, thực hiện một thỏa hiệp với kẻ thù, hy sinh một phần đất nhỏ và một phần chủ quyền nhỏ bé, có thể ngăn chặn được một cuộc xâm lăng – hoàn toàn không hơn gì một ảo tưởng” trích từ tác phẩm “Trường kỳ kháng chiến “, và chúng ta không được quên điều đó. 

Một trong những động cơ của Nhật Bản kiên quyết bảo vệ quần đảo Senkaku là quyết tâm chiến đấu cho công lý trên vũ đài chính trị thế giới. Nếu Nhật Bản lùi bước, các nước nhỏ trong khối châu Á Thái Bình Dương sẽ vô cùng thất vọng như thất vọng về một đất nước, có thể đứng lên chống lại một thế lực hùng mạnh hơn. Lúc đó Nhật Bản sẽ đánh mất hoàn toàn vị thế của mình trong khu vực và trên trường quốc tế. Nếu Nhật Bản không ngăn chặn được những hành động đe dọa vũ lực và sử dụng vũ lực của một cường quốc, thì các nước nhỏ yếu trong khu vực không thể tiếp tục sống trong hòa bình và hữu nghị vững bền.

Theo Trịnh Thái Bằng
Tiền phong/Sankei Shimbun
BienDong.Net

INDONESIA VẪN LO NGẠI “HIỂM HỌA TRUNG QUỐC”

Tạp chí Chính trị thế giới (World Politics Review) của Mỹ ngày 8/3 đã công bố nghiên cứu của Viện dự án 2049 (Project 2049 Institute) - một trung tâm nghiên cứu của Mỹ về vấn đề an ninh châu Á, trong đó nhận định mặc dù Trung Quốc đưa ra nhiều giải pháp “đôi bên cùng thắng” (win-win) để lôi kéo Indonesia vào vòng ảnh hưởng của mình, nhưng xem ra Bắc Kinh vẫn không xóa nổi sự hoài nghi thâm căn cố đế của Indonesia về ý đồ và dã tâm của Trung Quốc.

Theo nhà nghiên cứu này, năm 2010 được coi là “Năm hữu nghị Trung Quốc - Indonesia” để kỉ niệm 60 năm ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, nhưng cả Bắc Kinh và Gia-các-ta đều phải tìm cách xử lý tế nhị để cố làm dịu đi những căng thẳng tiềm tàng trong tương lai. Quan hệ hai nước đã trải qua chặng đường dài kể từ thời đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh. Tuy vẫn chưa quên Trung Quốc từng xúi bẩy nổi loạn ở Indonesia, nhưng Gia-các-ta vẫn hoan nghênh Bắc Kinh là nhà đầu tư lớn vào nền kinh tế Indonesia. Kim ngạch muôn bán giữa hai nước đã tăng trung bình 20%/năm, kể từ năm 2001. Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu lớn nhất và là địa chỉ xuất khẩu lớn thứ ba của Indonesia. Đại sứ Trung Quốc tại Indonesia Zhang Qiyue mô tả quan hệ giữa hai nước đã trải qua “vòng đời của một con người” và nay bước vào “vòng mới của tình hữu nghị”.

Tuy nhiên, Indonesia vẫn dễ bị tổn thương trong quan hệ với Trung Quốc. Tranh cãi mới đây về Hiệp định buôn bán tự do ASEAN-Trung Quốc (FTA ASEAN-Trung Quốc) là một minh chứng. Mặc dù Hiệp định này được coi là có lợi cho các nước ASEAN (trong đó có Indonesia) do mở cửa thị trường Trung Quốc và tăng đầu tư vào ASEAN, nhưng sau nhiều tuần với các cuộc phản đối trên đường phố, Indonesia tháng 2/2010 đã đòi thương lượng lại các điều kiện của ASEAN trong FTA này. Gia-các-ta đã đưa ra danh sách 200 mặt hàng công nghiệp dễ bị tổn thương để giành quyền bảo hộ trước hàng hoá Trung Quốc. Giải pháp “đôi bên cùng thắng” mà FTA Trung Quốc - ASEAN đưa ra không đủ thuyết phục Indonesia về sự thành thật của Trung Quốc trong cạnh tranh.

Nhà phân tích Prashanth Parameswaran nhấn mạnh thái độ lo ngại và cảnh giác của Indonesia đối với Trung Quốc cũng được thấy rõ trong lĩnh vực an ninh. Mặc dù trong thập kỷ qua, Trung Quốc tìm mọi cách lôi kéo ASEAN và thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, nhưng mới đây, Trung Quốc đã tỏ ra quyết đoán, thậm chí có thái độ khiêu khích, về các yêu sách lãnh thổ trên biển Đông. Thay cho thái độ hợp tác và tăng cường lòng tin theo Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông mà Trung Quốc đã ký năm 2002, Trung Quốc đã xây dựng căn cứ hải quân lớn và tăng cường đội tàu chiến để đe doạ các nước ASEAN trong cuộc tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay cả khi Trung Quốc chưa phát động chiến tranh ở biển Đông, nhưng cách hành xử hiếu chiến hiện nay của Bắc Kinh ở biển Đông cũng đã gây lo ngại cho các nước như Indonesia về ý đồ và dã tâm của Trung Quốc trong tương lai gần. Indonesia hiểu rõ rằng Trung Quốc sẽ không ngần ngại sử dụng ảnh hưởng tăng lên để làm đòn bẩy đe doạ Gia-các-ta về các tranh chấp chủ chốt giữa hai nước trong tương lai.

Mặc dù vẫn trấn an các nước ASEAN bằng việc ký Hiệp định hữu nghị và hợp tác ASEAN, tham gia Diễn đàn ASEAN và không ngừng tuyên bố rằng Trung Quốc chỉ “trỗi dậy hoà bình”, nhưng hầu hết các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Indonesia đều nghị ngờ dã tâm của Trung Quốc. Theo học giả Rizan Sukma của Indonesia, mọi dấu hiệu đều chỉ rõ tham vọng của Trung Quốc muốn làm bá chủ khu vực trong tương lai và thực tế này khiến Indonesia phải cảnh giác. Năm 2007, Indonesia đã kiên quyết đòi mở rộng Hội nghị cấp cao Đông Á (vốn chỉ bao gồm các nước ASEAN + Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) để có sự tham dự của Ấn Độ, Ôxtrâylia, Niu Dilân nhằm xoá bỏ sự chi phối của Trung Quốc trong cơ cấu khu vực. Mọi biểu hiện hiếu chiến của Trung Quốc như các sự kiện mới đây ở biển Đông đều khiến Gia-các-ta cảnh giác và quan tâm hơn nữa đến “hiểm hoạ Trung Quốc”.

Trần Trung Đạo - Hiểm họa Trung Quốc và bài học Congo

Trần Trung Đạo
Chia sẻ bài viết này

Giới thiệu: Nhượng bộ Sudetenland cho Hitler, như Tổng thống Philippine phát biểu với New York Times hôm 3 tháng 2 vừa qua, là một sai lầm nghiêm trọng của Anh, Pháp và Tiệp, và sai lầm này đã dẫn đến cái chết của 85 triệu người trong Thế Chiến II. Trong lúc Thủ tướng Anh Neville Chamberlain vui mừng, phấn khởi sau khi ký xong hiệp ước Munich, Hilter hoàn toàn không quan tâm đến mảnh giấy lộn đó bởi vì tham vọng của y không dừng lại ở Áo, Tiệp Khắc mà toàn bộ châu Âu và cả thế giới. Khi Hitler tấn công Ba Lan, hai nước Anh và Pháp tuyên chuyến với Đức ngay nhưng đã trễ. Giống như Hitler, tham vọng kinh tế và chính trị của các lãnh đạo Trung Cộng cũng không chỉ nhắm vào Đông Nam Á mà đã và đang vươn vòi đến tận các nước nghèo khó khác ở Phi Châu. Bài viết của tác giả Trần Trung Đạo dưới đây phân tích một cách chi tiết chủ trương Thực Dân Đỏ của Trung Cộng tại Congo. Đây là bài học lịch sử cho những ai còn quan tâm đến tiền đồ Việt Nam.



