 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
2 |
 |
Lượt truy cập: |
29290002 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Người TQ cướp súng băn chết một thiếu tá và một thiếu úy bộ đội biên phòng CSVN
18.04.2014 14:01
Trưa 18-4, lực lượng An ninh và Biên phòng cửa khẩu Bắc Phong Sinh, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện và bắt giữ 19 người Trung Quốc vượt biên trái phép vào Việt Nam. Trong quá trình bị bắt giữ, một người Trung Quốc đã cướp súng của nhân viên an ninh bắn vào đoàn người làm ba người Trung Quốc thiệt mạng. Sau đó người này cũng dùng súng bắn vào đầu tự sát.
Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, vụ việc xảy ra vào khoảng hơn 12g trưa nay 18-4.Sự việc bắt đầu từ việc lực lượng an ninh cửa khẩu Bắc Phong Sinh phát hiện một nhóm 19 người Trung Quốc, trong đó có cả phụ nữ đang cố vượt biên trái phép vào lãnh thổ Việt Nam. Lực lượng an ninh đã đưa nhóm người này vào trụ sở của cửa khẩu để lấy thông tin, làm rõ vụ việc và làm thủ tục trao trả cho phía Trung Quốc. Trong lúc đang tiến hành lấy thông tin, một người Trung Quốc đã dùng dao chém trọng thương một nhân viên an ninh tại cửa khẩu, cướp súng của nhân viên này và xả đạn bừa bãi. Hậu quả làm ba người Trung Quốc trong nhóm người nhập cảnh trái phép này thiệt mạng, cán bộ an ninh của cửa khẩu Bắc Phong Sinh trọng thương. Sau đó người đàn ông Trung Quốc này đã dùng súng tự sát. Cửa khẩu Bắc Phong Sinh vẫn chưa cung cấp danh tính của người đàn ông Trung Quốc này. Lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Ninh cho biết đang họp bàn về vụ việc và sẽ cung cấp thông tin cho báo chí sau. Ngay sau khi vụ việc xảy ra, lãnh đạo Đồn Biên phòng cửa khẩu Bắc Phong Sinh đã liên lạc với các cơ quan chức năng Trung Quốc phối hợp giải quyết vụ việc. Hiện tại Đồn Biên phòng cửa khẩu Bắc Phong Sinh đang trao trả một số người trong nhóm này cho cơ quan chức năng Trung Quốc, số còn lại vẫn được giữ lại để làm việc với cơ quan chức năng. Đến 16 giờ chiều nay 18.4, nhà chức trách Quảng Ninh ra thông báo chính thức về vụ việc nhóm người Trung Quốc vượt biên cướp súng và tấn công lực lượng bộ đội biên phòng Việt Nam làm 2 chiến sĩ hi sinh trước mệnh lệnh trung ương đảng CSVN không cho phép bắn người của thiên triều TQ
Vượt biên, cướp súng ở cửa khẩu, 7 người chếtVào hồi 4h20 sáng ngày 18/4, một nhóm 16 người Trung Quốc gồm 10 nam, 4 nữ và 2 trẻ em đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực cửa khẩu Bắc Phong Sinh (huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh). Nhóm người này đã bị các cơ quan chức năng của Việt Nam phát hiện, bắt giữ và dẫn giải ra cửa khẩu để tiến hành làm các thủ tục trao trả lại phía Trung Quốc theo quy định và thông lệ quốc tế.  | | Ảnh: Tiền Phong. |
Khoảng 12h cùng ngày, trong khi đang làm thủ tục, bất ngờ một vài người đàn ông của nhóm người trên lợi dụng sơ hở của các lực lượng chức năng đã manh động cướp súng và bẻ gẫy chân bàn làm vũ khí, xả súng tấn công, khống chế lực lượng biên phòng Việt Nam, khiến một chiến sĩ biên phòng Việt Nam hy sinh ngay tại chỗ, buộc lực lượng biên phòng Việt Nam phải thực hiện các biện pháp tự vệ chính đáng. Mặc dù lực lượng chức năng phía Việt Nam và Trung Quốc đã kêu gọi, thuyết phục giao nộp vũ khí và đầu hàng nhưng các đối tượng vẫn kiên quyết cố thủ, đập phá trụ sở biên phòng, buộc lực lượng chức năng phải dùng các biện pháp nghiệp vụ để tiếp cận, khống chế và bắt giữ. Các đối tượng đã chống trả, đồng thời tự gây sát thương, một số nhảy lầu tự tử và tự sát. Sự việc trên đã khiến 7 người thiệt mạng (trong đó có 2 chiến sĩ biên phòng Việt Nam) và một số người bị thương (trong đó có 4 chiến sĩ Việt Nam). Ngay sau khi nhận được thông tin, Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ninh đã báo cáo kịp thời các cấp lãnh đạo Trung ương xin ý kiến chỉ đạo và họp khẩn cấp, khẳng định đây không phải là một vụ khủng bố và nhanh chóng chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương giải quyết các vấn đề liên quan nhằm đảm bảo an ninh trật tự, tính mạng của chiến sĩ, công nhân viên chức và nhân dân tại khu vực cửa khẩu; cấp cứu người bị thương; đảm bảo tài sản của nhà nước và nhanh chóng lập lại trật tự tại cửa khẩu Bắc Phong Sinh, đồng thời trao đổi với cơ quan chức năng phía Trung Quốc để phối hợp giải quyết các việc tiếp theo. Tỉnh Quảng Ninh đã thành lập tổ công tác đặc biệt do đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh nhanh chóng đến hiện trường, trực tiếp chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý sự việc. Đến 15h15 cùng ngày, tình hình an ninh trật tự tại khu vực đã được ổn định. Hiện nay, các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ninh đang tích cực phối hợp với cơ quan biên phòng phía Trung Quốc để giải quyết các phần việc tiếp theo theo đúng pháp luật Việt Nam, Trung Quốc và thông lệ quốc tế.  Cửa khẩu Bắc Phong Sinh, nơi xảy ra vụ việc - Ảnh: Hải Sâm
|
Theo đó, lúc 4 giờ 20 phút sáng 18.4, một nhóm 16 người Trung Quốc (10 nam, 4 nữ và 2 trẻ em) đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực cửa khẩu Bắc Phong Sinh (huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh). Khoảng 12 giờ cùng ngày, trong khi đang làm thủ tục, bất ngờ một vài người đàn ông trong nhóm người trên lợi dụng sơ hở của các lực lượng chức năng đã manh động cướp súng và bẻ gãy chân bàn làm việc, xả súng tấn công, khống chế lực lượng biên phòng Việt Nam, khiến 1 chiến sĩ biên phòng Việt Nam hi sinh ngay tại chỗ. Sự việc trên buộc lực lượng biên phòng Việt Nam phải thực hiện các biện pháp tự vệ chính đáng. Mặc dù lực lượng chức năng phía Việt Nam và Trung Quốc đã kêu gọi, thuyết phục các đối tượng giao nộp vũ khí và đầu hàng nhưng các đối tượng vẫn kiên quyết cố thủ, đập phá trụ sở của lực lượng biên phòng, buộc lực lượng chức năng phải dùng các biện pháp nghiệp vụ để tiếp cận, khống chế và bắt giữ. Các đối tượng đã chống trả lực lượng biên phòng, đồng thời tự gây sát thương, một số nhảy lầu tự sát. Sự việc trên đã khiến 7 người thiệt mạng (trong đó có 2 chiến sĩ biên phòng Việt Nam) và một số người bị thương (trong đó có 4 chiến sĩ biên phòng Việt Nam). Thông tin từ Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ninh cũng khẳng định đây không phải là một vụ khủng bố và nhanh chóng chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương giải quyết các vấn đề liên quan nhằm đảm bảo an ninh trật tự, tính mạng của chiến sĩ, công nhân viên chức và nhân dân tại khu vực cửa khẩu; cấp cứu người bị thương; đảm bảo tài sản của nhà nước và nhanh chóng lập lại trật tự tại cửa khẩu Bắc Phong Sinh, đồng thời trao đổi với cơ quan chức năng phía Trung Quốc để phối hợp giải quyết các việc tiếp theo. Đến 15 giờ 15 phút cùng ngày, tình hình an ninh trật tự tại khu vực đã ổn định. Tỉnh Quảng Ninh đã thành lập tổ công tác đặc biệt do ông Nguyễn Văn Đọc, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh nhanh chóng đến hiện trường, trực tiếp chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý sự việc. Hiện Quảng Ninh đang tích cực phối hợp với phía Trung Quốc để giải quyết các phần việc tiếp theo theo đúng pháp luật hai bên và thông lệ quốc tế. Chính quyền CSVN ra lệnh treo bich chương 4 tốt 16 chữ vàng dọc theo khắp biên giới và các cơ sở TQ để ca ngợi tình hữu nghị sông liền sông núi liền núi môi hở răng lạnh anh em đồng chí XHCN. Nhiều sĩ phu trong nước kêu gọi toàn dân đứng lên cứu quốc hốnt Tàu cứu nước và kêu gọi đồng bào hải ngoại hỗ trợ trong công cuộc đấu ttranh giải phóng đất nước khỏi bàn tay đô hộ độc ác của TQ PV VN CHỐNG TÀU CỨU NƯỚC?Trở lại Trang Quan điểm thời sự
"Quân đội nhân dân của Hồ chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam"
ừ mấy năm qua, bọn tay sai của đảng Việt gian cộng sản ở hải ngoại kêu gọi người tị nạn cộng sản cùng với chúng chống Tàu cứu nước. Cái điều khôi hài ở đây là chúng hoàn toàn không đưa ra đường lối, chính sách “chống Tàu cứu nước”; chúng không có một lời giải thích là làm cách gì để hóa giải cái công hàm mà Phạm văn Ðồng thay mặt Hồ chí Minh và đảng Việt gian cộng sản ký dâng Hoàng sa cho Tàu cộng ngày 14 tháng 9 năm 1958 v.v…
Thế cho nên: Quan sát và lắng nghe thật kỹ thì sẽ thấy bọn này và quan thầy của chúng chẳng có sách lược nào chống Tàu cứu nước, chỉ vớ vẩn tổ chức biểu tình với hình bản đồ Việt Nam màu đỏ và không cờ trước các sứ quán Tàu cộng. Thấy không ăn khách, chúng thay đổi chiến thuật bằng cách cầm cả “cờ Vàng lẫn cờ đỏ” với mục đích lừa người tị nạn cộng sản cùng đứng dưới cờ máu, tức là dùng cái bẫy chống Tàu để người tị nạn ở hải ngoại từ từ chấp nhận cờ máu. Nếu chúng thành công thì người tị nạn cộng sản sẽ rơi vào vòng thống trị của bọn Việt cộng.
 Ðể làm sáng tỏ vấn đề, Việt cộng và tay sai phải tuyên bố đường lối, chính sách rằng: đảng Việt gian cộng sản sẽ giữ vai trò nào; người tị nạn cộng sản ở hải ngoại sẽ giữ vai trò nào trong cái gọi là chống Tàu cứu nước; phải đối phó như thế nào cái công hàm bán nước; phải tuyên bố rõ ràng là cờ nào: “Vàng hay đỏ sẽ là “quốc kỳ Việt Nam”tượng trưng cho cuộc đấu tranh và phải giải thích lý do? Mọi sự liên hệ đến cuộc đấu tranh chống Tàu cứu nước phải được công khai loan báo trên các hệ thống truyền thông từ trong nước ra đến hải ngoại, và cộng đồng quốc tế.
Một điều quan trọng mà mọi người cần biết: bọn Việt công từ trong nước cùng với tay sai ở hải ngoại cho đến ngày hôm nay, chúng chưa một lần đề cập đến trách nhiệm giữ nước, bảo vệ dân của cái gọi là “quân đội nhân dân” của đảng Việt gian cộng sản. Chúng chỉ “hồ hởi phấn khởi” loan báo mua vài chiếc tàu cũ và vài phản lực chiến đấu cơ của Nga sô cho có vẻ màu mè riêu cua như là mua vũ khí để bảo vệ đất nước; tay sai ở hải ngoại đã vội vàng quảng cáo rầm rộ như là sắp đánh Tàu cứu nước. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, chúng tuyên bố là chiếc tuần duyên hạm mua của Nga sô bắt đầu tuần tiểu bờ biển Việt Nam với hải quân Tàu cộng. Ðúng là “đảng” đã nhét “c..” vào miệng bọn tay sai của đảng ở hải ngoại vì đã tự bưng bô không đợi lệnh.
Trong quyển “Mây mù thế kỷ”, cựu đại tá quân đội nhân dân kiêm phó tổng biên tập báo Nhân dân Bùi Tín, ca tụng tài điều binh khiển tướng của đảng cộng sản tới mức tột cùng, mà mục đích là tạo huyền thoại cho cái tổ chức giết dân với cái tên “quân đội nhân dân” trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại.
Cái gọi là “quân đội nhân dân” giờ đây đã hiện nguyên hình chỉ là tổ chức võ trang với nhiệm vụ bảo vệ đảng Việt gian cộng sản, không phải là quân đội quốc gia. Vấn đề này thêm sáng tỏ là vào ngày 25/12/2012, một tên trung tướng Việt cộng của viện đại học quân sự, đã tuyên bố và phổ biến trên web quân đội nhân dân với lời xác nhận: “Không chấp nhận quốc gia hóa quân đội nhân dân; quân đội nhân dân phải đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo toàn diện của đảng cộng sản Việt Nam”. Không thấy me-xừ cựu đại tá Bùi Tín bình luận lời tuyên bố này, có lẽ, vẫn giữ ý định “huyền thoại hóa” quân đội nhân dân của đảng Việt gian cộng sản như đã viết trong “mây mù thế kỷ”?
Từ những diễn tiến đã xảy ra, ta có thể khẳng định: Việt Nam không có quân đội, đã không có quân đội thì làm sao bảo vệ đất nước?
Bởi vì, nhiệm vụ giữ nước và cứu nước là trách nhiệm của quân đội quốc gia, người dân sẽ cung ứng nhân lực, vật lực và mọi điều cần thiết. Việt Nam dưới sự thống trị của đảng Việt gian cộng sản thì cái gọi là “quân đội nhân dân” chỉ là tổ chức võ trang của riêng chúng.
Ngoại trừ thế giới cộng sản, bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều có quân đội và gọi là quân đội quốc gia với nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Nhưng cái gọi là quân đội nhân dân của đảng Việt gian cộng sản chỉ với nhiệm vụ bảo vệ đảng của chúng, phục vụ ngoại bang và chém giết nhân dân Việt Nam khi cần, vì chúng không phải là quân đội quốc gia, đúng như lời khẳng định của tên trung tướng Việt cộng hôm tháng 12 vừa qua.
Tình trạng này sẽ không giải quyết được khi đảng Việt gian cộng sản còn thống trị Việt Nam. Việt Nam sẽ lâm nguy hơn nữa trước tham vọng chiếm Việt Nam của Tàu cộng. Chỉ còn một con đường duy nhất là tiếp tục đấu tranh; đấu tranh mạnh mẽ hơn nữa cho đến khi giành được quyền làm chủ đất nước, lúc đó Quân đội quốc gia sẽ được thành lập; quân đội này sẽ không nhận lệnh từ bất cứ đảng phái chính trị nào, chỉ nhận lệnh từ chính phủ dân cử của một quốc gia dân chủ như các quốc gia Tây phương; hoặc giống như QLVNCH của miền Nam Việt Nam dân chủ tự do trước 30/4/1975. Ðây mới là lúc nói đến chống Tàu cứu nước.
Khi đề cập đến QLVNCH, chúng ta có quyền hãnh diện và tuyên bố rằng: “QLVNCH là quân lực của quốc gia Việt Nam. QLVNCH với tiền đề “Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm” mà mọi người quân nhân đã thể hiện nhiệm vụ của mình, cũng như mọi sự hy sinh trong công cuộc chiến đấu bảo vệ Quốc gia và Nhân dân miền Nam Việt Nam”. Ðây là điểm khác biệt căn bản chính yếu giữa QLVNCH và cái gọi là “quân đội nhân dân” của bọn Việt cộng.
Thành quả rút lui khỏi Huế năm 1968 của "Quân Ðôi Nhân Dân"
Nếu bảo rằng ý kiến nêu trên là cực đoan, quá khích vì “quân đội nhân dân” cũng là quân đội của Việt Nam, xin hãy nhớ đến cuộc tàn sát đẫm máu người dân miền Nam trong cuộc rút lui khỏi Huế của “quân đội nhân dân” vào Tết Mậu Thân năm 1968, mà Bùi Tín đã viết bài chạy tội cho chúng cách đây hai năm; lời tuyên bố khẳng định của tên trung tướng Việt cộng mới đây v.v… Cũng nên nhớ rằng: đừng gọi cái “quân đội nhân dân” này là “quân đội Việt Nam” vì chúng cũng là thành phần giữ vai trò chính trong việc dâng đất nước cho Tàu cộng; chúng đâu có bảo vệ nhân dân khi Tàu cộng bắn giết dân Việt Nam ngoài Biển Ðông; chúng chỉ phục vụ bọn thái thú của Tàu cộng làđảng Việt gian cộng sản mà thôi. Còn nói rằng, chúng ta nên dùng ngôn ngữ lịch sự - xin trả lời: “Lịch sự không là ngôn ngữ thích hợp trong đấu tranh, chỉ có thắng hoặc thua!” Và đây là cuộc đấu tranh cho sự sinh tồn của cả dân tộc Việt Nam, nghĩa là, bằng mọi cách, phải giành “thắng lợi”.
Cuộc đấu tranh ngày càng thêm gay gắt. Ðảng Việt gian cộng sản hiểu rằng giờ lịch sử sẽ điểm số phận của chúng bất cứ lúc nào, giống như các đảng cộng sản Nga sô và Ðông âu. Ðể có thể trụ được càng lâu càng tốt… tức là thêm cơ hội vơ vét càng nhiều càng tốt, chúng phải tìm mọi cách vô hiệu hóa cuộc đấu tranh của người tị nạn cộng sản ở hải ngoại, bằng cách cho tay sai của chúng đẩy người tị nạn vào cuộc “chống Tàu cứu nước”, với những cuộc biểu tình trước các sứ quán Tàu cộng trong khi Tàu cộng không là mục tiêu ưu tiên trong lúc này. Bởi vì, đảng Việt gian cộng sản vẫn còn đó, vẫn còn thống trị Việt Nam, vẫn là thái thú của Tàu cộng, và chính chúng đã dâng đất nước cho Tàu cộng… Tại sao không chống bọn Việt gian này?