Nguồn: chinaafrica của website paolowoods.net

Những tuổi thơ trong mỏ quặng

Em Adon Kalenga làm việc cho một hãng thu mua quặng. Công việc của em mỗi ngày là vác những bao quặng nặng gần 100 kí lô từ những hầm sâu, ẩm thấp đi rửa sạch và vác trở về cho chủ hãng thầu. Như em tả, cả thân thể em đều cảm thấy đau nhức và cả mười ngón tay trầy trụa sau một ngày dài rửa quặng. Em Adon Kalenga chỉ mới 13 tuổi. Trong lúc hầu hết thiếu niên cùng tuổi em trên thế giới đang đến trường thì em phải làm việc không ngưng nghỉ suốt bảy ngày mỗi tuần. Em không đủ tiền để đóng học phí, trung bình khoảng 6 Dollar một tháng. Em không có nhà ở. Đêm về, em ngủ nhiều nơi trên đường phố và cũng có khi tìm đến tạm trú trong các trại mồ côi.

Cha của Adon chết khi em mới 9 tuổi. Mẹ em sau đó cũng bỏ nhà ra đi. Bà con thân thích không ai nhận nuôi dưỡng em khi chính họ còn không đủ sức nuôi con của họ. Em trở thành đứa bé mồ côi. Sau khi lang thang bụi đời một thời gian, các bạn của em gợi ý nên đi đào quặng bán lại cho các công ty thu mua Trung Quốc. Thế là em cùng các bạn đi đào quặng để kiếm sống. Trong năm đầu tiên em có lần suýt chết khi trời mưa lớn làm đất sụp thành bùn đè lên những người đang làm dưới hầm sâu. Bốn người bạn của em, Fabrice, Jean, Patient and Patrick đều bị bùn chôn sống trong tai nạn đó. Em may mắn sống sót nhưng thương tích đầy mình. Adon nói “Cuộc sống của em rất khó khăn. Em không hiểu tại sao.”

Một người bạn của Adon tên là Carlito Muamba, cũng chỉ mới 15 tuổi nhưng mỗi ngày phải chui vào những hố sâu trong lòng đất để đào bằng tay và chiếc sẻng nhỏ. Phía trên hầm không có gì che, mỗi khi đào, đất và bụi rớt xuống phủ kín chiếc đầu không tóc của em. Áo quần em biến thành màu đỏ nhưng em vẫn tiếp tục đào. Mồ hôi trộn lẫn vào bụi đỏ. Không có thang để trèo. Mỗi khi muốn vào hay ra khỏi hầm, em phải bò bằng chân tay. Và đến cuối ngày em cũng được chủ thầu phát một số tiền tương đương với 3 Dollar. Khi được hỏi lý do em làm việc cực nhọc, Carlito trả lời “em cần tiền để mua thức ăn.” Rất đông các bạn cùng tuổi em đi đào quặng.

Mặc dù trên giấy tờ Congo có ký vào hiệp ước quốc tế nghiêm cấm lao động trẻ em vị thành niên, trong thực tế chẳng bao giờ được áp dụng. Ở châu Phi giá trị của mạng sống con người rất rẻ. Nhiều chuyện còn quan trọng hơn như việc hàng trăm người trong đó có bốn trẻ em bạn của Adon, bị đất sụp chôn sống cũng chẳng được ai quan tâm nói chi là chuyện trẻ em đi làm. Bà Wangari Maathai, người phụ nữ Phi châu đầu tiên được trao giảo Nobel Hòa bình năm 2004, quy trách nhiệm không chỉ lên chính phủ Congo mà cả các công ty đầu tư cũng đã vi phạm luật lạm dụng lao động trẻ em: “Tại những quốc gia, nơi nhân quyền không được tôn trọng và người dân không thể buộc chính phủ để chịu trách nhiệm thì chính phủ của các công ty đầu tư phải đề ra những điều kiện lao động.” Chính phủ mà bà muốn nói là Trung Quốc và các công ty thu mua quặng cũng là các công ty Trung Quốc tại Congo, nhưng phía chính phủ Trung Quốc bao giờ họ cũng trả lời “đó là vấn đề của Congo, không liên quan gì đến công ty hay chính phủ Trung Quốc.”

Adon và Carlito là hai trong số 67 ngàn người Congo đang sống bằng nghề đào quặng tại tỉnh Katanga, phía nam Congo, và câu chuyện cảm động về hai em Adon Carlito do một nhóm phóng viên của hãng Bloomberg thực hiện.

Cuối tháng Tám 2008 trên báo Daily Mail ở Anh, nhà báo Peter Hitchens trong phóng sự “Làm thế nào Trung Quốc đã dựng nên một đế quốc nô lệ mới tại Phi Châu” (How China has created a new slave empire in Africa), đã mô tả đời sống của những người dân Congo mà tác giả gọi là “nghèo khổ, vô vọng, giận dữ” khi phải chui vào những hố sâu 25 mét trong những mỏ quặng bỏ hoang để tìm những mảnh quặng đồng còn sót lại, rửa sạch từ những vũng nước dơ và chất thành những kiện nặng tới hàng trăm kí-lô trên những chiếc xe đạp già nua để đem bán cho các thương gia Trung Quốc đang cần nguyên liệu. Nhiều trong số họ đã chết khi những hầm đất sụp hay bị thương nhưng không có thuốc men. Phần lớn đều có con nhỏ. Nhưng nếu họ may mắn sống sót và sau một ngày thu nhặt quặng thành công, họ kiếm được 3 Dollar để nuôi sống bản thân và gia đình trong những thôn xóm tồi tàn đầy bịnh tật. Và cũng theo phóng sự của Peter Hitchens, đời sống một người dân Congo hôm nay không khác gì của ông bà họ ở thế kỷ 18, nếu có khác chăng họ phải làm việc nhiều lần khổ hơn trong một điều kiện cũng tệ hại hơn nhiều.

Dù sao, công việc đào quặng đó cũng chỉ là một phần của các công ty thu mua tư doanh Trung Quốc, thỏa hiệp kinh tế được ký kết giữa chính phủ Congo và Trung Quốc đầu năm 2008 lớn hơn nhiều. Hiệp ước kinh tế trị giá hàng chục tỉ Dollar, có ảnh hưởng gần như hầu hết các mặt trong đời sống xã hội tại Congo không phải chỉ trong vòng 10 năm tới mà trong một thời gian rất dài và cũng không chỉ ảnh hưởng về mặt kinh tế mà cả xã hội, văn hóa, truyền thống.

Để cảm thông với số phận Congo, có lẽ nên đi ngược dòng lịch sử tìm hiểu thêm về vùng đất giàu tài nguyên nhất nhưng là một đất nước chịu đựng nhiều thiệt thòi và bất hạnh nhất trên lục địa Phi châu.

Tội ác diệt chủng bị lãng quên

Cộng hòa Dân chủ Congo (Democratic Republic of the Congo, thời Mobutu được gọi là Zaire, thường dễ bị lầm lẫn với Cộng hòa Congo hay Congo-Brazzaville) là một quốc gia vùng trung Phi, có diện tích 2.3 triệu kilô mét vuông và dân số 64 triệu theo thống kê 2008, thủ đô là Kinshasa. Congo có nhiều nguồn tài nguyên phong phú như đồng, vàng, kim cương, cao su, cobalt nhưng lợi tức đầu người hàng năm chỉ có 140 Dollar. Congo tập hợp của khoảng 200 sắc dân. Về căn bản, Congo vẫn là một quốc gia nông nghiệp nhưng từ 1985 việc đô thị hóa ngày càng gia tăng. Về mặt chính trị, chính phủ Congo hiện nay chi phối bởi hiến pháp 2006. Để đạt được một xã hội tạm yên như hiện nay, nhân dân Congo cũng đã phải trả một giá bằng máu của nhiều triệu dân Congo.

Không giống chế độ thực dân tại các nước khác được mở đầu bằng võ trang xâm lược, chế độ thực dân Bỉ có mặt tại Congo được diễn ra dưới hình thức mua bán, trao đổi giữa Henry M. Stanley, đặc sứ của vua Bỉ Leopold đệ nhị và các lãnh đạo Congo địa phương sống dọc sông Congo. Cuối năm 1884, Stanley đã ký 450 hiệp ước thay mặt cho vua Leopold. Kết quả, Congo trở thành một nước có tên gọi mỉa mai “Nước Congo Tự do” dưới quyền sở hữu cá nhân của vua Leopold với thủ đô đặt tại Boma, một quận nằm bên bờ sông Congo.

Dưới sự bóc lột sức lao động tàn nhẫn để phục vụ cho túi tham không đáy của vua Bỉ Leopold đệ nhị, người dân Congo trải qua gần một thế kỷ trong địa ngục trần gian. Nhân loại nhắc nhiều về Holocaust, diệt chủng Armenian nhưng so với tội ác của Bỉ tại Congo, số người Do Thái bị Hitler giết hay Armenian bị Thổ Nhĩ Kỳ tiêu diệt còn thấp hơn nhiều. Khoảng một nửa dân số Congo thời bấy giờ, 10 đến 15 triệu dân, đã bị quân đội và tay sai dưới quyền của vua Leopold tàn sát. Mặc dù chưa bao giờ đặt chân đến Congo, đất nước đã là phần tài sản của ông ta. Vua Leopold đệ nhị thành lập một hệ thống lao động khổ sai trong đó con người đơn giản chỉ là một dụng cụ sản xuất. Những năm giá cao su lên cao, Leopold chỉ thị cho phu đồn điền phải tăng giờ làm việc. Những ai không làm việc được bị hành hạ bằng nhiều cách như đánh roi, tra tấn và giết chết. Nhiều cuộc nổi dậy của dân chúng đã bị quân đội riêng của vua Leopold được gọi là Lực lượng Công cộng (Force Publicque) tàn sát không thương tiếc. Quân lính trong Lực lượng Công cộng có thông lệ mỗi khi giết một kẻ chống đối, họ chặt một cánh tay mang về trình lên cấp chỉ huy để làm chứng cho số lượng đạn dược đã dùng. Nhiều lính của Leopold thích đi săn khỉ, để giải thích cho số đạn đã bắn ra, chúng đã chặt tay thường dân để đem về trình thượng cấp. Viêc chặt tay không chỉ bị xảy ra cho người lớn mà cả trẻ em vô tội. Hình phạt chặt tay này còn tồn tại đến hôm nay tai Sierra Leone là vết tích của chế độ thực dân mà vua Bỉ Leopold đã để lại tại châu Phi. Mặc dù được các nước thực dân châu Âu cố tình che đậy và dìm vào quên lãng, tội ác diệt chủng của vua Leopold đã được ghi lại trong một số tác phẩm, tiểu thuyết, hồi ký và sử học, trong đó có sử liệu Tội ác tại Congo (The crime of the Congo) của Arthur Conan Doyle xuất bản tại London ngay trong năm Leopold chết, 1909, và Bóng ma của vua Leopold (King Leopold’ Ghost) của sử gia Adam Hochschild được xuất bản năm 1999.

Congo độc lập trong nhiễu nhương, phân hóa (1960 – 1965)

Trước áp lực dư luận quốc tế và cả quốc hội Bỉ, sau 1908, Congo bị sáp nhập vào Bỉ lần nữa. Quốc gia gọi là “Nước Congo Tự do” do Leopold lập ra dần dần bị giải tán nhưng điều kiện sống của người dân Congo không phải nhờ đó mà tốt đẹp hơn. Dân Congo vẫn một nước thuộc địa, không có một chút quyền hành gì trong bộ máy hành chính từ cấp trung ương đến địa phương. Đến 1955, ngọn lửa đòi độc lập được nhen nhúm từ các nhà ái quốc Phi châu lan rộng đến nhiều nước. Tại Congo nổi bật nhất là Patrice Emery Lumumba. Sau lời hứa trao trả độc lập dành cho các quốc gia thuộc địa Pháp của Tổng thống Pháp Charles de Gaulle nhân chuyến viếng thăm Trung Congo (nay thuộc Congo) đã kích thích việc đòi hỏi tự do của quốc gia trong lục địa Phi châu. Cuối cùng, Bỉ đã quyết định trao trả độc lập cho Congo vào ngày 30 tháng 6 1960. Patrice Emery Lumumba, 35 tuổi, trở thành Thủ tướng đầu tiên. Chính sách ngu dân và cô lập Congo với thế giới bên ngoài của vua Leopold và thực dân Bỉ để lại một hậu quả vô cùng trầm trọng về mọi mặt trong đời sống xã hội Congo sau khi được trao trả độc lập. Bản thân Thủ tướng Lumumba cũng chỉ học được bốn năm tiểu học và một năm huấn luyện làm nhân viên bưu chính. Dù ít học, Lumumba là một người rất thông minh, có lòng yêu nước sâu sắc, có tài ăn nói và giàu năng lực làm việc. Năm 1958, Lumumba và một nhóm thanh niên có học thành lập Phong trào Quốc gia Congo (Movement Natioal Cogolais, MNC) và là tổ chức chính trị có nhiều ảnh hưởng trong quần chúng nhất lại Congo lúc bấy giờ. Giành được độc lập là một chuyện nhưng điều hành đất nước lại là chuyện khác. Vào 1960, cả nước Congo chỉ có 30 thanh niên là tốt nghiệp đại học và 136 học sinh hoàn tất chương trình trung học. Congo không có ngay cả một bác sĩ, không có thầy hay cô giáo và sĩ quan quân đội. Cấp cao nhất trong quân đội mà một người Congo được thăng là thượng sĩ và người đó không ai khác hơn là Joseph Mobutu, nhà độc tài sắp xuất hiện trong lịch sử Congo.

Để thay thế quân đội Bỉ, Lumumba phong Mobutu lên chức tham mưu trưởng của quân đội Congo. Trước một đất nước có chủ quyền mà coi như vô chủ với hơn 50 phe nhóm chính trị được hình thành trong giai đoạn chuyển tiếp, Thủ tướng Lumumba vốn không có thiện cảm với các đế quốc thực dân, kể cả Mỹ, đã trở nên cực đoan trong cách giải quyết những xung đột nội bộ Congo. Ông kêu gọi Liên Hiệp Quốc giúp ổn định trật tự tại Congo. Sau khi quân độc Liên Hiệp Quốc đổ bộ xuống Congo, Lumumba còn đi xa hơn khi đòi trục xuất toàn bộ quân đội Bỉ chưa rút hết khỏi Congo, nếu không ông ta sẽ cầu cứu Liên-Xô. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh đang ở cao điểm, việc Lumumba cầu cứu Liên-Xô là một thách thức lớn đối với Mỹ. Sự có mặt của Liên-Xô ngay trong trái tim của Phi châu đối với Mỹ là một sự kiện không thể chấp nhận được. Tổng thống Eisenhower không muốn thấy một Cuba tại Phi châu nên đã quyết định loại trừ Lumumba bằng mọi cách, kể cả ám sát nếu cần. Mỹ mua chuộc được Joseph Mobutu, một phụ tá tin cẩn Lumumba và cũng là đương kim tổng tham mưu trưởng quân đội để thực hiện cuộc đảo chánh không đổ máu. Một trong những hành động đầu tiên của Mobutu là trục xuất các nhà ngoại giao Liên-Xô và các quốc gia thuộc khối cộng sản ra khỏi Congo. Lumumba bị bắt, bị tù và cuối cùng bị phe Katanga thù địch thân Bỉ giết chết lúc 10 sáng 17 tháng Giêng 1961.