Sửa đổi hay không sửa đổi hiến pháp thì Việt cộng… vẫn là Việt gian; thay đổi tên đảng bằng bất cứ tên nào đi chăng nữa thì cái gốc “đảng Việt gian” cũng vẫn là “đảng Việt gian cộng sản”. Nhấn mạnh điều này là vì con rắn độc có thay da thì vẫn là con rắn độc, không thể nào thành “rồng” được. Thực tế hơn nữa, “mặt thật” của bọn Việt gian cộng sản ngày hôm nay không còn là “thần tượng ‘người cộng sản yêu nước’ mà là bọn giết dân, buôn dân, bán nước”, vì lá bùa tuyên truyền lừa người đã hoàn toàn mất hiệu nghiệm. Ðể bọn tay sai làm cái công việc tuyên truyền cho “đảng” thì quá tồi tệ… không ăn khách, chỉ toàn là thất bại.
Tuy nhiên, đảng vẫn còn lá bài được chuẩn bị từ lâu, lá bài này là “quân đội nhân dân”, từng rêu rao nào là đánh thắng thực dân Pháp, Nhật, Mỹ Ngụy…, và đảng đã cho Bùi Tín viết sách (Mây mù thế kỷ) xuất bản hơn mười năm trước đây, dự trù cho cái “quân đội chỉ giết dân Việt Nam” thành “huyền thoại” trong cộng đồng tị nạn cộng sản ở hải ngoại thì, thưa quí vị, đã bị bể bạc từ lâu rồi; nên cái việc mua vũ khí của Nga sô đã được thổi phồng như là “yêu nước và bảo vệ đất nước” chỉ là màn kịch quá tồi tệ.
Ðể giữ ổn định trong nội bộ, một tên trung tướng Việt cộng phải vội vã khẳng định “không chấp nhận quốc gia hóa quân đội nhân dân”, có nghĩa là lời cảnh báo và xác định cho mọi người trong đảng biết, cho quan thầy Tàu cộng biết, “quân đội nhân dân” vẫn trung thành với bọn thái thú Tàu cộng tức là “đảng Việt gian cộng sản”, dù ngày mai “đảng” có thay tên đổi họ. Nếu cho rằng người viết bài này sai, “quân đội nhân dân” phải có thái độ và hành động để chứng minh cái sai trong bài viết này.
Những tổ chứcthườngtổ chứccác cuộc biểu tình “chống Tàu cứu nước” phải thay đổi đường lối, đòi “quân đội nhân dân” phải tách rời và không chấp nhận mọi mệnh lệnh từ đảng Việt gian cộng sản; phải có hành động bảo vệ đất nước, bảo vệ biển đảo, bảo vệ người dân, đuổi bọn Tàu cộng hiện đang có mặt ở Việt Nam ra khỏi Việt Nam. Ðây chỉ là sự gợi ý tạo ra cơ hội giúp “quân đội nhân dân” thoát khỏi những khó khăn, để chuyển hướng có tính cách chuộc tội đối với dân tộc Việt Nam; và cũng là sự dự trù hủy bỏ cái gọi là “quân đội nhân dân” trong tương lai. Còn tiếp tục chơi trò tráo bài ba lá với nhân dân Việt Nam thì, một ngày nào đó, toàn bộ bọn Việt gian cộng sản sẽ phải đền tội trước nhân dân và lịch sử.
Ðây cũng là sự gợi ý cho những ai tổ chức “chống Tàu cứu nước” ở hải ngoại.
Chuyện phải đến nó sẽ đến. Phải chuẩn bị và thay đổi ngay từ bây giờ để đón nhận vì cơ hội không đến hai lần.
Ngày 8/5/2013 Biển Ðông 75
Thái độ cần có trong công cuộc “Chống Tàu Cứu Nước” Nguyễn Công Bằng (ĐVDVN) Sự kiện Trung Cộng xâm phạm chủ quyền nước ta đã trở thành một thách thức lớn đối với ý chí chống xâm lăng của người Việt Nam. Đe dọa đó khích động tinh thần yêu nước một cách sâu xa, biến nguy cơ bị xâm lăng đã trở thành yếu tố xoay chuyển cục diện chính trị. Vấn đề trước mắt hiện nay là nhận diện chính xác vấn đề để có được thái độ thích hợp và một sách lược đối phó hữu hiệu. Trung Cộng xâm lăng Việt Nam như thế nào?Căn cứ vào một số sự kiện xảy ra trong khoảng 50 năm qua, thực tế cho thấy là Trung Cộng đã và đang tiếp tục vi phạm chủ quyền Việt Nam. - Quá trình xâm lăng bằng ý thức hệ đã xảy ra từ thập niên ’50, sau khi Trung Cộng nhuộm đỏ toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa và mở rộng ảnh hưởng sang nước ta. Sự hiện diện của hàng chục ngàn cán bộ chính trị, quân sự, tình báo Trung Cộng qua các hình thức khác nhau trong suốt cuộc chiến Việt Nam từ 1954-1975.
- Tháng 1/1974, sự kiện Hải quân Trung Cộng dùng bạo lực tấn công Hải quân VNCH và cưỡng chiếm đảo Hoàng Sa là một hành động xâm lăng trắng trợn trước sự chứng kiến của cả thế giới.
- Tháng 2/1979, cuộc tấn công bằng quân sự qua các tỉnh cận biên phía Bắc làm thiệt mạng hơn 20 ngàn bộ đội và gây thương vong cho hàng trăm ngàn người Việt, là một hành động xâm lăng công khai bằng chiến tranh của Trung Cộng.
- Tháng 3/1988, Hải quân Trung Cộng tấn công Hải quân CSVN tại đảo Gạc-Ma (thuộc quần đảo Trường Sa) làm thiệt mạng 64 quân nhân.
- Ngày 30/12/1999, Trung Cộng áp lực CSVN chính thức ký kết “Hiệp ước về Biên Giới Đường Bộ” để sang nhượng lãnh thổ Việt Nam cho Trung Cộng. Qua Hiệp ước này, theo một bản nghiên cứu thì một vùng lãnh thổ của Việt Nam từ 720 - 900 km2 đã lọt vào tay Trung Cộng.
- Ngày 25/12/2000, Trung Cộng áp lực CSVN chính thức ký kết “Hiệp Ước Phân Định Vịnh Bắc Bộ” để sang nhượng một phần lãnh hải biển Đông Việt Nam. Qua Hiệp ước này Việt Nam chính thức mất thêm khoảng 9% lãnh hải, tương đương 11,000 Km2.
- Ngày 8/1/2005, hai tàu Việt Nam đang đánh cá ngoài khơi thì bị một số tàu Trung Cộng nổ súng tấn công dã man, làm chết 9 người tại chỗ, 9 người khác trọng thương và bị bắt cóc.
- Ngày 9/7/2007: Hải quân Trung Cộng bắn vào một số tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động gần lãnh hải quần đảo Trường sa, gây thương vong cho một số ngư dân.
- Tháng 12/2007: Trung Cộng tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với tên hành chánh Tam Sa, ngang nhiên hợp thức hoá sự xâm lấn lãnh hải Việt Nam.
- Từ khoảng năm 2000, bằng các hiệp ước, hợp đồng kinh tế khác nhau, Trung Cộng đã âm thầm đưa hàng trăm ngàn người nhập cảnh Việt Nam và sinh sống lâu dài ở nhiều khu vực. Một số khu vực đó đã được “khoanh vùng” như là những khu tô giới của Tàu trên đất Việt.
- Vào năm 2008, việc CSVN bí mật ký hợp đồng cho công ty của Trung Quốc khai thác bô-xít ở các vùng Tây Nguyên nước ta bắt đầu bị phát giác. Với sự lên tiếng mạnh mẽ của giới trí thức và nhiều nhà chuyên môn, dư luận người Việt trong và ngoài nước đã đồng thanh lên tiếng báo động về tầm nguy hiểm của sự việc đối với an ninh quốc gia.
- Trong năm 2009, Trung Cộng đã ra lệnh Việt Nam không được đánh cá ở vùng biển Đông và có hành động hăm dọa, sách nhiễu, hành hung, bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam.
Những bằng cớ cụ thể trên chứng minh Trung Cộng đã có một quá trình hơn nửa thế kỷ liên tục tấn công đất nước và lấn hiếp dân tộc Việt Nam. Trong đó, có hai sự kiện do chính CSVN đồng lõa thực hiện 1à việc ký kết sang nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho Trung Cộng. Bằng tham vọng của một đế quốc, Trung Cộng đã không ngừng xâm lấn chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam ở nhiều thời điểm, hình thức và mức độ khác nhau. Chuỗi xâm lấn này gây nên mối đe doạ đối với an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của nước ta một cách nghiêm trọng. Nó đồng thời làm ảnh hưởng sâu xa đến nền an ninh chung của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Và quan trọng hơn cả là làm thương tổn mối tình cảm lâu dài giữa hai dân tộc Việt-Trung. Song may mắn thay, thái độ bất xứng của đảng và nhà cầm quyền CSVN đã mở ra một cơ hội đoàn kết dân tộc trước bối cảnh lịch sử đầy cam go hiện nay. Nó là một cú sốc mạnh có khả năng làm sống lại tinh thần dân tộc và truyền thống chống xâm lăng đã bị chế độ làm thui chột, bào mòn trong mấy thập niên qua. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là với hoàn cảnh chính trị phức tạp hiện nay, chúng ta phải có thái độ như thế nào? Với dân tộc Trung Hoa, được hiểu rộng là bao gồm các dân tộc đang nằm trong lãnh thổ nước Trung Hoa hiện nay, chúng ta khẳng định rằng họ không là kẻ thù của dân tộc Việt. Ngược lại, chúng ta cảm thông cho thân phận bị thống trị của họ. Bởi lẽ, hơn tỷ người này cũng là nạn nhân của chế độ Cộng sản như người Việt. Vì vậy, chúng ta khẳng định là không chống người Hoa, mà chống chính sách bành trướng của nhà cầm quyền Trung Cộng. Mặt khác, chúng ta phải cảnh giác âm mưu ly gián của Trung Cộng nhằm chia rẽ tập thể người Việt gốc Hoa với đại khối dân tộc Việt Nam. Lý do là thành phần người Việt gốc Hoa cũng đã có những đóng góp lớn trong giai đoạn chống Cộng trước 1975, và trong công cuộc đấu tranh cho dân chủ hiện nay. Với tình trạng xâm lăng kiểu mới của Trung Cộng hiện nay, tình hình sẽ trở nên phức tạp và tồi tệ hơn một cách nhanh chóng theo thời gian. Do đó, chúng ta phải có những hành động cụ thể để biểu tỏ thái độ chống đối chính sách bành trướng của Trung Cộng một cách quyết liệt, bằng mọi cách và mọi giá, kể cả bằng vũ lực và máu xương. Chúng ta phải cho nhà cầm quyền Trung Cộng biết rằng: Dân tộc Việt chưa bao giờ chấp nhận, và sẽ không bao giờ chấp nhận cho bất cứ ai, kể cả đảng cầm quyền, được phép biến Việt Nam thành một nước nô lệ của Bắc phương. Một khi khí thế toàn dân tộc đồng thuận chống xâm lăng đã lên cao, nhà cầm quyền Trung Cộng chắc chắn sẽ phải chùn bước. Chúng ta cần hành động ra sao? Chúng ta không sợ Trung Cộng sẽ phản ứng bằng quân sự, vì sự đấu tranh chống xâm lược chỉ là hành động tự vệ thuần túy. Với nhu cầu cần có sự tin tưởng của thế giới để thúc đẩy lãnh vực kinh tế và ngoại giao, Trung Cộng sẽ không thể tiến hành bất cứ cuộc phiêu lưu quân sự nào trong hoàn cảnh và thời điểm này. Hơn nữa, nhà cầm quyền Trung Cộng sẽ nhận thấy không có lợi nếu gây ra mối mâu thuẫn lớn hơn để bị vướng mắc vào một cuộc chiến mới ở phía Nam. Nhưng trong trường hợp Trung Cộng có hành động gây hấn và khiêu khích, chúng ta sẵn sàng đối phó như Ông Cha ta đã anh dũng đứng lên trong suốt chiều dài lịch sử. Chúng ta phải chống lại làn sóng thực dân kiểu mới vô cùng hiểm độc của Trung Cộng trước khi nó bám rễ và phát triển bất thường trên các nẻo đường đất nước từ Bắc chí Nam. Tinh thần chống xâm lăng này sẽ là vũ khí bén nhọn nhất để đâm thủng tử huyệt của đảng CSVN, nếu như đảng cầm quyền này không thức tỉnh kịp thời và cứ tiếp tục quay lưng lại với quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Nhân dân Việt Nam chắc chắn không khuất phục trước kẻ thù xâm lăng và kẻ nội thù bán nước. Nhưng với hoàn cảnh của đất nuớc ta ngày nay, vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia sẽ không thể tiến hành được khi Việt Nam vẫn còn nằm dưới sự thống trị độc tài của Cộng sản. Trong vị trí đảng cầm quyền, CSVN vừa là thủ phạm của tình trạng độc tài, tham ô và bất công ở nưóc ta, vừa là chướng ngại cho công cuộc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ. Trong những năm gần đây, càng ngày đảng CSVN càng lộ rõ bản chất ích kỷ, tham lam và tàn bạo. Có thể nói, vì muốn duy trì quyền lực qua sự bảo hộ của Trung Cộng, đảng CSVN đã bất chấp các quyền lợi tối thượng của quốc gia, dân tộc. Tập đoàn độc tài này không những khiếp nhược trước Trung Cộng mà còn vì quyền lợi riêng tư của đảng, đã quay lưng lại với quyền lợi của Tổ quốc và thẳng tay đàn áp những người yêu nước đứng lên chống xâm lăng. Nhìn lại, ngoại trừ trường hợp cuộc chiến tranh Việt-Trung 1979, hầu như đảng và nhà nước CSVN không có một thái độ nhanh chóng, rõ ràng và mạnh mẽ đối với chuỗi vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Cộng. Sự khiếp nhược của nhà cầm quyền CSVN đã thúc đẩy một phong trào phản đối quyết liệt của người Việt ở trong và ngoài nước, đòi hỏi nhà cầm quyền phải có thái độ dứt khoát là chọn quyền lợi của quốc gia, hay duy trì quyền lợi riêng của đảng Cộng sản Việt Nam. Trước bối cảnh đất nước ngày nay, người Việt chúng ta không có sự chọn lựa nào khác hơn là phải giải thể chế độ độc tài toàn trị để có điều kiện thực thi quyền Dân Tộc Tự Quyết. Chúng ta cần có thái độ dứt khoát với đảng CSVN là: Nếu họ không đứng về phía dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo toàn đất Tổ, họ sẽ bị đối xử như những kẻ phản bội dân tộc. Mãnh giang sơn Việt Nam chúng ta còn có được đến ngày nay là do thái độ đấu tranh “bất khả khoan nhượng” của tiền nhân đối với kẻ xâm lăng, và sự hy sinh vô bờ bến của bao thế hệ trong suốt chiều dài lịch sử. Lịch sử chứng minh rằng dân tộc ta có lúc thịnh suy, vận nước ta có thời cường nhược nhưng chưa có triều đại nào lại tự nguyện cắt đất hiến cho ngoại bang như chế độ CSVN đã làm. Lịch sử cũng ghi rõ rằng mỗi khi có một vương triều hèn nhược khuất phục trước Bắc phương và chấp nhận làm thân nô lệ, cả dân tộc sẽ vùng lên để dẹp bỏ kẻ nội thù, hầu có thể cùng nhau dồn sức chống xâm lăng. Trong tinh thần hòa bình, chúng ta luôn dành ưu tiên cho mọi giải pháp chính trị có khả năng hoá giải các bế tắc của đất nước. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người Việt chấp nhận thụ động trước hành động xâm lấn thô bạo của Bắc phương, và thái độ hèn nhược của nhà cầm quyền Việt Nam. Chúng ta phải khẳng định thái độ và quyết tâm của mình để tạo niềm tin, khí thế và sức mạnh. Chúng ta phải vững tin ở truyền thống và sức mạnh chống xâm lăng của dân tộc mình; đồng thời phải chấm dứt tính ỷ lại vào sự che chở nào đó của ngoại bang, kể cả của Hoa Kỳ. Thế giới đã từng đứng ngoài những cuộc xâm lăng trắng trợn của Trung Cộng đối với Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua. Thế giới có thể sẽ tiếp tục đứng ngoài cuộc đấu tranh của dân tộc ta đối với làn sóng xâm thực kiểu mới của Trung Cộng, cho đến khi họ nhận thấy rằng nhân dân Việt Nam đã thực sự đứng lên và có khả năng giành lại vận mệnh đất nước từ tay đảng CSVN. Cuộc đấu tranh chống làn sóng xâm lăng của Trung Cộng sẽ không quá khó khăn khi người Việt chúng ta đồng lòng quyết chiến bằng mọi giá. Các thế hệ tiền nhân Việt Nam đã không ngại hy sinh để bảo vệ núi sông khi cần thiết, thì các thế hệ hôm nay cũng không vì bất cứ lý do gì để thụ động chấp nhận sự đô hộ kiểu mới của Trung Cộng. Chống xăm lăng là truyền thống của dân tộc ta và tinh thần đó cần được xiển dương tối đa trong bối cảnh đất nước bị đe dọa nghiêm trọng như hiện nay. Sách lược “Chống Tàu Cứu Nước” phải được xây dựng trên nền tảng TOÀN DÂN VÙNG DẬY, từ ý thức chống xâm lăng một cách sâu sắc, và có khả năng biểu hiện ý chí “bất khả khoan nhượng” với kẻ thù ngoại xâm. Sách lược này phải được tiến hành bằng những hành động cụ thể, vượt lên hẳn các phản ứng mang tính cảm tính hay chỉ thuần túy là một sự bày tỏ thái độ. Một ý chí chống ngoại xâm mãnh liệt sẽ là sức mạnh cần thiết để ngăn chận được làm sóng xâm lấn của ngoại bang một cách hiệu quả. Trước bối cảnh mới đầy cam go song cũng có nhiều hứa hẹn, vấn đề quan yếu kế tiếp là làm sao để vận động được lòng ái quốc và tinh thần chống xâm lăng của toàn dân ở một thời điểm gần nhất, và ở một quy mô lớn nhất. Thành phần xã hội hay tổ chức chính trị nào sẽ đóng vai trò tiền phong -- là đầu tàu và cũng là mũi nhọn tiến công? Với tầm vóc của đại cuộc, chúng ta phải nhìn nhận là trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, có lẽ không có một tổ chức nào có được khả năng đầy đủ để tự giải quyết các vấn đề to lớn trước mắt của đất nước. Có thể nói, muốn hoàn thành việc ngăn chận làn sóng xâm lăng của Bắc phương và đồng thời tiến hành được một cách thành công cuộc giải phóngViệt Nam, chúng ta cần có một mô thức kết hợp khả thi giữa các tổ chức chính trị ở cả trong và ngoài nước. Sự đoàn kết hữu hiệu sẽ giúp tạo thành một tổng lực có thể làm đối lực hữu hiệu với đảng CSVN, phục hồi được niềm tin của đồng bào, và tạo được khả năng dẫn cuộc đấu tranh chung đến thành công. Trong chiều hướng đó, mặt trận truyền thông, các cơ chế, đoàn thể cộng đồng, và lực lượng các tổ chức chính trị đóng vai trò vô cùng quan trọng. Truyền thông tạo điều kiện để các đoàn thể cộng đồng vận động sự ý thức và ủng hộ của đồng bào ở khắp nơi, giúp cho các tổ chức đấu tranh có được hậu thuẫn cần thiết để tiến hành một cách hiệu quả công cuộc bảo vệ đất nước và cứu nguy dân tộc. Các Cộng đồng sẽ làm gạch nối tốt nhất để huy động sự ủng hộ của nguời Việt khắp nơi cho các tổ chức đấu tranh. Cùng lúc đó, sự kết hợp hoạt động giữa các tổ chức chính trị và chính đảng sẽ tạo một tổng lực có khả năng đáp ứng yêu cầu lịch sử hiện nay. Trong hoàn cảnh phải vừa đối đầu với thù trong, giặc ngoài, chúng ta cần phải khôn ngoan, linh động và quyết chí. Đã đến lúc để chúng ta khẳng định tinh thần chống xâm lăng bằng hành động cụ thể. Chúng ta không chờ đảng CSVN thức tỉnh và thể hiện lòng yêu nước. Chúng ta cũng không thụ động chờ Hoa Kỳ sẽ vì an ninh khu vực và nhu cầu quân bình cán cân ảnh hưởng trong vùng với Trung Cộng để có một chính sách hợp lý về vấn đề này. Chúng ta cũng không chờ Trung Cộng đơn phương thay đổi âm mưu thực dân hóa Việt Nam. Điều chúng ta mong đợi là các tổ chức đấu tranh ở trong nước sẽ sớm có hành động chống Tàu một cách cụ thể và mạnh mẽ, kể cả bằng vũ lực, để ngăn chận tiến trình xâm lược của Trung Cộng trước khi tình thế trở nên khó khăn hơn. CSVN đã đưa đất nước và đặt dân tộc vào họa nô lệ. Vấn đề Việt Nam bây giờ không đơn thuần chỉ là vấn nạn độc tài, tham ô và bất công. Ách nô lệ Bắc phương đang chực chờ tròng vào cổ dân tộc ta. Hoạ thực dân kiểu mới đã tràn vào nước ta. Trước nguy cơ đó, chúng ta cần phải bước qua những dị biệt nhỏ để tạo sự tương đồng lớn, hầu có thể thống nhất được ý chí và xây dựng được một tổng lực có khả năng hoàn thành công cuộc Chống Tàu Giải Cộng. Trong nguy cơ bị đe dọa bởi nạn xâm lăng, nô lệ, thời thế đã cho dân tộc ta một cơ may để vực dậy tình thần đoàn kết chống lại sự bành trướng của Bắc phương. Trước may mắn đó, chúng ta có trách nhiệm phải vận dụng tối đa thời cơ này để chống ngoại xâm, và giải phóng đất nước khỏi nạn độc tài, tham ô và bất công. Bỏ lỡ cơ hội lịch sử này là một trọng tội đối với tiền nhân, và với đồng bào ở cả trong cũng như ngoài nước./. Nguyễn Công Bằng (TTK/ĐVD) Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân! *** TUYÊN NGÔN NHẬN ĐỊNH RẰNG: Nhà nước CHXHCNVN là một bộ máy cai trị bất nhân, bất xứng. Bởi thế, đã đến lúc mọi thành phần dân tộc phải đồng tâm hiệp lực đấu tranh quyết liệt để giải phóng Tổ Quốc thoát khỏi ách thống trị độc tài, tham ô và bất công của đảng Cộng sản Việt Nam. 1. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (viết tắt là MTGPMNVN) là danh xưng chung của lực lượng các tổ chức có chung mục tiêu cách mạng: đoàn kết toàn dân đánh bại mưu đồ xâm lược kiểu mới của đế quốc Tàu đỏ, đánh đổ ngụy quyền Việt Cộng, giải phóng miền Nam, giành lấy chính quyền về tay nhân dân, tiến tới thống nhất Tổ quốc Việt Nam. 2. MTGPMNVN không có hệ thống điều hành và thành phần lãnh đạo. Các tổ chức đối kháng có quyền đứng lên nhân danh là cơ sở độc lập của MTGPMNVN, tự chỉ huy, quản lý và chiến đấu theo các mô thức đấu tranh riêng. 3. Tiêu chí đấu tranh của MTGPMNVN là: Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân! 4. Huy hiệu nhận diện của MTGPMNVN là dấu “X”. Hiệu kỳ cách mạng của MTGPMNVN là lá cờ của chế độ CSVN với hai lằn màu đen gạch chéo lên ngôi sao vàng, ở vị thế bị lật ngược (đỉnh nhọn ngôi sao chỉ xuống dưới). Trong trường hợp khẩn cấp, hiệu kỳ cách mạng tạm thời của MTGPMNVN là phân nửa lá cờ của chế độ CSVN (bị xé làm đôi từ trên xuống dưới) với vị thế bị lật ngược. 5. MTGPMNVN cổ động sách lược “Trăm hoa đua nở”, chủ trương đấu tranh quyết liệt bằng tất cả hình thức và phương tiện khả dụng để thực thi quyền dân tộc tự quyết, kể cả bằng vũ lực khi cần thiết. Mục tiêu cụ thể của cuộc cách mạng là lật đổ chế độ Cộng sản để chấm dứt tình trạng nô lệ ngoại bang, và giải trừ quốc nạn độc tài, tham nhũng, bất công ở Việt Nam. MTGPMNVN không có dự liệu sẽ lãnh đạo đất nước. 6. MTGPMNVN khẳng định tôn chỉ: KHÔNG lấy khủng bố làm sức mạnh; KHÔNG làm phương hại đến sinh mạng hay tài sản của nhân dân; và KHÔNG thỏa hiệp với đảng CSVN để chia sẻ quyền lực trong bất cứ hoàn cảnh nào. 7. MTGPMNVN yêu cầu Nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa: 1. Tôn trọng chủ quyền ở vùng biển và trên đất liền của nước Việt Nam; 2. Ngưng ngay kế hoạch khai thác bô-xít và uranium ở các vùng Tây Nguyên Việt Nam; 3. Chấm dứt mọi hành động hãm hại, sách nhiễu ngư dân, công nhân Việt Nam. 8. MTGPMNVN chủ trương: KHÔNG gây thương vong cho bộ đội, đảng viên, cán bộ nhà nước Cộng sản Việt Nam , nếu không bị đàn áp bằng bạo lực. MTGPMNVN khẩn thiết kêu gọi các anh chị em bộ đội, công an, cán bộ nhà nước đang bất mãn với chế độ Cộng sản: Hãy hết lòng vì dân, vì nước, tích cực tham gia, yểm trợ cho công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Những người ủng hộ nhiệt tình cho MTGPMNVN sẽ được ghi công; những ai có hành động ngoan cố chống lại lực lượng cách mạng sẽ bị trừng trị thích đáng. MTGPMNVN đồng thời kêu gọi toàn thể cựu cán bộ MTDTGPMNVN hãy nhiệt liệt ủng hộ cho cuộc đấu tranh vì mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. 9. MTGPMNVN kêu gọi các anh em quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa: Hãy ủng hộ Mặt Trận bằng các hành động đấu tranh quyết liệt để phục hồi quyền sống, sự sống và danh dự đã bị chà đạp thô bạo trong suốt ba thập niên qua; và để tạo điều kiện thành lập chính thể Đệ Tam Cộng Hòa cho đất nước Việt Nam trong thời gian tới. 10. MTGPMNVN kêu gọi đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước: Hãy nhiệt liệt ủng hộ Mặt Trận bằng cách loan truyền thật rộng rãi khẩu hiệu: Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân! Đồng bào hãy bày tỏ thái độ không chấp nhận chế độ độc tài bằng cách gạch chéo lên cờ Cộng sản hoặc vẽ dấu “X” lên những gì có nền màu đỏ ở bất cứ nơi đâu; và tiếp tay chuyển gửi bản Tuyên Ngôn này đến người Việt ở khắp nơi. 11. MTGPMNVN kêu gọi các tổ chức, tập hợp đối kháng có chung khát vọng giải phóng đất nước: Hãy cùng đứng lên nhân danh MTGPMNVN đấu tranh quyết liệt với chế độ độc tài, tự tổ chức hành động bằng các sáng kiến riêng, bằng mọi hình thức và phương tiện khả dụng, để cùng góp phần tạo nên tình trạng mất ổn định chính trị toàn diện ở Việt Nam, vô hiệu hóa khả năng thống trị của đảng Cộng sản, làm bàn đạp hữu hiệu cho công cuộc giải phóng đất nước. Mỗi tổ chức sẽ tự ghi nhận và công khai hóa thành quả hoạt động sau ngày chế độ Cộng sản bị sụp đổ. MTGPMNVN kêu gọi các đoàn thể chính trị ở trong và ngoài nước: Hãy tham gia, ủng hộ chủ trương đấu tranh quyết liệt của Mặt Trận; toàn phần hay từng phần, bằng sự chính thức công bố hoặc âm thầm hỗ trợ. 12. MTGPMNVN sẽ tôn trọng tài sản và nhân mạng của các công dân ngoại quốc đang làm việc hay sinh sống ở Việt Nam. MTGPMNVN cũng yêu cầu chính phủ các nước tôn trọng quyền đấu tranh tự quyết của người Việt Nam, và không can thiệp vào nội tình chính trị nước Việt Nam dưới mọi hình thức. MTGPMNVN kính đề nghị các cơ quan truyền thông, tổ chức đấu tranh và những người yêu chuộng độc lập, tự do hãy ủng hộ và giúp quảng bá, luân chuyển nội dung bản Tuyên Ngôn này thật sâu rộng ở khắp nơi. Việt Nam ngày 02 tháng 09 năm 2009 Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam
Tuyên Ngôn “Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân” của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Nguyễn Chính Kết Cách đây khoảng một tháng, tôi nhận được qua email một bản Tuyên Ngôn mang tựa đề “Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân” của “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” (viết tắt là MTGPMNVN) (xem phụ chú *1). Nhóm từ MTGPMNVN này được viết ngay ở đầu và cả ở cuối Tuyên Ngôn. Thói quen của tôi khi đọc một bản văn hay một bản tuyên ngôn là trước tiên xem tác giả là ai. Biết tác giả là ai thì mình đã đoán được phần nào tư tưởng trong bản văn ấy hay ít ra là chiều hướng của bản văn ấy.Tiêu chí của tuyên ngôn là “Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân” rất hợp ý tôi và hấp dẫn tôi, vì hiện nay đất nước Việt Nam đang hết sức lâm nguy trước mưu đồ thôn tính Việt Nam của Tàu cộng, và đảng CSVN đang sẵn sàng làm tay sai để tiếp tay giúp Tàu cộng thực hiện tham vọng ấy một cách dễ dàng, không cần nổ súng. Nhưng tác giả đứng tên bản tuyên ngôn này lại là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam”, tương tự như tên một tổ chức do Cộng sản miền Bắc đứng đàng sau điều khiển trước năm 1975 là “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam”, đã giúp Cộng sản miền Bắc thôn tính miền Nam. Vì thế, tôi lập tức hồ nghi rằng: biết đâu đây là kế của CSVN bày ra để lừa gạt người dân hay để đặt bẫy hầu bắt bớ, bỏ tù những ai yêu nước nhưng nhẹ dạ tin theo!? Trong quá khứ, CSVN đã từng làm những trò như vậy: chúng cho người giả bộ tổ chức chống cộng, hô hào lật đổ đảng CSVN, thậm chí phát cả vũ khí cho những người gia nhập… để rồi cuối cùng tất cả những ai tin theo đều bị chúng đưa vào tù hết.Song đọc bản tuyên ngôn từ đầu tới cuối, tôi nhận ra nội dung tuyên ngôn hoàn toàn phù hợp với lập trường đấu tranh của tôi:‒ Nào là “đã đến lúc mọi thành phần dân tộc phải đồng tâm hiệp lực đấu tranh quyết liệt để giải phóng Tổ quốc thoát ách thống trị độc tài” => Đúng vậy, đất nước hiện nay đang lâm vào tình trạng hết sức nguy ngập bị Tàu cộng thôn tính. Tới nước này mà các đảng phái, các tổ chức đấu tranh không chịu đoàn kết, hợp lực lại thành một lực lượng thống nhất để có sức mạnh đấu tranh tổng hợp thì coi chừng mất nước luôn!‒ Nào là “sách lược ‘Trăm hoa đua nở’ chủ trương đấu tranh quyết liệt bằng tất cả hình thức và phương tiện khả dụng để thực thi quyền dân tộc tự quyết, kể cả bằng vũ lực khi cần thiết” => Như vậy là mọi đường lối hay sách lược đấu tranh chống độc tài, cho tự do dân chủ đều được chấp nhận, có thế mới đúng tinh thần dân chủ và mới đoàn kết các tổ chức được. Nếu ai cũng đòi mọi người phải đi theo sách lược của mình, không chấp nhận đường lối đấu tranh khác thì chỉ gây chia rẽ và bất hợp tác như đã từng xảy ra mà thôi.‒ Nào là “mục tiêu cụ thể là lật đổ chế độ cộng sản để chấm dứt tình trạng nô lệ ngoại bang” => Đây đúng là điều tối cần thiết mà mọi người chống cộng hay tranh đấu cho tự do dân chủ đều mong ước và quyết tâm thực hiện.‒ Nào là “không lấy khủng bố làm sức mạnh, không phương hại đến sinh mạng hay tài sản của dân, không thỏa hiệp với đảng CSVN để chia sẻ quyền lực trong bất cứ hoàn cảnh nào” => Dân chúng đã quá sợ cảnh giết chóc, cướp bóc, khủng bố do Cộng sản gây nên suốt hơn 6 thập niên qua nên rất sợ cảnh đó lại xảy ra. Họ cũng cực lực chống đối lập trường hòa hợp hòa giải với Cộng sản nhằm cùng chia sẻ quyền cai trị đất nước với cộng sản.‒ Nào là yêu cầu Tàu cộng “1. Tôn trọng chủ quyền ở vùng biển và trên đất liền của nước Việt Nam; 2. Ngưng ngay kế hoạch khai thác bô-xít và uranium ở các vùng Tây Nguyên Việt Nam; 3. Chấm dứt mọi hành động hãm hại, sách nhiễu ngư dân, công nhân Việt Nam” => Đây chính là những gì mà cả người Việt trong và ngoài nước đang đòi buộc Tàu cộng phải thực hiện để bảo toàn lãnh thổ của tổ quốc, nhưng lạ thay đảng CSVN lại bắt bớ, bỏ tù những ai đòi hỏi Tàu cộng như vậy!‒ v.v…Tất cả những chủ trương của tuyên ngôn đều làm tôi thích thú và tâm đắc. Nếu có phải viết một tuyên ngôn vào thời điểm này thì hầu như tôi cũng chỉ viết được những gì tương tự như thế.Tuy nhiên tôi vẫn hồ nghi: tuyên ngôn này có thể là một mưu kế của CSVN!? Nếu họ không viết hay như vậy thì làm sao hấp dẫn những người có lập trường quốc gia chống cộng theo họ được? Viết thật hay, lập trường “chống cộng” rõ ràng chưa phải là tiêu chuẩn chắc chắn hoặc đủ để xác định đó không phải là do cộng sản. Và tôi mường tượng rằng bản tuyên ngôn chắc hẳn sẽ kết thúc bằng một câu đại khái như: “Xin mời những ai đồng ý với lập trường “Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân” của tuyên ngôn này thì xin hãy vào trang web www.abcd.net(nào đó) để ghi danh, cho địa chỉ hay số điện thoại hoặc email để cùng lập thành một lực lượng hay tổ chức đấu tranh”. Nếu tuyên ngôn yêu cầu ghi danh như thế thì mọi người cần phải hết sức cẩn thận: Tuyên ngôn này có thể là thật, mà cũng có thể là giả. Nếu là giả thì đây là một cái bẫy để CSVN nhử mồi hầu bắt những người yêu nước nhưng nhẹ dạ cả tin… Nhưng đọc kỹ bản tuyên ngôn hai ba lần, tôi không thấy một câu nào tương tự như vậy. Vì thế có tích cực ủng hộ hay tham gia Mặt Trận cũng không sợ bị gài bẫy.Những điều mà tuyên ngôn yêu cầu chỉ là:‒ “… khẩn thiết kêu gọi các anh chị em bộ đội, công an, cán bộ nhà nước đang bất mãn với chế độ cộng sản: hãy hết lòng vì dân, vì nước, tích cực tham gia yểm trợ cho công cuộc giải phóng dân tộc” => Đây là điều tối cần thiết để có thể lật đổ chế độ độc tài hiện nay. Sau một thời gian đấu tranh cho tự do dân chủ mà điều tối cần là phải thay đổi chế độ, tôi nhận ra rằng không có lực lượng nào có thể thay đổi chế độ nhanh chóng và dễ dàng hơn chính lực lượng quân đội và công an của cộng sản. Các nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước cũng như hải ngoại cần phải tác động vào chính lực lượng này, khơi động lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm cứu nước của họ, để họ đứng về phe đấu tranh dân chủ, để họ cùng đấu tranh với chúng ta, thay vì cứ đẩy họ về phe cộng sản do không mở rộng vòng tay đón nhận họ. Kinh nghiệm tại Đông Âu cho thấy: chế độ cộng sản bị lật đổ là do chính những người cộng sản. Nhưng sở dĩ họ làm điều này và làm thành công là nhờ những người đấu tranh dân chủ tác động trên họ và tích cực giúp đỡ họ. Bộ chính trị của CSVN rất sợ điều này xảy ra. Vì thế, ngăn cản điều này xảy ra chính là tiếp tay cho bộ chính trị CSVN. Trong bất kỳ cuộc chiến đấu nào, kẻ đâm sau lưng bao giờ cũng nguy hiểm và lợi hại hơn chính đối phương trước mặt.‒ “… kêu gọi toàn thể cựu cán bộ MTDTGPMNVN hãy ủng hộ cho cuộc đấu tranh vì mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh” => Đây chính là một đòn cân não vì các thành viên của MTDTGPMNVN bị Cộng sản miền Bắc lợi dụng như một công cụ để lật đổ chế độ tự do dân chủ ở miền Nam. Nhưng khi thành công, các thành viên của MTDTGPMNVN bị “vắt chanh bỏ vỏ”, bị bạc đãi, bị đối xử bất công, nhiều gia đình hoặc thân nhân của họ bị cướp trắng đất đai nhà cửa tài sản… Do đó họ rất bất mãn với chế độ hiện nay. Sự bất mãn này như một kho thuốc nổ hiện hữu ngay trong lòng chế độ, lúc nào cũng sẵn sàng bùng nổ. Vì thế họ sẵn sàng hợp lực với phe đấu tranh dân chủ để lật đổ chế độ tàn ác và bất công này. Nhiều thành viên của họ vẫn còn làm việc trong bộ máy của chế độ, nhưng lòng của họ không còn thuộc về chế độ nữa. Họ mong có được cơ hội tham gia đấu tranh một cách bình đẳng với mọi thành phần dân tộc khác, để tiếp nối cuộc đấu tranh dang dở. Sự khác biệt là đối tượng: ngày xưa họ tưởng lật đổ chế độ VNCH là giải phóng đất nước, nhưng bây giờ họ nhận ra chính chế độ Cộng sản mới là đối tượng cần phải lật đổ. Tôi không biết có bao nhiêu người thuộc MTDTGPMNVN cũ tham gia soạn thảo Tuyên ngôn của MTGPMNVN mới này, nhưng rõ ràng ở đây không có bên nào “chiêu hồi” bên nào, mà là mở rộng cánh cửa đấu tranh cho mọi thành phần.Điều hết sức quan trọng là chúng ta phải xác định thật rõ ai mới là kẻ thù đích thực của dân tộc. Chỉ có bộ chính trị của đảng CSVN quyết tâm duy trì chế độ này bằng mọi giá, kể cả bán nước cho Tàu cộng, và những người sẵn sàng làm tay sai cho bộ này mới là kẻ thù của dân tộc mà thôi. Ngoài ra, tất cả đều là nạn nhân của chế độ mà chúng ta có bổn phận phải huy động vào cuộc đấu tranh chống độc tài toàn trị cộng sản. Tuyệt đối đừng đẩy những nạn nhân của chế độ vào hàng ngũ kẻ thù.‒ “… kêu gọi các anh em quân cán chính VNCH: hãy ủng hộ Mặt Trận bằng các hành động đấu tranh quyết liệt để phục hồi quyền sống, sự sống và danh dự đã bị chà đạp suốt ba thập niên qua, và để tạo điều kiện thành lập chính thể Đệ Tam Cộng Hòa…” => Đây là điều đương nhiên ai cũng hiểu. Các anh em quân cán chính của VNCH là người căm thù và không đội trời chung với cộng sản, vì họ bị cộng sản hành hạ, bạc đãi, cố tiêu diệt cho bằng được. Vấn đề của họ chỉ là: tuyên ngôn này có đáng tin tưởng để họ hưởng ứng hay không. Tôi nghĩ nếu đọc kỹ thì họ sẽ thấy toàn bộ tuyên ngôn này hoàn toàn đúng với nguyện vọng của họ, và dù xét thật kỹ thì họ cũng không thấy có một cái bẫy nào nhằm làm hại họ cả.