Việc thiếu tin tưởng vào Tây phương và Mỹ đã dẫn Lumumba đến những quyết định sai lầm, không thực tế trong thời gian ngắn lãnh đạo Congo và bản thân Lumumba cũng chịu trách nhiệm một phần không nhỏ cho tình trạng xáo trộn của Congo, tuy nhiên, không thể phủ nhận tinh thần yêu nước, lập trường chống thực dân kiên quyết mà ông đã theo đuổi từ những ngày còn nhỏ. Sau khi Lumumba bị giết hàng trăm cuộc biểu tình chống Bỉ được phát động khắp thế giới. Patrice Emery Lumumba đã trở thành biểu tượng cho khát vọng độc lập của nhân dân Congo và nhiều chính đảng tại Congo hiện nay mang tên ông. Từ đó cho đến ngày 17 tháng 5 1997, Congo nằm trong tay của nhà độc tài tham nhũng Joseph Mobutu.

Mobutu Sese Seko Nkuku Ngbendu wa Za Banga (1965 – 1997)

Mobutu Sese Seko Nkuku Ngbendu wa Za Banga hay viết gọn là Mobutu Sese Seko, với tên trong khai sinh là Joseph Mobutu sinh ngày 14 tháng 10 1930 tại Lisala, một tỉnh Congo thuộc Bỉ. Cha mất sớm nhưng Mobutu đã xoay xở để theo học trong các trường đạo cho đến khi bị trục xuất vì lý do hạnh kiểm. Mobutu đăng lính. Với trình độ học vấn sẳn có và nói thạo tiếng Pháp, trong quân đội Mobutu được huấn luyện nghề thư ký kế toán tại tổng hành dinh của Lực lượng Công cộng. Mobutu được phong tới chức thượng sĩ, chức vụ cao nhất mà một người lính Congo được phong. Sau khi trở về đời sống dân sự Mobutu đi làm báo. Với tính thông minh, lanh lợi, Mobutu quen biết nhiều người, nhiều phe nhóm trong đó có cả nhà cách mạng chống thực dân Patric Emery Lumumba lẫn các nhân viên tình báo CIA. Mặc dù chưa bao giờ trực tiếp tham gia chống thực dân hay các phong trào cách mạng giành độc lập Mobutu đã vận dụng sự quen biết để tạo một vị trí chính trị lẫn quân sự vững chắc cho mình trong giai đoạn chuyển tiếp tranh tối tranh sáng tại Congo.

Sau khi chính thức nắm toàn quyền lãnh đạo Congo từ 1965, Mobutu lần lượt loại bỏ ra ngoài vòng pháp luật tất cả đảng phái, ngoài trừ Phong trào Nhân dân Cách mạng (Movement Populaire de la Revolution, MPR) do chính ông ta lập ra. Trong suốt 32 năm cai trị Congo, Mobutu dành dụm cho mình một tài sản được ước tính khoảng 5 tỉ Dollar trên sự nghèo đói cùng cực của đại đa số dân Congo. Con số 5 tỉ này tương đương với toàn bộ số nợ mà Congo phải vay mượn thế giới.

Những lời tung hô lãnh tụ đầy tính nịnh bợ, các khẩu hiệu tuyên truyền dối trá nhưng rất êm tai Mobutu nghe được trong những dịp viếng thăm các quốc gia cộng sản như Trung Quốc, Bắc Hàn, Rumania, hấp dẫn y đến nỗi khi về nước một trong việc làm đầu tiên của Mobutu không phải xây cầu, đắp đập mà là hình thành ngay một tư tưởng Mobutu. Mobutu ra lịnh thay đổi tên đường, tên phố, quốc kỳ, quốc ca, và tháng 10-1971 thay cả tên nước. Báo chí quốc doanh ca tụng Mobutu như một bậc tiên tri. Mobutu, người bị tố cáo đã giao nộp Lumumba cho phe Katanga giết để tránh tiếng sát nhân, phục hồi danh dự cho Lumumba. Y làm việc này không phải phát xuất từ sự kính phục lòng yêu nước của Lumumba, mà để giải tỏa dư luận, và đồng thời để tự phong mình là nhân vật số hai trong lịch sử Congo, sau Lumumba, có công giành độc lập.

Bạn thân nhất của Mobutu là nhà độc tài Nicholas Ceauşescu của Romania. Quan hệ của hai nhà độc tài không chỉ giới hạn ở cấp đảng, nhà nước mà cả cá tính thích sùng bái cá nhân cùng cực. Mobutu cũng thán phục chính cá tính độc lập của Nicholas Ceauşescu đối với Liên-Xô. Sự thân thiết của giữa Mobutu và Nicholas Ceauşescu phổ biến đến mức trong các câu chuyện trào phúng tại Congo, Mobutu Sese Seko được gọi thành Mobutu Sesesescu. Tháng 11-1996, Laurent-Desire Kabila với sự yểm trợ của Burundi, Uganda, Rwanda, đã phát động chiến tranh được gọi là chiến tranh Congo thứ nhất nhằm lật đổ Mobutu. Mobutu đang bị bịnh ung thư tiền liệt tuyến vào giai đoạn cuối, không chống trả nổi, phải lưu đày sang Morocco và chết một thời gian ngắn sau đó.

Laurent-Desire Kabila (1997 – 2001)

Một trong những kẻ thù thuộc loại kỳ cựu của Mobutu là Laurent-Desire Kabila, một lãnh tụ cộng sản hoạt động từ thời Lumumba. Trong thời gian Lumumba làm Thủ tướng, Laurent-Desire Kabila là một lãnh tụ thanh niên có trình độ đại học của một đảng nhỏ liên minh với Phong trào Quốc gia Congo của Lumumba trong quốc hội. Khi Lumumba bị giết, Kabila trốn vào rừng và thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Congo. Với sự yểm trợ võ khí của Trung Quốc, Kabila dù chỉ mới 24 tuổi, tuyên bố thành lập chính phủ ly khai theo chế độ cộng sản tại tỉnh Nam Kivu, phía tây hồ Tanganyika.

Năm 1965, Kabila liên kết với một trong những người cộng sản nhiều huyền thoại nhất của Mỹ châu là Che Guevara. Che nhận xét, trong số những người ông ta gặp, Kabila là ngưòi có nhiều điều kiện để lãnh đạo quần chúng. Kabila có tương lai vì tuổi còn rất trẻ và từng theo học triết học tại đại học ở Pháp. Tuy nhiên, cách sống xa hoa, chìm đắm trong rượu chè và chỉ biết quanh quẩn với gái của lãnh tụ cộng sản Kabila đã làm Che thất vọng và cuối cùng bỏ đi vào cuối năm 1965. Nhà nước cộng sản nhỏ nhoi nầy bị Mobutu càn quét và tan vỡ. Báo chí và cả Mobutu đều nghĩ rằng Kabila đã chết, nhưng không, ba mươi năm sau, Kabila lại xuất hiện và lần nầy lãnh đạo một liên minh quân sự của nhiều nước dưới danh nghĩa Liên minh Các Lực lượng Dân chủ Giải phóng Congo (Alliance des Forces Democratiques pour la Liberation du Congo-Zaire). Quân đội của liên minh đánh bại quân đội của Mobutu chỉ trong vòng vài tháng, và Kabila chiếm thủ đô Kinshasa ngày 20 tháng 5 năm 1997.