‒ “… kêu gọi đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước: hãy nhiệt liệt ủng hộ Mặt Trận bằng cách loan truyền rộng rãi khẩu hiệu: Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân!” => Việc vận động quần chúng để họ ý thức mối nguy hiểm hết sức to lớn nhưng cũng hết sức cận kề là họa mất nước vào tay Tàu cộng do đảng CSVN đang tiếp tay thực hiện là điều tối cần thiết để thực hiện một cuộc tổng nổi dậy của toàn dân. Vì thế khẩu hiệu “Chống Tàu Cứu Nước, Giải Cộng Cứu Dân!” là khẩu hiệu rất thích hợp cần được mọi người tích cực phổ biến rộng rãi trong quần chúng. ‒ Một sáng kiến rất hay là “Huy hiệu nhận diện của MTGPMNVN là dấu ‘X’ (dấu gạch chéo). Hiệu kỳ cách mạng của MTGPMNVN là lá cờ CSVN với hai lằn màu đen gạch chéo lên ngôi sao vàng, ở vị thế bị lật ngược (đỉnh nhọn ngôi sao chỉ xuống dưới)”; “Trong trường hợp khẩn cấp, hiệu kỳ cách mạng tạm thời là phân nửa lá cờ của chế độ CSVN (bị xẻ làm đôi từ trên xuống dưới) v ới vị thế bị lật ngược”. => Cờ CSVN thì người dân trong nước rất dễ kiếm, rất dễ mua, và được lưu trữmột cách hợp pháp dù với số lượng nhiều. Chỉ cần một cục than, một lọ mực đen hay một thỏi mực tàu, một hộp sơn đen là có thể biến chúng thành cờ của MTGPMNVN. Ngay cả trường hợp không có than, mực, sơn, thì chỉ việc xé đôi lá cờ ra là có ngay hai lá cờ của MTGPMNVN. Đây đúng là kế “gậy ông đập lưng ông” rất thần diệu!‒ Và “Đồng bào hãy tỏ thái độ không chấp nhận chế độ độc tài bằng cách gạch chéo lên cờ cộng sản hoặc vẽ dấu ‘X’ lên những gì có nền màu đỏ ở bất cứ nơi đâu…” Đây là một việc tương đối rất dễ dàng mà người dân nào vụng về đến mấy cũng có thể làm được để bày tỏ thái độ phản đối chế độ. Người dân trong nước mà âm thầm làm trong đêm, biến mọi dấu hiệu của CSVN thành của MTGPMNVN, thì sáng ra là mọi người đều thấy dấu hiệu phản đối chế độ ở khắp nơi. Thật là một cách “biểu tình” rất khả thi và tương đối an toàn!‒ “… kêu gọi các tổ chức, tập hợp đối kháng có chung khát vọng giải phóng đất nước: hãy cùng đứng lên nhân danh MTGPMNVN đấu tranh quyết liệt với chế độ độc tài, tự tổ chức hành động bằng các sáng kiến riêng, bằng mọi hình thức và phương tiện khả dụng, để cùng góp phần tạo nên tình trạng mất ổn định chính trị toàn diện ở Việt Nam, vô hiệu hóa khả năng thống trị của đảng Cộng sản, làm bàn đạp hữu hiệu cho công cuộc giải phóng đất nước. Mỗi tổ chức sẽ tự ghi nhận và công khai hóa thành quả hoạt động sau ngày chế độ cộng sản bị sụp đổ” => Huy động, khuyến khích mọi sáng kiến, mọi hình thức, mọi phương tiện và chấp nhận tất cả những phương thức đấu tranh, đó là một cách khôn ngoan huy động toàn dân tham gia vào cuộc đấu tranh này. Mục tiêu trước mắt là tạo tình trạng mất ổn định chính trị chứ không phải là mất ổn định xã hội, nghĩa là làm cho tất cả mọi người dân đều biểu lộ bằng một thái độ ôn hòa nhưng rõ rệt rằng họ không chấp nhận chế độ cộng sản. Một khi các bộ đội, công an, cán bộ cộng sản nhận ra toàn dân đều chán ghét chế độ qua những dấu hiệu rõ rệt đó, thì họ sẽ sẵn sàng đứng vào hàng ngũ của người dân. Lúc đó, việc sụp đổ của chế độ sẽ trở nên dễ thực hiện hơn rất nhiều.‒ “… kêu gọi các đoàn thể chính trị ở trong và ngoài nước: hãy tham gia, ủng hộ chủ trương đấu tranh quyết liệt của Mặt Trận, toàn phần hay từng phần, bằng cách chính thức công bố hoặc âm thầm hỗ trợ” => Hiện nay, MTGPMNVN chỉ được biểu hiện qua tuyên ngôn này, hoàn toàn chưa xuất hiện một cơ cấu hay tổ chức nào rõ rệt… Việc tham gia vào Mặt Trận là việc riêng khởi đầu và tạm thời chỉ xảy ra trong nội tâm người tham gia. Người tham gia có thể hoạt động cách riêng rẽ hay theo nhóm tự phát, và hành động thế nào là tùy theo sáng kiến riêng của mình. Do đó, công an cộng sản có muốn lần ra manh mối để bắt bớ cũng không thể làm được.Còn một vấn đề khá quan trọng là MTGPMNVN chỉ muốn giải phóng miền Nam Việt Nam thôi à? Thế còn miền Bắc thì sao? Thưa, đây có thể là vấn đề chiến thuật chiến lược: làm một nửa thì chắc chắn dễ hơn làm toàn thể. Và một khi miền Nam đã được giải phóng khỏi ách thống trị độc tài cộng sản, thì cộng sản ở miền Bắc chắc chắn không thể tồn tại được. Vì thế, xin đồng bào miền Bắc, cũng như các nhà đấu tranh dân chủ miền Bắc, hãy tích cực ủng hộ tuyên ngôn này và tham gia vào Mặt Trận này. Nó không dành riêng hay chỉ nhắm giải phóng miền Nam, mà là toàn đất nước.Hiện nay, công cuộc đấu tranh trong nước hết sức khó khăn. CSVN không chấp nhận bất cứ một hình thức đấu tranh nào, dù có chính đáng, hợp pháp, ôn hòa bất bạo động đến đâu đi nữa, hễ bất lợi cho quyền độc tài toàn trị của họ là họ bắt tù với một tội danh gán ghép hết sức phi lý nào đó. Gương cô Phạm Thanh Nghiên, chỉ biểu tình một mình ngay trước cửa nhà mình với khẩu hiệu “Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam”, thế mà cũng bị bắt giam cả một năm nay chưa xét xử, là một bằng chứng điển hình. Nếu đấu tranh ôn hoàthật quyết liệt và mạnh mẽ thì kết quả là tổn thất lực lượng, tổn thất lực lượng thì không còn người để đấu tranh. Khối 8406 sau một thời đấu tranh ôn hoà thật mạnh mẽ thì kết quả là khoảng ¾ số chiến sĩ năng nổ đấu tranh bị đưa vào tù. Đã có khoảng 40 thành viên đấu tranh năng nổ bị đưa vào tù, nhưng mới chỉ có khoảng 10 thành viên được thả trong hơn 2 năm qua. Nhưng nếu đấu tranh không quyết liệt thì sẽ chẳng đi đến đâu. Vậy phải làm sao đây?Tuyên Ngôn này của MTGPMNVN đề một phương cách huy động toàn dân đấu tranh một cách tương đối dễ dàng và an toàn để tất cả mọi người dân đều có thể tham gia. Nếu được mọi người trong nước hăng hái hưởng ứng với sự tiếp tay tích cực của người Việt hải ngoại, chắc chắn cuộc đấu tranh sẽ tiến thêm một bước rất dài nữa. Đó là một cách chuẩn bị hữu hiệu để lực lượng giải phóng toàn diện Việt Nam có thể xuất đầu lộ diện để giải cứu đất nước.Houston, ngày 7-10-2009 Nguyễn Chính Kết
Đấu tranh không phải là ‘van xin’
Miền Nam Việt Nam bị rơi vào ách cai trị của cộng sản đã 39 năm, và nếu tính thêm miền Bắc từ năm 1954 thì chủ nghĩa cộng sản đã ngự trị trên giải đất hình chữ S tổng cộng đã 60 năm. 60 năm dài dẵng nằm dưới sự cai trị của một chủ nghĩa không tưởng bởi một nhóm người giáo điều và tàn độc, đã vắt kiệt mọi tài nguyên đất nước cũng như tiềm năng dân tộc. Không người Việt Nam nào còn chút lương tri và lòng yêu nước không cảm thấy tức giận với đám người cộng sản này, và mong muốn cái bóng ma cộng sản mau cút hẳn khỏi giải đất Việt Nam thân yêu. Nhưng phải làm gì để đánh đuổi chủ nghĩa độc tài cộng sản ra khỏi Việt Nam? ‘Van xin’ ư? Hai chữ ‘van xin’ nghe có vẻ nhục nhã nhưng thật mỉa mai, đã có không ít người ưa thích. Trong công cuộc đấu tranh chống cộng sản, ‘van xin’ vẫn xuất hiện, ngay cả ở vào những thời khắc mà sự đàn áp người dân của nhà cầm quyền CSVN trở nên thô bạo hơn bao giờ hết như hiện nay. Tuy nhiên tinh thần ‘van xin’ trong đấu tranh được che dấu dưới các vỏ bọc cao thượng như ôn hòa, bất bạo động, yêu chuộng hòa bình, tránh đổ máu… Thử điểm qua một vài hình thái ‘van xin’ tiêu biểu. Van xin núp dưới lời kêu gọi cải cách Các diễn biến thay đổi từ độc tài sang dân chủ trên thế giới như sự cải cách chính trị thần tình của Thủ tướng Miến Điện Thein Sein, đã làm không ít trí thức Việt Nam ước mơ một trường hợp tương tự như thế, được cho là phiên bản đẹp đẽ nhất cho Việt Nam. Có thể nói, chỉ cần giới lãnh đạo CSVN có một chút tinh thần dân tộc thì họ có dư khả năng để xoay chuyển đất nước như ông Thein Sein. Ước mơ tuyệt đẹp này được thể hiện qua các lời kêu gọi hay kiến nghị về các chủ đề như: đảng CSVN hãy đặt quyền lợi đất nước lên trên hết và đề phòng Trung cộng trong mọi lãnh vực; đảng CSVN nên bài trừ tham nhũng để lấy lại danh tiếng và uy tín cho đảng; nhà cầm quyền CSVN nên giảm bớt lãnh vực quốc doanh, đồng thời cho phép gia tăng tư doanh để tạo nên một nền kinh tế có tính cạnh tranh vững mạnh; hiến pháp VN nên cho phép tự do cạnh tranh chính trị bằng cách bỏ điều 4 để trong sạch hóa hệ thống cai trị và đem lại tính chính đáng cho đảng CSVN; nhà cầm quyền nên tôn trọng tư hữu đất đai để ngăn ngừa bạo loạn xã hội xảy ra, dẫn đến sự sụp đổ chính quyền, và vân vân. Trong các điều trên đây, chỉ xét riêng vấn đề chống tham nhũng cũng thấy không thể thực hiện được khi hệ thống toàn trị cộng sản còn tại vị. Nếu có ít kiến thức về chính trị cũng hiểu rằng phương thuốc trị tham nhũng phải là hệ thống cai trị có kiểm soát và cân bằng, hay nói cách khác là hệ thống cai trị tam quyền phân lập với các tiêu chí tôn trọng nhân quyền. Nếu đưa ra lời kêu gọi yêu cầu nhà cầm quyền độc tài CSVN chống tham nhũng hay thực thi nhân quyền thì chẳng khác nào kêu gọi con cáo bảo vệ con gà. Tham nhũng chính là nguồn sữa nuôi dưỡng chế độ. Diệt trừ tham nhũng thì chẳng khác nào bỏ đói viên chức chế độ và hậu quả tất yếu là làm chế độ sụp đổ. Van xin núp dưới lời đề nghị hòa giải Hòa hợp hòa giải thường được hiểu theo hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là giữa nhà cầm quyền CSVN với phong trào đấu tranh dân chủ trong và ngoài nước và trường hợp thứ hai là giữa nhà cầm quyền CSVN với toàn dân tộc. Trong cả hai trường hợp, sự hòa giải chỉ có thể được thực thi khi kẻ có tội theo luật pháp phải lãnh án và bị trừng phạt. CSVN đã giao biết bao đau thương và phạm biết bao tội ác với người dân Việt Nam thì họ phải đền tội. Hòa giải không có nghĩa là xí xóa mọi thứ và bắt đầu lại một ngày mới. Tha thứ cho kẻ phạm tội không phải là yêu thương hay quảng đại mà là toa rập với kẻ ác. Hòa giải phải là tìm cách đem lại một xã hội mà công lý được tôn trọng, và từ đó một xã hội hòa bình mới có thể được tái lập. Vì thế, hòa hợp hòa giải không phải là sự bắt tay thỏa thuận những điều kiện giữa hai phe mà là một tiến trình thực thi công lý để tạo dựng một xã hội hòa bình, không còn hiềm khích, chiến tranh. Những kẻ kêu gọi hòa giải với đảng CSVN, nếu không bắt đầu bằng việc đưa các đảng viên cộng sản vi phạm luật pháp hay phạm các tội ác ra tòa xét xử mà với chiêu bài thỏa thuận hay đối thoại chỉ là những kẻ ăn mày chức vụ với nhà cầm quyền cộng sản. Van xin núp dưới quan điểm chuyển đổi ôn hòa Có thể nói ‘chuyển đổi ôn hòa’ là một kịch bản vô cùng tốt đẹp cho Việt Nam để đạt được dân chủ và cũng là một ước mơ mà mọi người Việt Nam đều mong muốn. Nhưng thực tế là một chuyện bất khả thi nhất. Làm sao giới lãnh đạo cộng sản có thể từ bỏ mọi đặc quyền đặc lợi đang sẵn có, khi vẫn còn vắng bóng những lực lượng đối kháng đe dọa tới địa vị của họ? Bằng thiện tâm ư? Bằng tấm lòng yêu nước ư? Giả như giới chức chính quyền cộng sản đồng loạt từ chức, với sự bảo đảm được an toàn tính mạng và được giữ nguyên vẹn tài sản, thì ai, giới nào sẽ là người thay thế? Giới thay thế có khả năng đưa đất nước đi tới dân chủ hay không? Điều gì bảo đảm những người thay thế sẽ khởi sự tiến trình dân chủ? Với suy nghĩ này, quan niệm chuyển đổi ôn hòa đã được đặt trên nền móng cảm tính, hy vọng giới lãnh đạo cộng sản biết sáng suốt thực thi dân chủ từng bước. Quan điểm này đã bỏ quên yếu tố căn bản của hệ thống dân chủ, trong đó việc điều hành quốc gia được thực thi bằng luật pháp. Ngược lại, hệ thống độc tài được điều hành bằng con người, nhà độc tài quyết định số phận của người dân. Điều này có nghĩa là muốn thực hiện dân chủ thì phải bắt đầu bằng bộ luật mà khởi đầu là Hiến pháp và cơ cấu tam quyền phân lập. Như thế, việc cho rằng người cộng sản có thể và có khả năng dần dần từng bước thực thi dân chủ là điều không thể xảy ra. Nếu có cũng chỉ là dân chủ cuội. Van xin với lời kêu gọi thoái đảng Gần đây, tháng 12 năm 2013, có hai đảng viên cộng sản tuyên bố từ bỏ đảng và đồng thời kêu gọi các đảng viên cộng sản có tinh thần yêu nước cũng hãy can đảm tiếp theo bước. Lời kêu gọi này chỉ có thể mang chút hiệu ứng về tuyên truyền với dụng ý đánh đổ tính chính đáng của đảng CSVN, nhưng xét về mục tiêu của lời kêu gọi thì sẽ không có hiệu quả vì đa số đảng viên đều có quyền lợi gắn liền với thẻ đảng. Sẽ khó có đảng viên chịu hy sinh mất hết tài sản, mất công ăn việc làm, và đồng thời những người trong gia đình cũng sẽ bị vạ lây, để được tiếng thơm yêu nước. Trong thời điểm hiện nay, khi phong trào đối kháng còn đang ở trạng thái ‘van xin’ nhiều hơn các hành động đối đầu thì chẳng có ai dại gì phản lại ông chủ ban phát chén cơm cho mình. Tuy rằng áp dụng phương án đấu tranh làm suy yếu đối phương bằng cách gây chia rẽ nội bộ đối phương hay lôi kéo nhiều phần tử đối phương về phe mình là một phương án tích cực, nhưng phương cách này chỉ có thể có hiệu lực ở thời điểm khi lực lượng đối kháng có sức mạnh tương đương hay hơn nhà cầm quyền. Các chủ trương mang hình thức ‘van xin’ như kể trên thực ra chưa từng được chứng minh có khả năng chuyển đổi một nhà nước độc tài sang dân chủ. Ngược lại, cuộc cách mạng dân chủ nào cũng mang sắc thái đối đầu quyết liệt mà trận chiến cuối cùng bao giờ cũng xảy ra với ít hay nhiều bạo động, cho dù phương thức đấu tranh là bất bạo động. Điều này hiển nhiên phản ảnh thực tế là mọi nhà độc tài đều biết rằng họ sẽ bị trừng phạt khi mất chức vị, và vì thế họ phải chống cự tới cùng. Trong lịch sử từ cổ chí kim, không nhà độc tài nào chuyển giao quyền hành một cách êm thắm và tự nguyện. Vì thế, muốn lật đổ một nhà độc tài thì phải sẵn sàng cho một cuộc so sánh sức mạnh. Nhà độc tài phải bị đánh bại. Hiện nay phong trào đấu tranh dân chủ, có thể nói, đang dần thành hình cho dù chưa thể có thống kê cụ thể các hoạt động, thế lực cũng như nhân sự. Nhưng nếu nhìn về phía nhà cầm quyền để tìm thước đo thì người ta có thể nhận ra rằng trong thời gian gần đây, nhà cầm quyền CSVN ngày càng lo sợ hiện tượng ‘diễn biến hòa bình’: họ liên tiếp cho ra nhiều điều luật để có thể bắt giam những nhà bất đồng chính kiến, họ cho lực lượng công an, cảnh sát diễn tập chống biểu tình, họ còn tìm cách thu nhận giới du đãng vào hàng ngũ bảo vệ đảng vì sợ số lượng cảnh sát công an không đủ dùng khi hữu sự. Giới lãnh đạo đảng CSVN cũng không ngớt nhắc nhở lực lượng công an về vai trò chính yếu của nó là bảo vệ đảng. Những động thái mang vẻ đề phòng này nói lên tầm vóc của phong trào dân chủ, chứng tỏ phong trào đối kháng đang là mối lo hàng đầu của đảng CSVN. Trong thời điểm hiện tại, khi đem so sánh lực lượng giữa phong trào dân chủ và nhà cầm quyền cộng sản thì tư tưởng đánh đổ đảng CSVN như thể khó có thể thực hiện, nhưng thực tế cho thấy không còn cách nào cứu đất nước khỏi sự suy vong ngoài việc phải đánh đuổi chủ nghĩa cộng sản ra khỏi Việt Nam. Tương lai của đất nước phải do bàn tay người dân Việt Nam trong và ngoài nước xây dựng nên, không phải do đảng viên cộng sản ban cho hay bất cứ thế lực ngoại quốc nào giúp đỡ. Tất cả phải bắt đầu từ bàn tay chính mình. Van xin không phải là giải pháp cho vấn đề mà chỉ đưa tới thỏa hiệp với kẻ ác. Trần Văn Minh 1/1/2014 Tuyên Cáo Của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại Nhân Tưởng Niệm 40 Năm Hải Chiến Hoàng Sa

TUYÊN CÁO(English Version) Xét rằng: - Cách đây 40 năm vào ngày 19-1-1974, Trung Cộng đã xua hải quân tấn công quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa. Bảy mươi bốn (74) chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, Hoàng sa rơi vào tay Tàu Cộng trước sự im lặng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt. Năm 1988, Trung Cộng lại dùng võ lực xâm chiếm quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, gây tử thương cho 64 người con của đất nước cho dù đang ở dưới chế độ cộng sản. Trước đó, ngày 14/9/1958, Thủ Tướng CSBV Phạm Văn Đồng đã ký công hàm bán nước “ghi nhận” và “tán thành” tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Cộng áp đặt chủ quyền tại Biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
- Gần đây, nhà cầm quyền Bắc Kinh công khai có những hành động đế quốc và bành trướng lãnh hải khi công bố đường “lưỡi bò” bất hợp pháp, tự nhận chủ quyền 80% biển Đông, ra lệnh các tàu bè hoạt động phải xin phép, đơn phương thành lập vùng “nhận dạng phòng không biển Hoa Đông”, gây căng thẳng và bất ổn trong vùng.