Sau khi đánh bại Mobutu, Kabila tự phong là chủ tịch nước đứng đầu một chính phủ cứu nguy dân tộc và đổi tên nước là Cộng hòa Dân chủ Congo như đang được gọi hiên nay. Cuộc đời 30 năm sống trong bí mật của Laurent-Desire Kabila cho đến nay cũng còn nhiều huyền bí vì khi còn sống Kabila thường đánh trống lảng khi được hỏi về quá khứ của mình. Tuy nhiên theo các phóng viên điều tra trong đó có ABC News, lãnh tụ cộng sản Kabila và phe phiến loạn của ông đã sống bằng việc giết voi để lấy ngà, đào mỏ, buôn vàng, kim cương qua ngã Burundi, một nước nhỏ trên biên giới phía đông của Congo và cả bắt cóc người để tống tiền, trong đó ít nhất một người là Mỹ. Nhân dân Congo tránh vỏ dưa gặp phải vỏ dừa vì tham vọng của nhà độc tài Maoist Laurent-Desire Kabila không kém gì của Mobutu. Các nhóm dân chủ thật sự đều rút ra khỏi liên minh hay bị loại bỏ. Laurent-Desire Kabila bị một cận vệ ám sát ngày 18 tháng Giêng 2001. Con trai Laurent-Desire Kabila là Joseph Kabima được trao quyền Tổng thống thay cha.

Joseph Kabila và quan hệ Trung Quốc (từ 2001)

Joseph Kabila lên kế vị cha nắm chức vụ Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo khi chỉ mới 29 tuổi. Tuổi thơ ấu của ông ta cũng có nhiều huyền bí. Joseph Kabila sinh khoảng tháng 4-1971 tại một nơi nào đó hoặc miền đông Congo hay tại Tanzania. Mẹ của ông ta là vợ thứ ba của Laurent-Desire Kabila. Tuy còn trẻ nhưng Joseph Kabila tỏ ra khôn khéo về ngoại giao hơn cha. Trong chuyến thăm viếng Mỹ theo lời mời của Tổng thống George Bush sau khi được quốc hội Congo giao quyền Tổng thống, Josehp Kabila mong muốn có một Congo hòa bình sau khi đã trải qua hai cuộc chiến, Congo thứ nhất từ 1996 đến 1997 và Congo thứ hai từ 1998 đến 2003, với trên 4 triệu người chết. Trong buổi tiếp xúc Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell, Joseph Kabila cũng hứa hẹn sẽ có những cải cách dân chủ và nhân quyền tại Congo. Tháng 12-2005, một cuộc trưng cầu dân ý Congo chấp thuận một hiến pháp mới. Josehp Kabila ghi danh ứng cử với tư cách độc lập. Đối thủ của Joseph Kabila là Jean-Pierre Bemba, cựu phó Tổng thống và cũng là bạn chiến đấu của cha ông ta. Vì vòng đầu cả hai đều không đạt tỉ lệ trên 50 phần trăm như luật bầu cử quy lịnh, cuộc bầu cử phải tiến vào vòng hai, và lần nầy Kabila đắc cử Tổng thống với 58.5 phần trăm tổng số phiếu bầu. Còn khá sớm để đánh giá Joseph Kabila liệu có trở thành một Mobutu hay Laurent-Desire Kabila hay không, nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy Joseph Kabila đã có nhiều thay đổi như việc sắp xếp lại cơ cấu hành chánh và cho về hưu các viên chức quá già trong hệ thống công quyền. Joseph Kabila có quan hệ mật thiết với Trung Quốc. Khi vào tuổi 25, Joseph Kabila đã từng là tư lịnh binh đoàn Kadogos nổi tiếng đánh chiếm thủ đô Kinshasa. Sau khi cha làm Tổng thống, Joseph Kabila được gởi sang Trung Quốc để theo học quân sự tại Đại học Quốc phòng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh. Xa hơn nữa, quan hệ mật thiết giữa Trung Quốc và gia đình Kabila bắt đầu từ khi Joseph Kabila chưa ra đời. Bản thân Kabila cha là một Maoist và công khai bày tỏ lòng kính phục đối Mao Trạch Đông. Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Joseph Kabila vào 22 tháng 3-2002, chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân cũng nhắc lại tình hữu nghị cố cựu giữa cha con Kabila và Trung Quốc. Uống nước nhớ nguồn, Josheph Kabila cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc vì đã hết lòng ủng hộ cha con ông ta trong giai đoạn khó khăn dài trước đó.

Chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc tại Phi châu

Sau khi thiết lập chế độ cộng sản tại lục địa Trung Hoa, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu tìm cách tạo ảnh hưởng tại Phi châu thể hiện qua các chuyến viếng thăm châu Phi ba tuần của Thủ tướng Chu Ân Lai và ngoại trưởng Trần Di vào đầu năm 1964. Tuy còn rất nghèo nàn nhưng đối với các phong trào du kích tại nhiều nước Á, Phi, Trung Quốc được xem như là ngọn hải đăng cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Trung Quốc sử dụng lý luận cách mạng để tạo ảnh hưởng và củng cố vị trí quốc tế qua việc khuyến khích các cuộc nổi dậy võ trang dưới hình thức cách mạng nhân dân tại các quốc gia đang đấu tranh vì độc lập hay vừa được trao trả độc lập nhưng chưa ổn định. Trong thập niên 50 và đầu thập niên 60, ngoài một số vũ khí phần lớn là chế tạo rập theo khuôn mẫu của Liên-Xô, Trung Quốc là một nước lạc hậu về kinh tế kỹ thuật. Vốn liếng và võ khí mạnh nhất của Trung Quốc là lý luận cách mạng chống thực dân đế quốc.

Tại đại hội Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 9-1962, Mao nhấn mạnh sự liên hệ giữa đấu tranh giai cấp trong nước phải được tiến hành đồng thời với việc yểm trợ các cuộc tranh đấu võ trang của các nước khác. Về mặt chính trị, Trung Quốc tích cực tham gia Hội nghị Bandung lịch sử, diễn ra từ 18 đến 24 tháng Tư 1955 tại thành phố Bandung, Nam Dương và sau đó một thời gian ngắn là sự ra đời của Phong trào các Quốc gia không Liên kết.

Về mặt quân sự, các phong trào Maoist được Trung Quốc võ trang hình thành khắp nơi, không những trong các quốc gia đang là thuộc địa, các quốc gia đã được trao trả độc lập mà cả những quốc gia chưa từng bị thuộc đia. Trung Quốc huấn luyện du kích quân thuộc phong trào FRELIMO tại Mozambique, PAIGC tại Guinea, ZANU in Rhodesia (Zimbabwe), ANC tai Nam Phi. Năm 1963, Trung Quốc gởi quân dụng và vũ khí đến các lực lượng du kích đang hoạt động tại miền đông Congo dưới sự lãnh đạo của Antoine Gizenga, nguyên là một bộ trưởng trong chính phủ Lumumba, chống lại Mobutu thân Mỹ. Điểm đặc biệt, khác với Liên-Xô và Mỹ, Trung Quốc nhắm vào các mục đích đầu tư dài hạn nên võ khí tặng cho các phong trào Maoist phần lớn đều dưới hình thức cho không.

Cuối thập niên 50, lý luận “giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc” không còn hiệu quả vì phần lớn các nước đã giành được hay được trao trả độc lập, Trung Quốc chuyển hướng đấu tranh sang việc phát động phong trào chống thực dân mới và đế quốc Mỹ. Trung Quốc cảnh cáo các nước Á, Phi, độc lập chính trị chỉ là bước đầu trong tiến trình giải phóng đất nước, quan trọng là phải có độc lập về kinh tế. Một số thỏa hiệp kinh tế, dù rất tượng trưng, đã được ký kết giữa Trung Quốc và các quốc gia như Ghana, Guinea, Mali, Tanzania. Trong nội bộ phong trào cộng sản thế giới Trung Quốc tấn công vào chủ nghĩa xét lại Khrushchev.

Để chứng tỏ Trung Quốc không chỉ là một mớ lý luận và những võ khi thô sơ, giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngần ngại thực hiện vài đề án lớn với một số nước Phi châu như trường hợp đề án đường rầy xe lửa Tanzam nối liền Zambia và bờ phía đông của Tanzania năm 1970. Đề án Tanzam được xem như là một đề án lớn nhất của Trung Quốc thời bấy giờ với kinh phí 500 triệu Dollar để xây dựng một hệ thống đường xe lửa dài 1870 kí lô mét từ Dar es Salamm đến khu vực mỏ quặng chính của Zambia. Số nhân công được sử dụng gồm 50 ngàn tuyển mộ từ Tanzania và 25 ngàn được đưa sang từ Trung Quốc. Bất chấp nắng mưa, chết chóc, 75 ngàn người đã làm việc suốt 5 năm dài, bắt 300 cầu, đào thông 23 hầm và đặt 147 trạm xe lửa. Đề án được Trung Quốc ca ngợi như một thành công vĩ đại vào năm 1975 mặc dù Trung Quốc biết cả vốn lẫn lời có thể đều không thu lại được. Trung Quốc thực hiện đề án Tanzam không nhằm theo đuổi mục đích lợi nhuận kinh tế nhưng qua đó thiết lập một đầu cầu quan trọng cho việc đổ bộ ồ ạt vào Phi châu trong đầu thiên niên kỷ này và đồng chứng tỏ cho các lãnh đạo các nước Phi châu thấy không chỉ có Mỹ hay Liên-Xô mới khả năng thực hiện các đề án lớn.

Các chính sách đổi mới kinh tế của Đặng Tiểu Bình bắt đầu thập niên 80, về mục tiêu có nhiều thay đổi, nhưng một số điểm trong chính sách đối với châu Phi thời Mao vẫn được duy trì. Giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc sử dụng và khai thác lịch sử như một vũ khí chiến lược để phục vụ cho mục tiêu bành trướng. Trung Quốc vẫn lặp đi lặp lại khẩu hiệu hợp tác hữu nghị, tình đồng chí anh em thắm thiết giữa các quốc gia cùng cảnh ngộ được như Chu Ân Lai đã tuyên bố từ Hội nghị Bandung hơn nửa thế kỷ trước, có khác chăng các lãnh tụ phiến loạn ngày xưa nay đã là những tổng thống và Trung Quốc, lãnh tụ của thế giới thứ ba nghèo khổ, nay là một siêu cường.

Các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốctại Phi Châu

1. Thỏa mãn nhu cầu năng lượng và nguyên liệu

Phát triển kinh tế đòi hỏi trước hết là nguyên liệu. Sự thất thoát và lãng phí nguyên vật liệu trong sản xuất đã làm nhu cầu nguyên liệu của Trung Quốc vốn đã thiếu hụt lại càng thiếu hụt trầm trọng hơn. Để đuổi kịp các nước tư bản phát triển và vượt qua những khiếm khuyết trong sử dụng nguyên liệu, giới lãnh đạo kinh tế Trung Quốc không áp dụng các phương pháp kinh doanh truyền thống mà Mỹ và các nước Tây Âu đã và đang áp dụng. Các chuyên viên đặt hàng của các công ty Trung Quốc không ngồi trong các phòng có gắn máy lạnh, trước máy vi tính và mua nguyên vật liệt từ các thị trường nguyên liệu quốc tế mà đến tận nơi, mua tận gốc và mua với giá rẻ nhất. Tệ hại hơn cả các chế độ thực dân trước đây, Trung Quốc vơ vét đủ cách, đủ kiểu, chính thức qua các hợp đồng nhà nước và không chính thức qua trung gian các công ty thầu thu mua do người bản xứ điều hành. Các công ty Trung Quốc bất chấp các nguyên tắc, luật lệ lao động và họ không quan tâm các bao quặng kia do ai đào ra, dù từ bàn tay của một phụ nữ Congo đang cõng trên lưng một đứa bé sơ sinh hay một em Adon Kalenga chỉ mới 13 tuổi.

2. Giải quyết nạn thặng dư dân số tại Trung Hoa lục địa

Nội dung của chủ nghĩa bành trướng thế giới của Trung Quốc không chỉ giới hạn về kinh tế mà đồng thời để giải quyết được nạn thặng dư dân số tại nội địa Trung Quốc. Dân số Trung Quốc theo thống kê tháng 7-2008 là 1 tỉ 330 triệu người. Trong 20 năm qua, việc thực thi chính sách kiểm soát dân số mỗi gia đình một con khá hữu hiệu đã giúp mức gia tăng dân số chậm lại tại mức 0.65 phần trăm mỗi năm. Nếu cứ tiếp tục duy trì chính sách hạn chế sinh đẻ như hiện nay, nghĩa là cứ hai người lớn tuổi mới có một em bé, số lượng người già trong dân số Trung Quốc theo tỉ lệ sẽ tăng nhanh hơn số lượng trẻ em. Theo các nhà phân tích dân số, nếu mức phát triển dân số không thay đổi, trong tương lai không xa Trung Quốc sẽ là một viện dưỡng lão khổng lồ.

Việc thỏa mản các nhu cầu an sinh, xã hội, y tế cho nhiều trăm triệu người già không còn khả năng lao động, là một viễn ảnh đầy lo sợ của giới lãnh đạo Trung Quốc. Theo báo Sunday Times xuất bản tại Anh số tháng Hai 2008, một chuyên viên về Trung Quốc ước lượng rằng chính phủ Trung Quốc cần phải đưa ra khỏi Trung Hoa lục địa 300 triệu người mới có thể giải quyết nạn thặng dư dân số. Đưa đi đâu? Bất cứ nơi nào, nhưng nơi di dân thích hợp nhất của thời đại ngày nay không đâu khác hơn là Phi châu đất rộng, người thưa, tài nguyên phong phú. Trung Quốc cũng tìm cách truyền bá tiếng phổ thông Trung Quốc sang các nước Phi châu. Mặc dù rất khó học, các lớp dạy tiếng Trung Quốc được mở khắp mọi nơi. Chính phủ Trung Quốc ước lượng sẽ có 100 triệu người nước ngoài, hẳn nhiên đa số sẽ từ châu Phi, nói tiếng Trung Quốc. Tại Kenya còn có một học viện mang tên Viện Khổng Tử chuyên dạy về văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc.

Theo phân tích của các tác giả tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (the Center for Strategic and International Studies) trong tổng kết China the Balance Sheet, Trung Quốc là một nước già, và vào giữa thế kỷ này Trung Quốc sẽ có 349 triệu cao niên. Hệ thống dưỡng lão tại Trung Quốc ngày nay vẫn còn theo kiểu con cái phụng dưỡng cha mẹ già nhưng 30 năm nữa một người trẻ phải phụng dưỡng bốn người già. Tình trạng mất cân đối giới tính trong dân số Trung Quốc cũng là một mầm mống khác cho những bất ổn xã hội tương lai. Mặc dù trên giấy tờ chính phủ Trung Quốc nghiêm cấm việc phá thai dựa theo giới tính nhưng tình trạng phá thai một cách bất nhân khi đã biết bào thai là còn gái vẫn xảy ra rất phổ biến tại Trung Quốc. Điều đó dẫn đến tình trạng trai thừa gái thiếu. Phương pháp để giải quyết tình trạng đó là mua vợ từ các nước Á châu khác.