- Các tài liệu lịch sử và pháp lý từ nhiều nguồn độc lập đã chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ lâu đời. Ngoài ra, mưu đồ bành trướng lãnh thổ, tóm thu các nước lân bang làm chư hầu đã được chứng minh trong lịch sử Trung Hoa qua nhiều triều đại.
- Tại Việt Nam, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội chẳng những nhu nhược trước hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Cộng mà còn đàn áp thô bạo thanh niên, sinh viên và đồng bào yêu nước chống hành động xâm lăng của Bắc Kinh.
- Chỉ có một chế độ dân chủ tự do thật sự tại Việt Nam mới xây dựng được thế đoàn kết dân tộc để chống ngoại xâm, kêu gọi sự hợp tác quốc tế để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ lãnh hải Việt Nam.
Bởi thế, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại xin kính cẩn nghiêng mình trước sự hy sinh của các chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ biển đảo của Việt Nam và long trọng tuyên cáo: - Ca ngợi và ủng hộ lòng dũng cảm của giới trẻ và đồng bào quốc nội đã mạnh dạn bày tỏ ý chí chống ngoại xâm bất kể sự bắt bớ, giam cầm.
- Cực lực tố cáo âm mưu bành trướng của nhà cầm quyền Trung Cộng,
- Phản đối đảng cộng sản Việt Nam đã âm thầm tiếp tay cho Tàu Cộng xâm lấn chủ quyền của Việt Nam.
- Đòi hỏi một thể chế dân chủ tự do, tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam để tạo sự đoàn kết; lập tức trả tự do tất cả tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo và những người biểu tình vì bày tỏ lòng yêu nước.
- Kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước đoàn kết cứu nguy tổ quốc, thường xuyên tổ chức, tham gia biểu tình; tẩy chay hàng hóa Tàu Cộng và không du lịch đến Trung Cộng.
- Thỉnh cầu Liên Hiệp Quốc và các nước yêu chuộng hòa bình, tự do và công lý hãy ngăn chận chính sách bành trướng đế quốc của Trung Cộng tại Biển Đông cũng như các nơi khác trên thế giới..
Làm tại Hải Ngoại ngày 19 tháng 1 năm 2014 Ký tên ở khung góc bên phải phía trên. Ký tên: Các cộng đồng, hội đòan, tổ chức, đoàn thể, cơ quan truyền thông v.v… Chữ Ký sơ khởi: Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức.Hội Người Việt Quốc Gia Lausanne, Thụy SĩCộng Đồng Người Việt Quồc Gia tại PhápCộng Đồng Việt Nam tại Hòa LanCộng Đồng Việt NamLiège, Belgium,Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc ChâuCộng Đồng Việt Nam tại NorwayCộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, USA.Cộng Đồng Việt Nam Hoa Thịnh Đốn, Maryland và Virginia. Hoa KỳCộng Đồng Người Việt Quốc Gia Fort Smith, Arkansas, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Arizona, AZ, USA.Cộng Đồng Việt Nam NamCalifornia, CA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pomona, CA, USA. Hiệp Hội Người Việt San Diego, CA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Northern California, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Sacramento, CA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Stockton, CA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Colorado, CO, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Connecticut, CT, USA.Cộng Đồng Việt Nam Florida, FL, USA.Cộng Đồng Việt Nam Trung Tâm FL, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Tampa Bay, FL, USACộng Đồng Việt Nam Jacksonville, FL, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia NamFlorida, FL, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pensacola, FL. USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Louisiana, LA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Massachusetts, MA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Minnesota, MN, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia St Louis, MO, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico, NM, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Hampshire, NH, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia South New Jersey, NJ, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York City, NY, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Oklahoma City, OK, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Allentown, PA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Philadelphia, PA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pennsylvania, PA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pittsburgh, PA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Lancaster, PA, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Northeast Pennsylvania, PA , USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nashville, TN. USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Middle Tennessee, TN, USA.Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston, TX, USACộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas, TX, USA.Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận.Hội Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt, DC, USA Bổ túc:Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia NamCali, CA, USAHội Ái Hữu Hải Quân VNCH NamCaliHội Đồng Điều Hợp Các Cơ Sở Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Hải NgoạiỦy Ban Nhân Quyền Helsinki-ViệtNamNghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa KỳTổng Hội Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCHHội Chuyên Gia Đức Quốc, GermanyHội Phụ Nữ Cờ Vàng New England, Hoa KỳFlorida Việt Báo. Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại New JerseyTổ Chức Dân Chủ Việt Nam, Hoa KỳBan Bảo Vệ Tự Do Tín Ngưỡng Đạo Cao Đài (Hiền Tài Nguyễn Thanh Liêm)........Trần Trung Đạo: Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc Áo và Tiệp Khắc là hai quốc gia bị Đức cưỡng chiếm đầu tiên ngay cả trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ. Trong lúc Đức chiếm Áo không gây nhiều phản ứng vì Áo có nhiều liên hệ với Đức về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa và chính bản thân Hitler vốn là người Áo, việc cưỡng chiếm Tiệp Khắc là một biến cố lớn vì Tiệp Khắc là một nước độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và được xem là một trong số mười cường quốc châu Âu thời đó.
Suốt thời gian dài hơn sáu năm dưới ách thống trị của Đức Quốc Xã, nhân dân Tiệp đã chịu đựng vô số thương vong, thiệt hại. Hàng trăm ngàn người bị giết và hàng trăm ngàn người khác bị đày ải trong các trại tập trung. Thế nhưng phải chăng ngày đó Tiệp Khắc yếu đến mức không bắn được phát súng nào? Không. Trước Thế chiến thứ hai, thừa hưởng các thành tựu kỹ thuật của thời đế quốc Áo Hung, Tiệp Khắc là một trong sốt ít quốc gia có một quân đội đông đảo nhất và được trang bị tối tân nhất châu Âu. Việc Tiệp Khắc rơi vào tay Đức nhẹ nhàng như chiếc lá mùa thu phát xuất từ ba lý do chính. Hai lý do khách quan: (1) Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức, (2) Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các lãnh đạo chủ hòa châu Âu đứng đầu là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain, và một lý do chủ quan: (3) Tiệp Khắc là một quốc gia ô hợp, phân hóa, suy yếu, có nhiều chính khách làm tôi mọi cho ngoại bang và giới lãnh đạo chính phủ không có quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước. Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức.
Sau giai đoạn cách mạng 1848, Đức trở thành cường quốc. Sức mạnh của Đức thể hiện không chỉ trong các lãnh vực kinh tế, quân sự, dân số mà cả khoa học. Tổng số giải Nobel các khoa học gia Đức được tặng thưởng trong giai đoạn 47 năm tồn tại nhiều hơn tổng số giải Nobel của các khoa học gia Anh, Pháp, Nga và Mỹ cộng lại. Năm 1871, Đế Quốc Đức bao gồm 27 khu vực, dưới sự lãnh đạo của Otto von Bismarck đã vượt qua đế quốc Anh. Giống như mọi đế quốc khác trong lịch sử, để tiếp tục lớn mạnh cần phải có tài nguyên thiên nhiên. Đức là quốc gia nằm ngay giữa châu Âu và về mặt địa lý chính trị, suốt nhiều thế kỷ, các chế độ quân chủ Đức cũng chủ trương các quốc gia phía Đông trong đó có Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary là hàng rào an ninh của Đức để đương đầu với hai nước lớn khác là Pháp và Nga. Sau khi sáp nhập Áo vào tháng Ba năm 1938 không cần dùng đến võ lực, Hitler tập trung vào chiến lược chiếm Tiệp Khắc bất chấp sự chống đối của nhiều tướng lãnh cao cấp trong đó có tướng Ludwig Beck, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Đức. Bản thân của Hitler cũng đánh giá Tiệp rất cao nên không dám công khai đưa quân vượt biên giới xâm lăng quốc gia này. Vì vùng Sudetenland có đông dân Đức và có nguồn dự trữ nguyên liệu lớn nhất của Tiệp Khắc, Hitler nghĩ đến việc chiếm vùng Sudetenland trước và dùng khu vực giàu có này làm bàn đạp thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc. Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các các lãnh đạo Anh, Pháp đứng đầu là Thủ tướng Nevill Chamberlain đã “khuyến khích” Đức chiếm Tiệp Khắc.
Sau Thế chiến thứ nhất, dù thắng hay bại, các quốc gia đều phải chịu đựng một thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Khuynh hướng chủ hòa chế ngự trong sinh hoạt chính trị tại các cường quốc dân chủ và lãnh tụ hàng đầu của khuynh hướng này là thủ tướng Anh, Nevill Chamberlain. Thủ tướng Nevill Chamberlain tìm cách hòa giải mối thù địch với Đức. Khi Đức sáp nhập Áo, Chamberlain không có phản ứng cụ thể nào.
Khi Hitler công khai bày tỏ ý định sáp nhập vùng Sudetenlan của Tiệp Khắc đang có hơn ba triệu người gốc Đức, vào lãnh thổ Đức, vấn đề trở nên phức tạp vì Tiệp Khắc có liên minh quân sự với Pháp và Pháp có liên minh quân sự với Anh. Thủ tướng Anh Nevill Chamberlain qua trung gian của Sir Horace Wilson chuẩn bị đàm phán với Đức và qua trung gian của Lord Runciman thuyết phục Tiệp Khắc nhượng bộ. Trong lúc Hitler thông đồng với các nước nhỏ như Hungary và Ba Lan để xẻ thịt Tiệp, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt tuyên bố chủ trương trung lập của Mỹ về tranh chấp Sudetenland. Ngày 15 tháng Chín năm 1938, Thủ tướng Nevill Chamberlain bay sang Đức để thương thuyết với Hitler. Các cuộc thương thuyết giằng co cho đến sáng sớm 30 tháng 9 năm 1939, thỏa hiệp Munich được ký kết giữa Đức, Anh, Pháp và Ý, trong đó, cho phép Đức sáp nhập vùng Sudetenland trù phú và chiến lược vào lãnh thổ Đức. Tiệp Khắc không được mời tham dự hội nghị và chỉ được Anh Pháp thông báo kết quả. Chính phủ Tiệp nghĩ rằng Tiệp Khắc không có hy vọng gì thắng được Đức bằng sức mạnh của riêng mình, đã đồng ý với nội dung của thỏa hiệp Munich. Theo thỏa hiệp này, tướng Đức Wilhelm Keitel được cử vào chức thống đốc quân sự vùng Sudetenland. Những người dân Tiệp không phải gốc Đức phải rời Sudetenland trong vòng 10 ngày và không được mang theo bất cứ một món sở hữu nào. Câu Phản bội Tiệp Khắc để chỉ sự phản bội của đồng minh đối với Tiệp ra đời từ đó. Mất Sudetenland, Tiệp Khắc không chỉ bỏ trống biên giới chiến lược phía nam mà còn mất 70% dự trữ sắt thép, 70% điện và 3 triệu công dân Tiệp. Trong lúc hiệp ước Munich là một thành quả ngoại giao lớn của Nevill Chamberlain, đối với Hitler lại là một bước lùi. Mục tiêu của Hitler không phải chỉ chiếm vùng Sudetenland mà cả nước Tiệp như Wilson Churchill tiên đoán. Đầu năm sau, Hitler lần lượt chiếm các vùng Bohemia, Moravia và phần còn lại của Tiệp Khắc. Cả hai lý do trên không thể làm Tiệp Khắc mất một cách nhanh chóng nhưng chính sâu mọt và phản bội ngay trong lòng nước Tiệp và một chính phủ phân hóa, yếu kém, thiếu quyết tâm mới là những lý do chính làm tan rã Tiệp Khắc. Rất nhiều sâu mọt trong nội bộ Tiệp và đứng đầu là Konrad Henlein lãnh đạo của đảng Sudeten gốc Đức.
Konrad Henlein một thầy giáo bậc trung học, lúc đó đang hoạt động dưới danh nghĩa đảng Sudeten quy tụ đa số dân Tiệp gốc Đức. Konrad Henlein sinh tại Bohemia, Tiệp Khắc có cha là người Đức và mẹ là người Czech. Đảng Sudeten của Konrad Henlein thông đồng với đảng Quốc Xã Đức và được đảng này tài trợ và huấn luyện. Mỗi tháng đảng Sudeten nhận 15 ngàn Đức Mã để trang trải các chi phí hoạt động. Ngày 28 tháng Ba năm 1938, Hiter gọi Konrad Henlein sang Đức và đích thân ra chỉ thị cho tên Tiệp gian này phải đưa ra những điều kiện mà Tiệp Khắc không thể thỏa mãn được. Mặc khác, Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã, tung một chiến dịch tuyên truyền ồ ạt về việc chính phủ Tiệp bạc đãi, đàn áp dân gốc Đức trong vùng Sudetenlan và xúi dục người dân Tiệp gốc Đức đứng lên đòi quyền tự trị. Về lại Tiệp, Tiệp gian Konrad Henlein đòi chính phủ Tiệp phải để vùng Sudetenlan hoàn toàn tự trị, thay đổi chính sách đối ngoại của chính phủ Tiệp và toàn quyền phổ biến lý thuyết Quốc Xã. Dĩ nhiên, đòi hỏi tự trị còn có thể đàm phán được nhưng việc tự do tuyên truyền tư tưởng Quốc Xã khó có thể chấp nhận. Khi đàm phán bắt đầu, Tiệp gian Konrad Henlein và đảng của y lại tạo nhiều xáo trộn bạo động trong vùng và tiếp tục làm khó dễ chính phủ trung ương cho đến khi hiệp ước Munich được ký kết. Ngày 1 tháng Mười năm 1938, các đơn vị tiền phương của quân đội Đức vượt qua biên giới Tiệp giữa tiếng hò reo ủng hộ của các đảng viên đảng Sudeten, và cũng trong lúc đó hàng chục sư đoàn Tiệp được trang bị đầy đủ được chính phủ ra lịnh rút lui. Phía sau đoàn quân Đức là các đơn vị mật vụ Gestapo và lực lượng anh ninh SS. Chỉ trong thời gian ngắn 10 ngàn người dân Tiệp, kể cả dân nói tiếng Đức nhưng chống Hitler, bị đày vào các trại tập trung vừa mới xây ở Sudetenland. Konrad Henlein gia nhập lực lượng an ninh Đức và tham gia vào đảng Quốc Xã. Mặc dù sinh ra, lớn lên trên đất Tiệp, Konrad Henlein đã góp phần quan trọng trong việc rước voi Đức giày lên Tiệp Khắc. Y được thưởng nhiều chức vụ và được cho phép làm công dân Đức. Sau khi Tiệp Khắc được đồng minh giải phóng, tên Tiệp gian phản quốc Konrad Henlein bị bắt và y đã tự sát bằng cách cắt gân máu ở cổ tay. Kẻ phản bội thứ hai là tổng thống bù nhìn Emil Hacha. Sau khi Edvard Benes, tổng thống thứ hai của Tiệp Khắc từ chức, tân tổng thống Emil Hacha là một người nhu nhược. Buổi tối ngày 11 tháng Ba năm 1939, Hitler cho triệu Hacha đến Bá Linh và thông báo cho ý định chiếm toàn bộ Tiệp Khắc bằng võ lực và hứa nếu Hacha chịu hợp tác, Tiệp Khắc sẽ được hưởng quyền tự trị rộng rãi còn nếu nghịch sẽ bị đoàn quân Hitler tấn công Tiệp bằng mọi phương tiện trong đó có cả việc không quân của Đức cày nát thủ đô Prague. Emil Hacha quy thuận Hitler. Dưới thời Đức Quốc Xã chiếm đóng y được giữ chức vụ tổng thống bù nhìn nhưng buộc phải tuyên thệ trung thành trước Hitler. Mặc dù có nhiều tài liệu cho thấy Emil Hacha trong thời gian phục vụ Hitler cũng lén lút giúp cho phong trào kháng chiến chống Đức thuộc chính phủ lưu vong của Edvard Benes nhưng công không đủ để chuộc tội cho y. Sau khi Prague được giải phóng vào tháng Năm năm 1945, Emil Hacha bị bắt và chết hơn hai tháng sau đó trong hoàn cảnh bí mật. Y được chôn trong một ngôi mộ không đề bia tại nghĩa trang Vinohrady. Hiện nay, tại nghĩa trang Vinohrady có một tấm bảng ghi dấu nơi chôn của Emil Hacha.
Jozef Tiso là một kẻ phản quốc đội lốt tôn giáo. Mặc dù thụ phong linh mục nhưng y cũng là một trong những đảng viên nòng cốt của đảng Nhân Dân Slovak. Lợi dụng sự suy yếu của Tiệp Khắc sau hiệp ước Munich, đảng Nhân Dân Slovak do Tiso lãnh đạo tuyên bố Slovak tự trị trong vòng Tiệp Khắc. Vào 13 tháng Ba năm 1939, giống như vừa đe dọa Emil Hacha vài hôm trước đó, Hitler triệu Jozef Tiso đến Bá Linh và buộc y phải tuyên bố Slovak độc lập, tách rời khỏi Tiệp Khắc, nếu không Hitler sẽ thúc giục Hungary và Ba Lan chiếm đóng phần lãnh thổ còn lại của Slovakia. Jozef Tiso cũng tuân phục Hitler và trở nên một cộng tác viên trung thành cho chế độ Quốc Xã. Từ năm 1939 đến năm 1945, Tiso là tổng thống bù nhìn Slovakia chư hầu của Đức. Đảng Nhân Dân Slovak do y lãnh đạo liên kết chặt chẽ với đảng Quốc Xã Đức và chia sẻ quan điểm diệt Do Thái. Khi hồng quân Liên Xô tiến vào chiếm Slovakia tháng Tư năm 1945, Tiso bị bắt và bị kết án phản quốc. Jozef Tiso bị treo cổ ngày 18 tháng Tư năm 1947. Chính phủ Tiệp Khắc chôn y tại một nơi bí mật.
Chính phủ Tiệp Khắc nhu nhược không quyết tâm bảo vệ đất nước. Phân hóa và thiển cận trong thành phần lãnh đạo của hai sắc dân Slovak và Czecho trong chính phủ Tiệp đã làm thượng tầng kiến trúc lãnh đạo sụp đổ nhanh chóng. Tiệp Khắc trong giai đoạn năm 1938-1939 đứng trước những khó khăn và áp lực quá lớn không những từ quốc tế mà ngay cả tại trong nội bộ Tiệp, nhưng thay vì đoàn kết để đương đầu với ngoại xâm, các sắc dân Tiệp đã phân hóa, chia rẽ và tiếp tay làm yếu khả năng đối đầu với Đức. Xét về tương quan quân sự. Theo tổng kết của Giáo sư Sử học Carroll Quigley, đại học Georgetown dựa theo các tài liệu thuộc văn khố quân sự Mỹ sau Thế chiến thứ hai, trong giai đoạn đầu thù địch Đức Tiệp bùng nổ, Đức có 36 sư đoàn nhưng không được trang bị đầy đủ trong lúc Tiệp Khắc có 35 sư đoàn thiện chiến và được trang bị một trăm phần trăm hỏa lực. Vào tuần lễ thứ ba của tháng Chín năm 1939, quân đội Tiệp Khắc đã có một triệu quân với 34 sư đoàn tinh nhuệ trong lúc toàn bộ quân Đức để phối trí tại hành lang châu Âu chỉ có từ khoảng 31 đến 36 sư đoàn. Về không quân, vào tháng Chín năm 1938, Đức trội hơn Tiệp Khắc chút ít. Đức có 1500 máy bay trong lúc Tiệp có gần 1000 chiếc nhưng nếu tính cả Anh, Pháp số lượng phi cơ của ba nước cộng lại vượt xa Đức. Liên Xô ủng hộ Tiệp nên cũng gởi 36 phi cơ chiến đấu đến Tiệp qua ngã Rumania. Về chiến xa, tăng của Đức còn yếu hơn tăng của Tiệp Khắc. Ngoại trừ loại tăng thuộc thế hệ Mark III có trang bị pháo 37 li, phần lớn tăng thế hệ Mark II của Đức chỉ trang bị đại liên. Tiệp Khắc có mấy trăm xe tăng hạng nặng 38 tấn trang bị pháo 75 li hiện đại nhất thời đó. Nếu đánh nhau với Đức trong một cuộc chiến tranh quy ước, chưa chắc Tiệp đã thua. Mà dù có thua, Tiệp Khắc cũng kéo dài cuộc chiến được một hai năm đủ thời gian cho quốc tế can thiệp hay tìm cách lôi kéo các nước châu Âu vào ván cờ sinh tử. Khi tràn ngập Tiệp Khắc vào tháng Ba năm 1939, Đức tịch thu của Tiệp 469 xe tăng, 1500 phi cơ chiến đấu đủ loại, 43 ngàn súng máy và nhiều triệu súng trường. Số lượng vũ khí đó Đức đã phải tốn hàng năm mới sản xuất được. Tiệp Khắc, một quốc gia có điều kiện kỹ thuật tiên tiến nhất châu Âu và từng là một phần của đế quốc Áo Hung hùng mạnh đã bị Hitler xóa tên khỏi bản đồ thế giới không tốn một viên đạn. Với một quân lực cả triệu người và phương tiện đầy đủ nhưng chỉ vì sự yếu hèn của cấp lãnh đạo, Tiệp Khắc trở thành đỉa thịt bò tươi trong bữa cơm chiều của nhiều khách lạ. Sau khi Tiệp bị Hitler cưỡng chiếm, hàng ngàn người dân Tiệp yêu nước phải tự phát rút vào chiến tranh du kích chỉ bằng vài tạc đạn và vài khẩu súng ngắn. Nguồn tiếp tế quá xa và kho súng đạn khổng lồ đã bị tịch thu, họ đã phải chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn. Hàng trăm ngàn người Tiệp đã chết dưới bàn tay sắt của tử thần SS Reinhard Heydrich. Tướng SS Reinhard Heydrich, cai trị Bohemia và Moravia (vùng đất Tiệp sau khi sáp nhập vào Đức) được các sử gia đánh giá là tên tướng độc ác nhất trong hàng tướng lãnh công an mật vụ SS Đức. Y là một trong những kiến trúc sư của kế hoạch tiêu diệt dân Do Thái Holocaust. Hitler ca ngợi Heydrich là “con người có trái tim bằng sắt”. Y bị kháng chiến quân Tiệp ám sát tại Prague vào cuối tháng Năm năm 1942. Đức trả thù tàn bạo. Hai làng Lidice và Lezaky, tình nghi che giấu kháng chiến quân, bị đốt thành tro, tất cả đàn ông đều bị bắn chết, chỉ còn một ít phụ nữ và trẻ em bị đày vào các trại tập trung. Sự chịu đựng của nhân dân Tiệp đã để lại nhiều bài học cho Việt Nam khi đương đầu với chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc. Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc chủ trương bành trướng xuống vùng Đông Á Như đã trình bày trong bài “Hiểm họa Trung Quốc và bài học Thổ Nhĩ Kỳ”, vì các lý do an ninh, chính trị, kinh tế, Trung Quốc phải tìm mọi cách khống chế biển Đông. Hai nỗi lo lớn của giới lãnh đạo CS Trung Quốc là sợ bị bao vây từ bên ngoài và diễn biến hòa bình bên trong nội bộ Trung Quốc. Nhìn quanh, họ chỉ thấy kẻ thù. Thật vậy, hầu hết các quốc gia dân chủ trong vùng từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, tuy mức độ khác nhau nhưng đều là các quốc gia đang có những mâu thuẫn căn bản với Trung Quốc, không những về quyền lợi kinh tế mà cả chế độ chính trị. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào Trung Quốc không chỉ giúp giữ an toàn phòng tuyến phía nam mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Tuy nhiên, khác với Đức Quốc Xã, Trung Quốc không dám tung một cuộc tấn công toàn lực như Hitler chuẩn bị cho Tiệp mà chủ trương gậm nhấm từng phần đất, từng ngọn núi và từng hải lý của Việt Nam. Nắm được yếu điểm của CSVN, trong lúc tiếp tục phát triển kinh tế, mở rộng ngoại giao với hầu hết các quốc gia từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình vẫn tiếp tục phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam như trận Cao Bằng năm 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên năm 1981, Vị Xuyên Hà Tuyên năm 1984, Lão Sơn Hà Giang năm 1984, Vị Xuyên lần nữa vào năm 1985 và năm 1986. Trên mặt biển Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền Việt Nam, bắn thủng ghe tàu, thành lập thành phố Tam Sa, đưa hàng ngàn tàu đánh cá ra khơi, tàn sát ngư dân Việt Nam. Lãnh đạo CS Trung Quốc biết những hành động lấn ép đó không đủ mạnh, đủ lớn để làm quốc tế lưu tâm. Không một Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc nào rảnh rỗi để bàn chuyện vài chiếc ghe đánh cá của ngư dân Việt Nam bị “tàu lạ” húc ngoài Quảng Ngãi hay đặt vấn đề tại sao các tàu đánh cá Trung Quốc cứ tiếp tục thả lưới trong vùng biển Việt Nam. Những sự kiện ghe tàu đó đối với các cường quốc là chuyện vặt nhưng với một nước nhỏ như Việt Nam nơi có nhiều triệu dân gắn liền với ngư nghiệp lại là chuyện lớn. Đặc tính hèn hạ, nhỏ mọn đó của Trung Quốc là sản phẩm của chế độ độc tài CS và đừng ai hy vọng gì các đặc tính đó thay đổi một khi chế độ sinh ra chúng còn tồn tại. Đàm phán với Trung Quốc ư? Đàm phán đa phương quốc tế Trung Quốc không tham dự nhưng đàm phán song phương là rơi vào chiếc bẫy của Trung Quốc. Nếu ai theo dõi chuyện Trung Quốc và Liên Xô tranh cãi nhau về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri sẽ thấy. Các phiên họp tranh cãi chủ quyền kéo dài tới 20 năm, từ thập niên 1970 cho đến 1990 nhưng không đem lại kết quả nào. Mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc chở theo một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc biết dù chở cả xe bằng chứng cũng chưa hẳn thuyết phục được Liên Xô nhưng chỉ muốn kéo dài thời gian đàm phán để chờ đợi thời cơ. Tương tự như Hitler, lãnh đạo CS Trung Quốc lợi dụng chính sách ngoại giao mềm của Mỹ Trong bài viết Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước tôi có dịp trình bày chính sách Mỹ hiện nay là sự bước tiếp nối của chính sách ngăn chận thời Chiến tranh lạnh trong điều kiện toàn cầu hóa. Nhiều người Việt lầm lẫn nghĩ rằng hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh thả neo ngoài khơi Đà Nẵng là để bảo vệ Việt Nam. Thật ra, cả Trung Quốc và Mỹ đều biết dù áp dụng chính sách nào hay dù có thái độ nào, xung đột võ trang giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới có phụ thuộc quá sâu, quá phức tạp về kinh tế không thể xảy ra trong một giai đoạn ngắn tới đây. Về phía Trung Quốc, không giống Đức Quốc Xã cần chiến tranh để phục hồi và phát triển, Trung Quốc phải đương đầu với hàng loạt khó khăn trên trong cũng như bên ngoài, việc phát động một cuộc chiến tranh quy mô ở Á châu và Thái Bình Dương như Hitler đã làm với Tiệp Khắc là một điều giới lãnh đạo CS Trung Quốc không dám thực hiện. Hơn ai hết, giới lãnh đạo CS Trung Quốc biết họ phải cần nhiều chục năm kỹ thuật và một ngân sách hải quân khổng lồ mới mong đuổi kịp Mỹ. Ngoài ra, chủ nghĩa Cộng Sản đã chết, Trung Quốc hiện đang sống nhờ vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Thế chiến thứ nhất 1914-1918 dẫn đến tự sụp đổ của Đế Quốc Đức, Đế Quốc Áo Hung, Đế Quốc Ottoman đã dạy họ một bài học: Các đế quốc gây chiến trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng những không thắng mà đều tan rã từ bên trong. Về phía Mỹ, ngoài các lý do kinh tế, riêng trong lãnh vực quân sự cũng không phải dễ dàng. Chính phủ Mỹ trong lúc muốn duy trì ảnh hưởng trong vùng, cũng không muốn bị cuốn vào các xung đột mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc đối đầu với chủ nghĩa dân tộc như trường hợp Trung Quốc và Việt Nam. Tháng Giêng 2011, Tổng thống Barack Obama trải thảm đỏ tiếp đón Chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào như quốc khách với 21 phát đại bác chào mừng. Trong buổi tiếp tân, TT Obama ca ngợi “sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước”. Khi trả lời buổi phỏng vấn dành cho tờ Wall Street Journal, Hồ Cẩm Đào công nhận sự quan trọng trong quan hệ tốt giữa Trung Quốc và Hòa Kỳ. Họ Hồ cũng nhấn mạnh đến việc hai quốc gia phải “hành động phù hợp với quyền lợi căn bản của nhân dân hai nước, và tôn trọng quyền lợi chung của hòa bình và phát triển thế giới”. Dân biểu Ileana Ros-Lehtinen, thuộc đảng Cộng Hòa, Chủ tịch Ủy ban Ngoại Giao Hạ Viện trong một văn bản công bố cho báo chí sau đó, đã nghiêm khắc phê bình Trung Quốc không xứng đáng là một cường quốc vì nhiều lý do và một trong những lý do, Trung Quốc đã ngang nhiên xem Biển Đông như là “quyền lợi chính” và xem thường quyền hàng hải và lãnh thổ của các quốc gia vùng Đông Nam Á. Các lãnh đạo Cộng Hòa cũng tố cáo TT Obama đã thực thi chính sách “Nhân nhượng” của Nevill Chamberlain để đối phó với Trung Quốc. Dĩ nhiên, TT Barack Obama phủ nhận những lời kết án này. Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc nắm chắc các thành phần lãnh đạo cam thân làm nô bộc cho ngoại bang và không quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.