3. Xuất cảng hàng hóa tiêu dùng

Không giống các quốc gia Tây phương, viện trợ và đầu tư được tính toán một cách cân đối dựa trên nhu cầu ngắn hạn và dài hạn của một quốc gia, trong đó có đầu tư về giáo dục, huấn luyện nghề nghiệp, khoa học kỹ thuật, các đầu tư của Trung Quốc nhắm nhiều nhất vào các mục đích tiêu dùng và dịch vụ như phi trường, sân vận động. Tập sang nghiên cứu China Monitor của Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc tại Congo cho rằng việc Trung Quốc xây dựng các công trình chẳng khác mang cá đến cho người dùng mà không chỉ cho họ cách để tự đánh cá.

Như một nước nông nghiệp với nhiều triệu dân là những người tỵ nạn chiến tranh vừa mới hồi cư, sản phẩm công nghiệp Congo không phải là đối thủ cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc. Đường phố Lubumbashi, thủ phủ tỉnh Katanga, là một phố Tàu lớn với các cơ sở thương mại Trung Quốc, từ các ngân hàng, các công ty lớn cho đến các nhà hàng, tiệm ăn, tiệm tạp hóa và cả tiệm thuốc bắc. Về hàng hóa, không chỉ đồng hồ, TV, radio, điện thoại mà ngay cả loại vải truyền thống nhiều màu mà phụ nữ Phi châu ưa chuộng, vốn là đặc sản Congo, cũng được may từ Trung Quốc đem sang. Ngoài việc đánh gục hàng nội địa, các công ty Trung Quốc còn cạnh tranh với cả hàng nhập cảng. Công ty điện thoại di động Congo Chinese Telecomps (CTT) bán các điện thoại phẩm chất không thua kém các công ty lớn thế giới nhưng giá rất thấp so với các sản phẩm nhập từ Mỹ hay châu Âu.

Mua chuộc và bao che cấp lãnh đạo để khai thác lâu dài

Các lãnh đạo Phi châu không phải là không biết thâm ý của Trung Quốc nhưng họ vẫn muốn hợp tác kinh tế với Trung Quốc hơn là các nước Tây phương. Như đã trình bày, hợp tác với Trung Quốc, các lãnh đạo Phi châu không phải bận tâm về các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền vì chính sách của Trung Quốc không can thiệp vào nội bộ của các nước khác. Trong khi các vấn đề nhân quyền đã đẩy các công ty phương Tây ra khỏi châu Phi thì Trung Quốc trở thành nước độc quyền đầu tư và khai thác kinh tế. Ngoài ra, hợp tác với Trung Quốc không phải thông qua các thủ tục, các điệu kiện phức tạp như khi vay tiền của IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế). Thảo luận hay ký kết các hợp đồng thương mại với các công ty Trung Quốc cũng chẳng khác gì ký kết với chính phủ Trung Quốc và do đó không cần phải thông qua sự chấp thuận của chính phủ hay quốc hội, nếu có cũng chỉ là vấn đề thủ tục. Trung Quốc ưu đãi, bao che và nếu cần sẽ sẵn sàng tiếp tay cho giới lãnh đạo để đàn áp các thành phần đối lập, các tầng lớp nhân dân. Giống như chế độ thực dân đế quốc trước đây, Trung Quốc nuôi dưỡng, bao che, cung cấp cho giới lãnh đạo Phi châu tiền bạc, súng đạn, an ninh cá nhân và bảo vệ chế độ bằng sử dụng quyền phủ quyết trong các cơ quan quốc tế như Liên Hiệp Quốc.

Quan hệ Trung Quốc và Congo

Riêng với Congo, năm 1964, Mao Trạch Đông đã tuyên bố “Nếu chúng ta có được Congo, chúng ta sẽ có được cả Phi châu”. Về mặt lịch sử, người Trung Quốc có mặt ở Congo từ lâu lắm. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích người Trung Quốc có mặt tại Phi châu từ thế kỷ thứ sáu. Trong thế kỷ 18, thời kỳ vua Leopold cai trị Congo, nhiều ngàn người Hoa đã bị đưa tới để làm đường rầy xe lửa. Đa số đã bị chết vì đói khát hay kiệt sức lao động, một số ít sống sót đã chạy về các thành phố. Tức khắc sau khi Bỉ trao trả độc lập cho Congo, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã gởi điện văn chúc mừng Thủ tướng Lumumba và công nhận Congo độc lập. Tuy nhiên hai quốc gia sau đó đã có xung đột ngoại giao khi Tổng thống Kasavubu thiết lập quan hệ ngoại giao với Đài Loan. Để trả đũa, Trung Quốc gởi võ khí cho quân đội của Gizenga đang chống lại chính quyền Congo trung ương của Kasavubu và Mobutu.

Sau khi loại bỏ Tổng thống Kasavubu, siết chặt quyền lãnh đạo tại Congo, Mobutu bắt đầu có có tham vọng lãnh đạo cả lục địa Phi châu. Để làm được điều đó nhà độc tài xứ Congo cần phải hòa hoãn với Trung Quốc, quốc gia có ảnh hưởng nhất trong Phong trào các Quốc gia không Liên kết. Congo và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao 1972. Cũng trong năm này, Mobutu công nhận đàn em thân tín của Trung Quốc là Bắc Hàn. Mobutu thăm Trung Quốc 5 lần trong khoảng thời gian từ 1973 đến 1994. Đáp lại, từ 1973, các lãnh đạo đảng và nhà nước Trung Quốc viếng thăm Congo, đầu tiên với Ngoại trưởng Hoàng Hoa thăm Congo 1978, đến phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm đến Congo 1979. Trung Quốc nắm lấy cơ hội các quốc gia dân chủ Tây phương và Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter bắt đầu tẩy chay chế độ độc tài Mobutu để gây ảnh hưởng với Mobutu. Năm 1983, Trung Quốc tuyên bố hủy bỏ số nợ 100 triệu Dollar Congo đã vay của Trung Quốc, ngoài ra còn gởi khoảng 1 ngàn chuyên viên Trung Quốc sang làm việc trong các đề án nông và lâm nghiệp tại Congo.

Khi nhà độc tài Mobutu bị Laurent-Desire Kabila lật đổ, quan hệ hai quốc gia chẳng những không gián đoạn mà còn được củng cố vững chắc thêm. Quan hệ giữa Tổng thống Laurent-Desire Kabila và Bắc Kinh không chỉ là quan hệ giữa hai nước mà còn là quan hệ đồng chí anh em vì Laurent-Desire Kabila vốn là một nhà Maoist và đã từng được Mao yểm trợ võ khí khi còn ở trong rừng. Chỉ một thời gian ngắn sau khi lật đổ Mobutu, Tổng thống Congo Laurent-Desire Kabila lên đường viếng thăm Bắc Kinh. Khi Laurent-Desire Kabila bị ám sát, con trai của ông ta lên làm Tổng thống cũng đã thăm Trung Quốc để xin viện trợ, và đổi lại Trung Quốc được hưởng nhiều đặc quyền khai thác quặng mỏ, nhất là đồng và cobalt. Trung Quốc bắt đầu xây dựng hệ thống đường sá, khách sạn, phi trường, nhà máy điện, cơ sở giáo dục cho Congo, cũng như khai thác gỗ và dần dần lan đến các đề án nông nghiệp, ngay cả cà-phê, đường, cây trái.

Cuối tháng 9-2007, Trung Quốc ký với Congo một hợp đồng được xem là lớn nhất từ trước đến nay với một quốc gia Phi châu. Tổng giá trị của hợp đồng lên đến 9.25 tỉ Dollar. Ngân hàng Xuất nhập Cảng Trung Quốc Exim (Export-Import Bank of China) đã đồng ý cho Congo vay để tân trang hệ thống đường sá tại Congo. Đổi lại, Trung Quốc được quyền khai thác 10.6 triệu tấn đồng và 626,619 tấn cobalt. Theo nội dung của hiệp ước khai thác quặng, được đàm phán tại Bắc Kinh giữa luật sư Pual Fortin thay mặt cho công ty quốc doanh Gecamines của Congo và chính phủ Trung Quốc, số tiền sẽ được chi thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 3 năm phù hợp với tiến trình xây dựng và khai thác quặng mỏ. Sau thời gian 10 năm, vai trò độc quyền của Trung Quốc sẽ chấm dứt và hai quốc gia sẽ hợp tác với 2 phần 3 thuộc về Trung Quốc và 1 phần 3 thuộc về Congo, để tiếp tục khai thác quặng mỏ. Hiệp ước đã được Quốc hội Congo chấp thuận tháng 5 năm 2008.

Một số nhà phân tích cho rằng đây là một hiệp ước hai bên cùng có lợi vì Congo sẽ có một số cơ sở xây dựng mà họ chưa từng có như Tổng thống Joseph Kabila tuyên bố: “Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Congo có thể thấy những quặng đồng, kẽm của Congo đem về những kết quả tốt”. Tuy nhiên theo luật sư Georges Kapiamba, một trong số ít người đọc được nội dung của thỏa hiệp, cho rằng thỏa hiệp ký kết vào năm 2008 cũng chẳng khác gì “thỏa hiệp” mà Congo phải ký dưới thời vua Leopold đệ nhị của Bỉ. Cộng hòa Dân chủ Congo, trên thực tế sẽ bị thực dân hóa lần nữa. Có khác chăng, vua Leopold chưa bao giờ đặt chân đến Congo nhưng người Hoa sẽ tràn ngập Congo. Congo sẽ được Trung Quốc xây dựng 176 bịnh viện, hai trường đại học, một cảng, 500 chung cư. Đó là những công trình xây dựng lớn, tuy nhiên so sánh giữa gì sẽ nhận về và những gì sẽ mất đi, Congo sẽ bị thiệt hại nhiều hơn. Đừng nói gì đến chủ quyền đất nước và tài nguyên thiên nhiên, chỉ riêng về thu nhập tiền lời, với giá quặng mỏ vẫn còn cao, các nhà phân tích ước lượng, sau thời hạn 10 năm Trung Quốc sẽ thu lại từ 42 tỉ Dollar đến 90 tỉ Dollar.

Trung Quốc trong vai trò thực dân của họ, hơn ai hết mong được thấy một Cộng hòa Dân chủ Congo ổn định để khai thác tài nguyên của quốc gia này, nhưng liệu ước muốn đó có là một hiện thực hay không là điều khó ai biết trước. Lịch sử đã chứng minh Mỹ, Pháp, Anh không bao giờ nhường Phi châu cho Trung Quốc một cách dễ dàng. Khi thỏa hiệp được trình lên Quốc hội Congo tháng 5-2008, 105 nghị sĩ thuộc các đảng đối lập Congo đã bước ra khỏi phòng để phản đối. Tháng 10-2008, lực lượng Tutsi dưới quyền của tướng Laurent Nkunda đánh bại các lực lượng chính phủ Cộng hòa Dân chủ Congo và có ý định tiến về phía khu hầm mỏ Congo. Tướng Nkunda tuyên bố một trong những điều kiện đàm phán giữa ông ta và chính phủ của Tổng thống Joseph Kabila là Congo phải hủy bỏ hiệp ước 9 tỉ Dollar với Trung Quốc. Mặc dù tướng Nkunda vừa bị bắt cách đây 3 tháng nhưng các thành phần chống chính phủ vẫn còn rất mạnh. Thỏa hiệp kinh tế 9 tỉ Dollar vì thế đã trở thành con tin cho cuộc tranh chấp giữa nhiều phe phái. Máu có thể sẽ đổ lần nữa trên đất Congo và giống như hàng trăm năm qua, giọt máu đầu tiên hay cuối cùng cũng chỉ là máu của nhân dân Congo vô tội.

Và Việt Nam?

Bên cạnh nhiều điểm khác nhau về mức độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, địa lý chính trị, hai dân tộc Congo và Việt Nam có chung nhiều điểm bất hạnh giống nhau. Cobalt Congo và Bauxite Việt Nam đều là bước đầu của chủ nghĩa bành trướng của thực dân đỏ Trung Quốc, và viễn ảnh đen tối bị lệ thuộc lâu dài vào Trung Quốc là điều có thực.

Giống như Congo, dân tộc Việt Nam cũng trải qua một cuộc chiến tranh dài, với số người chết gần bằng nhau, và cả hai dân tộc đều nằm dưới sự cai trị của một giới lãnh đạo tự nguyện đặt mình dưới sự bảo hộ của Trung Quốc. Bởi vì, chỉ có cộng sản Trung Quốc mới làm ngơ trước các hành động bỏ tù, tra tấn, chặt tay, bịt miệng người dân, chỉ có cộng sản Trung Quốc mới im lặng khi giới cầm quyền sống xa hoa, phung phí trên máu xương, mồ hôi nước mắt của nhân dân, và chỉ núp dưới bóng của cộng sản Trung Quốc giới lãnh đạo có mới thể kéo dài quyền cai trị đất nước. Giống như Congo, Việt Nam cũng có tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào, lẽ ra hôm nay đã thành một con rồng, con phụng ở Á châu, nhưng không, Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo về kinh tế và có một cơ chế chính trị còn lạc hậu hơn cả Congo.

Dân tộc Việt Nam, sau bao nhiêu năm nguyền rủa, van xin, đánh thức lương tâm của giới lãnh đạo cộng sản bằng bao nhiêu bức tâm thư, bao nhiêu lời thỉnh nguyện. Tất cả chỉ là những giọt nước rơi vào biển cả, không tạo được âm vang, không gây nên chút sóng. Đảng Cộng sản đã chọn lựa cho họ một con đường riêng để tồn tại thì dân tộc Việt Nam cũng phải biết đứng lên để thay đổi vận mệnh của chính mình. Lịch sử nhân loại chứng minh, những kẻ độc tài thường không bước xuống theo nguyện vọng nhân dân, họ chỉ chết già trong quyền lực hay bị lật đổ.

Trần Trung Đạo

Tham khảo

- Richard Dowden, Africa, Altered States, Ordinary Miracles, Public Affairs, New York 2008
- Adam Hochschild, King Leopold’s Ghost: A Story of Greed, Terror, and Heroism in Colonial Africa, Mariner Books 1999.
- Arthur Conan Doyle, The Crime of the Congo, London Hutchinson & Co, 1909
- Martin Meredith, The Fate of Africa, Public Affairs 2005
- Princeton Lyman, Director of Africa Policy Studies, Council o­n Foreign Relation, China’s Rising Role in Africa, July 2005
- Center for Strategic and International Studies and the Peter G. Peterson Institute for International Economics, China: The Balance Sheet, Public Affairs 2007
- David Pugh, Chinese Foreign Policy during the Maoist Era and its Lessons for Today
- Peter Hitchens, How China has created a new slave empire in Africa, Mail 28th September 2008
- Wenran Jiang, Chinese Inroads in DR Congo: A Chinese “Marshall Plan” or Business?, The Jamestown Foundation, Jan 12 – 2009.
- Amb David H. Shinn, China’s Relations with Zimbabwe, Sudan, and the Democratic Republic of the Congo
- Hannah Edinger & Johanna Jansson, Center for Chinese Studies, China and the Democratic Republic of Congo:Partners in Development? October 2008
- Simon Clark, Michael Smith and Franz Wild, China Lets Child Workers Die Digging in Congo Mines for Copper, Bloomberg, July 22 – 2008.
- Richard Behar, Mineral Wealth of the Congo, June 1 2008
- F William Engdahl, China’s US$9bn hostage in the Congo war, Asia Times, Dec 2 – 2008
Jon Swain, Africa, China’s new frontier Time, February, 10-2008



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 312 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 309 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 291 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 290 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 280 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 250 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 238 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 228 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 227 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 225 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.