Trung Quốc biết rất rõ tham vọng cố bám vào chiếc ghế quyền lực của giới lãnh đạo CSVN. Chủ trương “hợp tác hổ tương bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các quốc gia” của lãnh đạo CSVN chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền che đậy sự sợ hãi trước đàn anh CS Trung Quốc. Ngay cả các cường quốc Anh, Nhật, Pháp cũng không chủ trương như vậy đừng nói chi là những nước mang số phận sân sau như Việt Nam. Các nước nhỏ như Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Đài Loan, Nam Hàn vượt qua được những nhược điểm khách quan và chủ quan của đất nước họ bởi vì họ biết cách vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc để phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Không chỉ Thổ Nhỉ Kỳ cần Anh Quốc mà Anh Quốc cũng cần Thổ Nhĩ Kỳ và tương tự không chỉ Đài Loan cần Mỹ nhưng Mỹ cũng cần Đài Loan. Quan hệ Trung Quốc và Việt Nam không giống như quan hệ giữa Mỹ và Philippine hay Mỹ và Nam Hàn. Giới lãnh đạo CSVN không có vị trí độc lập về chính sách đối ngoại. Mọi chính sách trước khi đưa ra đều phải đo lường phản ứng từ phía Trung Quốc. CS Trung Quốc và CS Việt Nam chia sẻ nhau một lịch sử lâu dài từ ngày đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Hai đảng gắn bó về cả vật chất lẫn tinh thần. Câu nói của Mao “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là nắm lấy quyền lực thông qua đấu tranh võ trang và giải quyết vấn đề bằng chiến tranh” là tư tưởng chỉ đạo của đảng CSVN trong khi vạch định đường lối suốt hai cuộc chiến. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của và người của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Nợ máu xương chồng chất. Tuy không dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam nhưng nhân dân Việt Nam đã và đang phải trả bằng máu của bao nhiêu thế hệ từ trước năm 1975 cho đến nay và chưa biết ngày nào mới trả hết. Bài học từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan Bài học lớn nhất mà nhân loại học được từ Thế chiến thứ hai là sự thụ động, tiêu cực của con người trước hiểm họa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Những kẻ chịu trách nhiệm cho cái chết của 70 triệu người không chỉ là Adolf Hitler, Benito Mussolini và Kideki Tojo nhưng còn là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Tổng thống Pháp Édouard Daladier. Chính người dân Đức đã bỏ phiếu cho Hitler và người dân Anh đã nhảy nhót vui mừng khi lãnh thổ Tiệp rơi vào tay của Đức. Trong một thời gian ngắn trước Thế chiến thứ hai, không chỉ Đức thôi mà cả nước yếu kém hơn Tiệp như Ba Lan, Hungary cũng dự phần vào bữa tiệc nấu bằng thịt xương Tiệp Khắc. Thế chiến thứ hai có thể đã không xảy ra hay xảy ra với mức độ tác hại thấp hơn nếu số lớn nhân loại ngày đó không thỏa hiệp, không đồng lõa với cái ác. Từ đó để thấy, việc ngăn chận chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc ngày nay phải là trách nhiệm hàng đầu của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý bởi vì lịch sử chứng minh chủ nghĩa dân tộc cực đoan dẫn đến chiến tranh ngay cả trong trường hợp các kẻ chủ trương cực đoan không muốn. Chưa từng có một trường hợp nào ngược lại. Giới lãnh đạo CS Trung Quốc là những người nhúm lên ngọn lửa dân tộc cực đoan nhưng lửa cháy mạnh hay yếu tùy thuộc vào nhiều yếu tố có khi không nằm trong vòng kiểm soát của họ. Các chủ trương đồng hóa và diệt chủng các dân tộc yếu thế là phó sản của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ giai đoạn sau cách mạng Pháp 1789 đến Thế chiến thứ nhất rồi Thế chiến thứ hai cho tới các cuộc chiến đẫm máu vùng Balkans giữa các nước thuộc liên bang Nam Tư cũ, máu nhân loại đã đổ liên tục vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Sau cực tả là cực hữu, bản đồ thế giới chưa bao giờ thay đổi nhanh chóng như trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua. Các nhà phân tích thường dựa vào hậu quả hơn là tìm hiểu nguyên nhân nên không lấy làm lạ ít người so sánh Hitler với Đặng Tiểu Bình. Đa số vẫn đánh giá họ Đặng như một nhà lành đạo CS tiến bộ, mở cửa hiện đại hóa, làm dịu căng thẳng giữa hai khối. Tuy nhiên, quan điểm của Hitler và Đặng Tiểu Bình có nhiều điểm giống nhau hơn cả giữa Hitler và Stalin, Hitler và Mussolini hay Hilter và Mao bởi vì cả hai đã dùng chủ nghĩa dân tộc như một phương tiện để kích thích “niềm kiêu hãnh quốc gia”, vẽ lên trong nhận thức con người về “một loại đất nước huy hoàng tưởng tượng”, làm gia tăng nhất thời sức mạnh kinh tế và tạo áp lực thường xuyên trên các nước yếu hơn trong vùng. Nhân loại nguyền rủa Hitler, kết án Mao và phỉ nhổ Stalin, tuy nhiên, nếu chiến tranh bùng nổ tại Á Châu, với dân số 1.3 tỉ người mà bầu nhiệt huyết được đun sôi bằng ngọn lửa hận thù, hậu quả của chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình nhóm lên từ năm 1978 sẽ khủng khiếp đến dường nào. Giữa Hitler và Đặng Tiểu Bình ai tàn ác hơn ai, chưa biết được. Có hy vọng nào cho dân tộc Việt Nam? Nhìn lại Việt Nam, chưa bao giờ dân tộc lại phải chịu đựng sự phân hóa, chia rẽ trầm trọng như hôm nay. Một người Việt quan tâm đến tiền đồ dân tộc nào cũng đau lòng nhận ra điều đó. Tuy nhiên, dù có thể còn khác nhau trong cách trả lời, chúng ta không thể không đồng ý rằng, để cứu đất nước, trước hết phải tháo gỡ chiếc gông độc tài chuyên chính ra khỏi cổ người dân và trả lại cho họ những quyền bẩm sinh mà ai cũng có, đó là quyền làm người, quyền quyết định sinh mệnh của chính mình và của dân tộc mình. Bởi vì, chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ, tự chủ, cường thịnh mới mong thắng được chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc. Trần Trung Đạo Hiểm họa Trung Quốc và bài học CongoPublished on February 13, 2014 · No Comments Nguồn: chinaafrica của website paolowoods.net
Những tuổi thơ trong mỏ quặng Em Adon Kalenga làm việc cho một hãng thu mua quặng. Công việc của em mỗi ngày là vác những bao quặng nặng gần 100 kí lô từ những hầm sâu, ẩm thấp đi rửa sạch và vác trở về cho chủ hãng thầu. Như em tả, cả thân thể em đều cảm thấy đau nhức và cả mười ngón tay trầy trụa sau một ngày dài rửa quặng. Em Adon Kalenga chỉ mới 13 tuổi. Trong lúc hầu hết thiếu niên cùng tuổi em trên thế giới đang đến trường thì em phải làm việc không ngưng nghỉ suốt bảy ngày mỗi tuần. Em không đủ tiền để đóng học phí, trung bình khoảng 6 Dollar một tháng. Em không có nhà ở. Đêm về, em ngủ nhiều nơi trên đường phố và cũng có khi tìm đến tạm trú trong các trại mồ côi. Cha của Adon chết khi em mới 9 tuổi. Mẹ em sau đó cũng bỏ nhà ra đi. Bà con thân thích không ai nhận nuôi dưỡng em khi chính họ còn không đủ sức nuôi con của họ. Em trở thành đứa bé mồ côi. Sau khi lang thang bụi đời một thời gian, các bạn của em gợi ý nên đi đào quặng bán lại cho các công ty thu mua Trung Quốc. Thế là em cùng các bạn đi đào quặng để kiếm sống. Trong năm đầu tiên em có lần suýt chết khi trời mưa lớn làm đất sụp thành bùn đè lên những người đang làm dưới hầm sâu. Bốn người bạn của em, Fabrice, Jean, Patient and Patrick đều bị bùn chôn sống trong tai nạn đó. Em may mắn sống sót nhưng thương tích đầy mình. Adon nói “Cuộc sống của em rất khó khăn. Em không hiểu tại sao.” Một người bạn của Adon tên là Carlito Muamba, cũng chỉ mới 15 tuổi nhưng mỗi ngày phải chui vào những hố sâu trong lòng đất để đào bằng tay và chiếc sẻng nhỏ. Phía trên hầm không có gì che, mỗi khi đào, đất và bụi rớt xuống phủ kín chiếc đầu không tóc của em. Áo quần em biến thành màu đỏ nhưng em vẫn tiếp tục đào. Mồ hôi trộn lẫn vào bụi đỏ. Không có thang để trèo. Mỗi khi muốn vào hay ra khỏi hầm, em phải bò bằng chân tay. Và đến cuối ngày em cũng được chủ thầu phát một số tiền tương đương với 3 Dollar. Khi được hỏi lý do em làm việc cực nhọc, Carlito trả lời “em cần tiền để mua thức ăn.” Rất đông các bạn cùng tuổi em đi đào quặng. Mặc dù trên giấy tờ Congo có ký vào hiệp ước quốc tế nghiêm cấm lao động trẻ em vị thành niên, trong thực tế chẳng bao giờ được áp dụng. Ở châu Phi giá trị của mạng sống con người rất rẻ. Nhiều chuyện còn quan trọng hơn như việc hàng trăm người trong đó có bốn trẻ em bạn của Adon, bị đất sụp chôn sống cũng chẳng được ai quan tâm nói chi là chuyện trẻ em đi làm. Bà Wangari Maathai, người phụ nữ Phi châu đầu tiên được trao giảo Nobel Hòa bình năm 2004, quy trách nhiệm không chỉ lên chính phủ Congo mà cả các công ty đầu tư cũng đã vi phạm luật lạm dụng lao động trẻ em: “Tại những quốc gia, nơi nhân quyền không được tôn trọng và người dân không thể buộc chính phủ để chịu trách nhiệm thì chính phủ của các công ty đầu tư phải đề ra những điều kiện lao động.” Chính phủ mà bà muốn nói là Trung Quốc và các công ty thu mua quặng cũng là các công ty Trung Quốc tại Congo, nhưng phía chính phủ Trung Quốc bao giờ họ cũng trả lời “đó là vấn đề của Congo, không liên quan gì đến công ty hay chính phủ Trung Quốc.” Adon và Carlito là hai trong số 67 ngàn người Congo đang sống bằng nghề đào quặng tại tỉnh Katanga, phía nam Congo, và câu chuyện cảm động về hai em Adon Carlito do một nhóm phóng viên của hãng Bloomberg thực hiện. Cuối tháng Tám 2008 trên báo Daily Mail ở Anh, nhà báo Peter Hitchens trong phóng sự “Làm thế nào Trung Quốc đã dựng nên một đế quốc nô lệ mới tại Phi Châu” (How China has created a new slave empire in Africa), đã mô tả đời sống của những người dân Congo mà tác giả gọi là “nghèo khổ, vô vọng, giận dữ” khi phải chui vào những hố sâu 25 mét trong những mỏ quặng bỏ hoang để tìm những mảnh quặng đồng còn sót lại, rửa sạch từ những vũng nước dơ và chất thành những kiện nặng tới hàng trăm kí-lô trên những chiếc xe đạp già nua để đem bán cho các thương gia Trung Quốc đang cần nguyên liệu. Nhiều trong số họ đã chết khi những hầm đất sụp hay bị thương nhưng không có thuốc men. Phần lớn đều có con nhỏ. Nhưng nếu họ may mắn sống sót và sau một ngày thu nhặt quặng thành công, họ kiếm được 3 Dollar để nuôi sống bản thân và gia đình trong những thôn xóm tồi tàn đầy bịnh tật. Và cũng theo phóng sự của Peter Hitchens, đời sống một người dân Congo hôm nay không khác gì của ông bà họ ở thế kỷ 18, nếu có khác chăng họ phải làm việc nhiều lần khổ hơn trong một điều kiện cũng tệ hại hơn nhiều. Dù sao, công việc đào quặng đó cũng chỉ là một phần của các công ty thu mua tư doanh Trung Quốc, thỏa hiệp kinh tế được ký kết giữa chính phủ Congo và Trung Quốc đầu năm 2008 lớn hơn nhiều. Hiệp ước kinh tế trị giá hàng chục tỉ Dollar, có ảnh hưởng gần như hầu hết các mặt trong đời sống xã hội tại Congo không phải chỉ trong vòng 10 năm tới mà trong một thời gian rất dài và cũng không chỉ ảnh hưởng về mặt kinh tế mà cả xã hội, văn hóa, truyền thống. Để cảm thông với số phận Congo, có lẽ nên đi ngược dòng lịch sử tìm hiểu thêm về vùng đất giàu tài nguyên nhất nhưng là một đất nước chịu đựng nhiều thiệt thòi và bất hạnh nhất trên lục địa Phi châu. Tội ác diệt chủng bị lãng quên Cộng hòa Dân chủ Congo (Democratic Republic of the Congo, thời Mobutu được gọi là Zaire, thường dễ bị lầm lẫn với Cộng hòa Congo hay Congo-Brazzaville) là một quốc gia vùng trung Phi, có diện tích 2.3 triệu kilô mét vuông và dân số 64 triệu theo thống kê 2008, thủ đô là Kinshasa. Congo có nhiều nguồn tài nguyên phong phú như đồng, vàng, kim cương, cao su, cobalt nhưng lợi tức đầu người hàng năm chỉ có 140 Dollar. Congo tập hợp của khoảng 200 sắc dân. Về căn bản, Congo vẫn là một quốc gia nông nghiệp nhưng từ 1985 việc đô thị hóa ngày càng gia tăng. Về mặt chính trị, chính phủ Congo hiện nay chi phối bởi hiến pháp 2006. Để đạt được một xã hội tạm yên như hiện nay, nhân dân Congo cũng đã phải trả một giá bằng máu của nhiều triệu dân Congo. Không giống chế độ thực dân tại các nước khác được mở đầu bằng võ trang xâm lược, chế độ thực dân Bỉ có mặt tại Congo được diễn ra dưới hình thức mua bán, trao đổi giữa Henry M. Stanley, đặc sứ của vua Bỉ Leopold đệ nhị và các lãnh đạo Congo địa phương sống dọc sông Congo. Cuối năm 1884, Stanley đã ký 450 hiệp ước thay mặt cho vua Leopold. Kết quả, Congo trở thành một nước có tên gọi mỉa mai “Nước Congo Tự do” dưới quyền sở hữu cá nhân của vua Leopold với thủ đô đặt tại Boma, một quận nằm bên bờ sông Congo. Dưới sự bóc lột sức lao động tàn nhẫn để phục vụ cho túi tham không đáy của vua Bỉ Leopold đệ nhị, người dân Congo trải qua gần một thế kỷ trong địa ngục trần gian. Nhân loại nhắc nhiều về Holocaust, diệt chủng Armenian nhưng so với tội ác của Bỉ tại Congo, số người Do Thái bị Hitler giết hay Armenian bị Thổ Nhĩ Kỳ tiêu diệt còn thấp hơn nhiều. Khoảng một nửa dân số Congo thời bấy giờ, 10 đến 15 triệu dân, đã bị quân đội và tay sai dưới quyền của vua Leopold tàn sát. Mặc dù chưa bao giờ đặt chân đến Congo, đất nước đã là phần tài sản của ông ta. Vua Leopold đệ nhị thành lập một hệ thống lao động khổ sai trong đó con người đơn giản chỉ là một dụng cụ sản xuất. Những năm giá cao su lên cao, Leopold chỉ thị cho phu đồn điền phải tăng giờ làm việc. Những ai không làm việc được bị hành hạ bằng nhiều cách như đánh roi, tra tấn và giết chết. Nhiều cuộc nổi dậy của dân chúng đã bị quân đội riêng của vua Leopold được gọi là Lực lượng Công cộng (Force Publicque) tàn sát không thương tiếc. Quân lính trong Lực lượng Công cộng có thông lệ mỗi khi giết một kẻ chống đối, họ chặt một cánh tay mang về trình lên cấp chỉ huy để làm chứng cho số lượng đạn dược đã dùng. Nhiều lính của Leopold thích đi săn khỉ, để giải thích cho số đạn đã bắn ra, chúng đã chặt tay thường dân để đem về trình thượng cấp. Viêc chặt tay không chỉ bị xảy ra cho người lớn mà cả trẻ em vô tội. Hình phạt chặt tay này còn tồn tại đến hôm nay tai Sierra Leone là vết tích của chế độ thực dân mà vua Bỉ Leopold đã để lại tại châu Phi. Mặc dù được các nước thực dân châu Âu cố tình che đậy và dìm vào quên lãng, tội ác diệt chủng của vua Leopold đã được ghi lại trong một số tác phẩm, tiểu thuyết, hồi ký và sử học, trong đó có sử liệu Tội ác tại Congo (The crime of the Congo) của Arthur Conan Doyle xuất bản tại London ngay trong năm Leopold chết, 1909, và Bóng ma của vua Leopold (King Leopold’ Ghost) của sử gia Adam Hochschild được xuất bản năm 1999. Congo độc lập trong nhiễu nhương, phân hóa (1960 – 1965) Trước áp lực dư luận quốc tế và cả quốc hội Bỉ, sau 1908, Congo bị sáp nhập vào Bỉ lần nữa. Quốc gia gọi là “Nước Congo Tự do” do Leopold lập ra dần dần bị giải tán nhưng điều kiện sống của người dân Congo không phải nhờ đó mà tốt đẹp hơn. Dân Congo vẫn một nước thuộc địa, không có một chút quyền hành gì trong bộ máy hành chính từ cấp trung ương đến địa phương. Đến 1955, ngọn lửa đòi độc lập được nhen nhúm từ các nhà ái quốc Phi châu lan rộng đến nhiều nước. Tại Congo nổi bật nhất là Patrice Emery Lumumba. Sau lời hứa trao trả độc lập dành cho các quốc gia thuộc địa Pháp của Tổng thống Pháp Charles de Gaulle nhân chuyến viếng thăm Trung Congo (nay thuộc Congo) đã kích thích việc đòi hỏi tự do của quốc gia trong lục địa Phi châu. Cuối cùng, Bỉ đã quyết định trao trả độc lập cho Congo vào ngày 30 tháng 6 1960. Patrice Emery Lumumba, 35 tuổi, trở thành Thủ tướng đầu tiên. Chính sách ngu dân và cô lập Congo với thế giới bên ngoài của vua Leopold và thực dân Bỉ để lại một hậu quả vô cùng trầm trọng về mọi mặt trong đời sống xã hội Congo sau khi được trao trả độc lập. Bản thân Thủ tướng Lumumba cũng chỉ học được bốn năm tiểu học và một năm huấn luyện làm nhân viên bưu chính. Dù ít học, Lumumba là một người rất thông minh, có lòng yêu nước sâu sắc, có tài ăn nói và giàu năng lực làm việc. Năm 1958, Lumumba và một nhóm thanh niên có học thành lập Phong trào Quốc gia Congo (Movement Natioal Cogolais, MNC) và là tổ chức chính trị có nhiều ảnh hưởng trong quần chúng nhất lại Congo lúc bấy giờ. Giành được độc lập là một chuyện nhưng điều hành đất nước lại là chuyện khác. Vào 1960, cả nước Congo chỉ có 30 thanh niên là tốt nghiệp đại học và 136 học sinh hoàn tất chương trình trung học. Congo không có ngay cả một bác sĩ, không có thầy hay cô giáo và sĩ quan quân đội. Cấp cao nhất trong quân đội mà một người Congo được thăng là thượng sĩ và người đó không ai khác hơn là Joseph Mobutu, nhà độc tài sắp xuất hiện trong lịch sử Congo. Để thay thế quân đội Bỉ, Lumumba phong Mobutu lên chức tham mưu trưởng của quân đội Congo. Trước một đất nước có chủ quyền mà coi như vô chủ với hơn 50 phe nhóm chính trị được hình thành trong giai đoạn chuyển tiếp, Thủ tướng Lumumba vốn không có thiện cảm với các đế quốc thực dân, kể cả Mỹ, đã trở nên cực đoan trong cách giải quyết những xung đột nội bộ Congo. Ông kêu gọi Liên Hiệp Quốc giúp ổn định trật tự tại Congo. Sau khi quân độc Liên Hiệp Quốc đổ bộ xuống Congo, Lumumba còn đi xa hơn khi đòi trục xuất toàn bộ quân đội Bỉ chưa rút hết khỏi Congo, nếu không ông ta sẽ cầu cứu Liên-Xô. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh đang ở cao điểm, việc Lumumba cầu cứu Liên-Xô là một thách thức lớn đối với Mỹ. Sự có mặt của Liên-Xô ngay trong trái tim của Phi châu đối với Mỹ là một sự kiện không thể chấp nhận được. Tổng thống Eisenhower không muốn thấy một Cuba tại Phi châu nên đã quyết định loại trừ Lumumba bằng mọi cách, kể cả ám sát nếu cần. Mỹ mua chuộc được Joseph Mobutu, một phụ tá tin cẩn Lumumba và cũng là đương kim tổng tham mưu trưởng quân đội để thực hiện cuộc đảo chánh không đổ máu. Một trong những hành động đầu tiên của Mobutu là trục xuất các nhà ngoại giao Liên-Xô và các quốc gia thuộc khối cộng sản ra khỏi Congo. Lumumba bị bắt, bị tù và cuối cùng bị phe Katanga thù địch thân Bỉ giết chết lúc 10 sáng 17 tháng Giêng 1961. Việc thiếu tin tưởng vào Tây phương và Mỹ đã dẫn Lumumba đến những quyết định sai lầm, không thực tế trong thời gian ngắn lãnh đạo Congo và bản thân Lumumba cũng chịu trách nhiệm một phần không nhỏ cho tình trạng xáo trộn của Congo, tuy nhiên, không thể phủ nhận tinh thần yêu nước, lập trường chống thực dân kiên quyết mà ông đã theo đuổi từ những ngày còn nhỏ. Sau khi Lumumba bị giết hàng trăm cuộc biểu tình chống Bỉ được phát động khắp thế giới. Patrice Emery Lumumba đã trở thành biểu tượng cho khát vọng độc lập của nhân dân Congo và nhiều chính đảng tại Congo hiện nay mang tên ông. Từ đó cho đến ngày 17 tháng 5 1997, Congo nằm trong tay của nhà độc tài tham nhũng Joseph Mobutu. Mobutu Sese Seko Nkuku Ngbendu wa Za Banga (1965 – 1997) Mobutu Sese Seko Nkuku Ngbendu wa Za Banga hay viết gọn là Mobutu Sese Seko, với tên trong khai sinh là Joseph Mobutu sinh ngày 14 tháng 10 1930 tại Lisala, một tỉnh Congo thuộc Bỉ. Cha mất sớm nhưng Mobutu đã xoay xở để theo học trong các trường đạo cho đến khi bị trục xuất vì lý do hạnh kiểm. Mobutu đăng lính. Với trình độ học vấn sẳn có và nói thạo tiếng Pháp, trong quân đội Mobutu được huấn luyện nghề thư ký kế toán tại tổng hành dinh của Lực lượng Công cộng. Mobutu được phong tới chức thượng sĩ, chức vụ cao nhất mà một người lính Congo được phong. Sau khi trở về đời sống dân sự Mobutu đi làm báo. Với tính thông minh, lanh lợi, Mobutu quen biết nhiều người, nhiều phe nhóm trong đó có cả nhà cách mạng chống thực dân Patric Emery Lumumba lẫn các nhân viên tình báo CIA. Mặc dù chưa bao giờ trực tiếp tham gia chống thực dân hay các phong trào cách mạng giành độc lập Mobutu đã vận dụng sự quen biết để tạo một vị trí chính trị lẫn quân sự vững chắc cho mình trong giai đoạn chuyển tiếp tranh tối tranh sáng tại Congo. Sau khi chính thức nắm toàn quyền lãnh đạo Congo từ 1965, Mobutu lần lượt loại bỏ ra ngoài vòng pháp luật tất cả đảng phái, ngoài trừ Phong trào Nhân dân Cách mạng (Movement Populaire de la Revolution, MPR) do chính ông ta lập ra. Trong suốt 32 năm cai trị Congo, Mobutu dành dụm cho mình một tài sản được ước tính khoảng 5 tỉ Dollar trên sự nghèo đói cùng cực của đại đa số dân Congo. Con số 5 tỉ này tương đương với toàn bộ số nợ mà Congo phải vay mượn thế giới. Những lời tung hô lãnh tụ đầy tính nịnh bợ, các khẩu hiệu tuyên truyền dối trá nhưng rất êm tai Mobutu nghe được trong những dịp viếng thăm các quốc gia cộng sản như Trung Quốc, Bắc Hàn, Rumania, hấp dẫn y đến nỗi khi về nước một trong việc làm đầu tiên của Mobutu không phải xây cầu, đắp đập mà là hình thành ngay một tư tưởng Mobutu. Mobutu ra lịnh thay đổi tên đường, tên phố, quốc kỳ, quốc ca, và tháng 10-1971 thay cả tên nước. Báo chí quốc doanh ca tụng Mobutu như một bậc tiên tri. Mobutu, người bị tố cáo đã giao nộp Lumumba cho phe Katanga giết để tránh tiếng sát nhân, phục hồi danh dự cho Lumumba. Y làm việc này không phải phát xuất từ sự kính phục lòng yêu nước của Lumumba, mà để giải tỏa dư luận, và đồng thời để tự phong mình là nhân vật số hai trong lịch sử Congo, sau Lumumba, có công giành độc lập. Bạn thân nhất của Mobutu là nhà độc tài Nicholas Ceauşescu của Romania. Quan hệ của hai nhà độc tài không chỉ giới hạn ở cấp đảng, nhà nước mà cả cá tính thích sùng bái cá nhân cùng cực. Mobutu cũng thán phục chính cá tính độc lập của Nicholas Ceauşescu đối với Liên-Xô. Sự thân thiết của giữa Mobutu và Nicholas Ceauşescu phổ biến đến mức trong các câu chuyện trào phúng tại Congo, Mobutu Sese Seko được gọi thành Mobutu Sesesescu. Tháng 11-1996, Laurent-Desire Kabila với sự yểm trợ của Burundi, Uganda, Rwanda, đã phát động chiến tranh được gọi là chiến tranh Congo thứ nhất nhằm lật đổ Mobutu. Mobutu đang bị bịnh ung thư tiền liệt tuyến vào giai đoạn cuối, không chống trả nổi, phải lưu đày sang Morocco và chết một thời gian ngắn sau đó. Laurent-Desire Kabila (1997 – 2001) Một trong những kẻ thù thuộc loại kỳ cựu của Mobutu là Laurent-Desire Kabila, một lãnh tụ cộng sản hoạt động từ thời Lumumba. Trong thời gian Lumumba làm Thủ tướng, Laurent-Desire Kabila là một lãnh tụ thanh niên có trình độ đại học của một đảng nhỏ liên minh với Phong trào Quốc gia Congo của Lumumba trong quốc hội. Khi Lumumba bị giết, Kabila trốn vào rừng và thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Congo. Với sự yểm trợ võ khí của Trung Quốc, Kabila dù chỉ mới 24 tuổi, tuyên bố thành lập chính phủ ly khai theo chế độ cộng sản tại tỉnh Nam Kivu, phía tây hồ Tanganyika. Năm 1965, Kabila liên kết với một trong những người cộng sản nhiều huyền thoại nhất của Mỹ châu là Che Guevara. Che nhận xét, trong số những người ông ta gặp, Kabila là ngưòi có nhiều điều kiện để lãnh đạo quần chúng. Kabila có tương lai vì tuổi còn rất trẻ và từng theo học triết học tại đại học ở Pháp. Tuy nhiên, cách sống xa hoa, chìm đắm trong rượu chè và chỉ biết quanh quẩn với gái của lãnh tụ cộng sản Kabila đã làm Che thất vọng và cuối cùng bỏ đi vào cuối năm 1965. Nhà nước cộng sản nhỏ nhoi nầy bị Mobutu càn quét và tan vỡ. Báo chí và cả Mobutu đều nghĩ rằng Kabila đã chết, nhưng không, ba mươi năm sau, Kabila lại xuất hiện và lần nầy lãnh đạo một liên minh quân sự của nhiều nước dưới danh nghĩa Liên minh Các Lực lượng Dân chủ Giải phóng Congo (Alliance des Forces Democratiques pour la Liberation du Congo-Zaire). Quân đội của liên minh đánh bại quân đội của Mobutu chỉ trong vòng vài tháng, và Kabila chiếm thủ đô Kinshasa ngày 20 tháng 5 năm 1997. Sau khi đánh bại Mobutu, Kabila tự phong là chủ tịch nước đứng đầu một chính phủ cứu nguy dân tộc và đổi tên nước là Cộng hòa Dân chủ Congo như đang được gọi hiên nay. Cuộc đời 30 năm sống trong bí mật của Laurent-Desire Kabila cho đến nay cũng còn nhiều huyền bí vì khi còn sống Kabila thường đánh trống lảng khi được hỏi về quá khứ của mình. Tuy nhiên theo các phóng viên điều tra trong đó có ABC News, lãnh tụ cộng sản Kabila và phe phiến loạn của ông đã sống bằng việc giết voi để lấy ngà, đào mỏ, buôn vàng, kim cương qua ngã Burundi, một nước nhỏ trên biên giới phía đông của Congo và cả bắt cóc người để tống tiền, trong đó ít nhất một người là Mỹ. Nhân dân Congo tránh vỏ dưa gặp phải vỏ dừa vì tham vọng của nhà độc tài Maoist Laurent-Desire Kabila không kém gì của Mobutu. Các nhóm dân chủ thật sự đều rút ra khỏi liên minh hay bị loại bỏ. Laurent-Desire Kabila bị một cận vệ ám sát ngày 18 tháng Giêng 2001. Con trai Laurent-Desire Kabila là Joseph Kabima được trao quyền Tổng thống thay cha. Joseph Kabila và quan hệ Trung Quốc (từ 2001) Joseph Kabila lên kế vị cha nắm chức vụ Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo khi chỉ mới 29 tuổi. Tuổi thơ ấu của ông ta cũng có nhiều huyền bí. Joseph Kabila sinh khoảng tháng 4-1971 tại một nơi nào đó hoặc miền đông Congo hay tại Tanzania. Mẹ của ông ta là vợ thứ ba của Laurent-Desire Kabila. Tuy còn trẻ nhưng Joseph Kabila tỏ ra khôn khéo về ngoại giao hơn cha. Trong chuyến thăm viếng Mỹ theo lời mời của Tổng thống George Bush sau khi được quốc hội Congo giao quyền Tổng thống, Josehp Kabila mong muốn có một Congo hòa bình sau khi đã trải qua hai cuộc chiến, Congo thứ nhất từ 1996 đến 1997 và Congo thứ hai từ 1998 đến 2003, với trên 4 triệu người chết. Trong buổi tiếp xúc Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell, Joseph Kabila cũng hứa hẹn sẽ có những cải cách dân chủ và nhân quyền tại Congo. Tháng 12-2005, một cuộc trưng cầu dân ý Congo chấp thuận một hiến pháp mới. Josehp Kabila ghi danh ứng cử với tư cách độc lập. Đối thủ của Joseph Kabila là Jean-Pierre Bemba, cựu phó Tổng thống và cũng là bạn chiến đấu của cha ông ta. Vì vòng đầu cả hai đều không đạt tỉ lệ trên 50 phần trăm như luật bầu cử quy lịnh, cuộc bầu cử phải tiến vào vòng hai, và lần nầy Kabila đắc cử Tổng thống với 58.5 phần trăm tổng số phiếu bầu. Còn khá sớm để đánh giá Joseph Kabila liệu có trở thành một Mobutu hay Laurent-Desire Kabila hay không, nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy Joseph Kabila đã có nhiều thay đổi như việc sắp xếp lại cơ cấu hành chánh và cho về hưu các viên chức quá già trong hệ thống công quyền. Joseph Kabila có quan hệ mật thiết với Trung Quốc. Khi vào tuổi 25, Joseph Kabila đã từng là tư lịnh binh đoàn Kadogos nổi tiếng đánh chiếm thủ đô Kinshasa. Sau khi cha làm Tổng thống, Joseph Kabila được gởi sang Trung Quốc để theo học quân sự tại Đại học Quốc phòng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh. Xa hơn nữa, quan hệ mật thiết giữa Trung Quốc và gia đình Kabila bắt đầu từ khi Joseph Kabila chưa ra đời. Bản thân Kabila cha là một Maoist và công khai bày tỏ lòng kính phục đối Mao Trạch Đông. Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Joseph Kabila vào 22 tháng 3-2002, chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân cũng nhắc lại tình hữu nghị cố cựu giữa cha con Kabila và Trung Quốc. Uống nước nhớ nguồn, Josheph Kabila cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc vì đã hết lòng ủng hộ cha con ông ta trong giai đoạn khó khăn dài trước đó. Chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc tại Phi châu Sau khi thiết lập chế độ cộng sản tại lục địa Trung Hoa, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu tìm cách tạo ảnh hưởng tại Phi châu thể hiện qua các chuyến viếng thăm châu Phi ba tuần của Thủ tướng Chu Ân Lai và ngoại trưởng Trần Di vào đầu năm 1964. Tuy còn rất nghèo nàn nhưng đối với các phong trào du kích tại nhiều nước Á, Phi, Trung Quốc được xem như là ngọn hải đăng cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Trung Quốc sử dụng lý luận cách mạng để tạo ảnh hưởng và củng cố vị trí quốc tế qua việc khuyến khích các cuộc nổi dậy võ trang dưới hình thức cách mạng nhân dân tại các quốc gia đang đấu tranh vì độc lập hay vừa được trao trả độc lập nhưng chưa ổn định. Trong thập niên 50 và đầu thập niên 60, ngoài một số vũ khí phần lớn là chế tạo rập theo khuôn mẫu của Liên-Xô, Trung Quốc là một nước lạc hậu về kinh tế kỹ thuật. Vốn liếng và võ khí mạnh nhất của Trung Quốc là lý luận cách mạng chống thực dân đế quốc. Tại đại hội Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 9-1962, Mao nhấn mạnh sự liên hệ giữa đấu tranh giai cấp trong nước phải được tiến hành đồng thời với việc yểm trợ các cuộc tranh đấu võ trang của các nước khác. Về mặt chính trị, Trung Quốc tích cực tham gia Hội nghị Bandung lịch sử, diễn ra từ 18 đến 24 tháng Tư 1955 tại thành phố Bandung, Nam Dương và sau đó một thời gian ngắn là sự ra đời của Phong trào các Quốc gia không Liên kết. Về mặt quân sự, các phong trào Maoist được Trung Quốc võ trang hình thành khắp nơi, không những trong các quốc gia đang là thuộc địa, các quốc gia đã được trao trả độc lập mà cả những quốc gia chưa từng bị thuộc đia. Trung Quốc huấn luyện du kích quân thuộc phong trào FRELIMO tại Mozambique, PAIGC tại Guinea, ZANU in Rhodesia (Zimbabwe), ANC tai Nam Phi. Năm 1963, Trung Quốc gởi quân dụng và vũ khí đến các lực lượng du kích đang hoạt động tại miền đông Congo dưới sự lãnh đạo của Antoine Gizenga, nguyên là một bộ trưởng trong chính phủ Lumumba, chống lại Mobutu thân Mỹ. Điểm đặc biệt, khác với Liên-Xô và Mỹ, Trung Quốc nhắm vào các mục đích đầu tư dài hạn nên võ khí tặng cho các phong trào Maoist phần lớn đều dưới hình thức cho không. Cuối thập niên 50, lý luận “giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc” không còn hiệu quả vì phần lớn các nước đã giành được hay được trao trả độc lập, Trung Quốc chuyển hướng đấu tranh sang việc phát động phong trào chống thực dân mới và đế quốc Mỹ. Trung Quốc cảnh cáo các nước Á, Phi, độc lập chính trị chỉ là bước đầu trong tiến trình giải phóng đất nước, quan trọng là phải có độc lập về kinh tế. Một số thỏa hiệp kinh tế, dù rất tượng trưng, đã được ký kết giữa Trung Quốc và các quốc gia như Ghana, Guinea, Mali, Tanzania. Trong nội bộ phong trào cộng sản thế giới Trung Quốc tấn công vào chủ nghĩa xét lại Khrushchev. Để chứng tỏ Trung Quốc không chỉ là một mớ lý luận và những võ khi thô sơ, giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngần ngại thực hiện vài đề án lớn với một số nước Phi châu như trường hợp đề án đường rầy xe lửa Tanzam nối liền Zambia và bờ phía đông của Tanzania năm 1970. Đề án Tanzam được xem như là một đề án lớn nhất của Trung Quốc thời bấy giờ với kinh phí 500 triệu Dollar để xây dựng một hệ thống đường xe lửa dài 1870 kí lô mét từ Dar es Salamm đến khu vực mỏ quặng chính của Zambia. Số nhân công được sử dụng gồm 50 ngàn tuyển mộ từ Tanzania và 25 ngàn được đưa sang từ Trung Quốc. Bất chấp nắng mưa, chết chóc, 75 ngàn người đã làm việc suốt 5 năm dài, bắt 300 cầu, đào thông 23 hầm và đặt 147 trạm xe lửa. Đề án được Trung Quốc ca ngợi như một thành công vĩ đại vào năm 1975 mặc dù Trung Quốc biết cả vốn lẫn lời có thể đều không thu lại được. Trung Quốc thực hiện đề án Tanzam không nhằm theo đuổi mục đích lợi nhuận kinh tế nhưng qua đó thiết lập một đầu cầu quan trọng cho việc đổ bộ ồ ạt vào Phi châu trong đầu thiên niên kỷ này và đồng chứng tỏ cho các lãnh đạo các nước Phi châu thấy không chỉ có Mỹ hay Liên-Xô mới khả năng thực hiện các đề án lớn. Các chính sách đổi mới kinh tế của Đặng Tiểu Bình bắt đầu thập niên 80, về mục tiêu có nhiều thay đổi, nhưng một số điểm trong chính sách đối với châu Phi thời Mao vẫn được duy trì. Giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc sử dụng và khai thác lịch sử như một vũ khí chiến lược để phục vụ cho mục tiêu bành trướng. Trung Quốc vẫn lặp đi lặp lại khẩu hiệu hợp tác hữu nghị, tình đồng chí anh em thắm thiết giữa các quốc gia cùng cảnh ngộ được như Chu Ân Lai đã tuyên bố từ Hội nghị Bandung hơn nửa thế kỷ trước, có khác chăng các lãnh tụ phiến loạn ngày xưa nay đã là những tổng thống và Trung Quốc, lãnh tụ của thế giới thứ ba nghèo khổ, nay là một siêu cường. Các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc tại Phi Châu 1. Thỏa mãn nhu cầu năng lượng và nguyên liệu Phát triển kinh tế đòi hỏi trước hết là nguyên liệu. Sự thất thoát và lãng phí nguyên vật liệu trong sản xuất đã làm nhu cầu nguyên liệu của Trung Quốc vốn đã thiếu hụt lại càng thiếu hụt trầm trọng hơn. Để đuổi kịp các nước tư bản phát triển và vượt qua những khiếm khuyết trong sử dụng nguyên liệu, giới lãnh đạo kinh tế Trung Quốc không áp dụng các phương pháp kinh doanh truyền thống mà Mỹ và các nước Tây Âu đã và đang áp dụng. Các chuyên viên đặt hàng của các công ty Trung Quốc không ngồi trong các phòng có gắn máy lạnh, trước máy vi tính và mua nguyên vật liệt từ các thị trường nguyên liệu quốc tế mà đến tận nơi, mua tận gốc và mua với giá rẻ nhất. Tệ hại hơn cả các chế độ thực dân trước đây, Trung Quốc vơ vét đủ cách, đủ kiểu, chính thức qua các hợp đồng nhà nước và không chính thức qua trung gian các công ty thầu thu mua do người bản xứ điều hành. Các công ty Trung Quốc bất chấp các nguyên tắc, luật lệ lao động và họ không quan tâm các bao quặng kia do ai đào ra, dù từ bàn tay của một phụ nữ Congo đang cõng trên lưng một đứa bé sơ sinh hay một em Adon Kalenga chỉ mới 13 tuổi. 2. Giải quyết nạn thặng dư dân số tại Trung Hoa lục địa Nội dung của chủ nghĩa bành trướng thế giới của Trung Quốc không chỉ giới hạn về kinh tế mà đồng thời để giải quyết được nạn thặng dư dân số tại nội địa Trung Quốc. Dân số Trung Quốc theo thống kê tháng 7-2008 là 1 tỉ 330 triệu người. Trong 20 năm qua, việc thực thi chính sách kiểm soát dân số mỗi gia đình một con khá hữu hiệu đã giúp mức gia tăng dân số chậm lại tại mức 0.65 phần trăm mỗi năm. Nếu cứ tiếp tục duy trì chính sách hạn chế sinh đẻ như hiện nay, nghĩa là cứ hai người lớn tuổi mới có một em bé, số lượng người già trong dân số Trung Quốc theo tỉ lệ sẽ tăng nhanh hơn số lượng trẻ em. Theo các nhà phân tích dân số, nếu mức phát triển dân số không thay đổi, trong tương lai không xa Trung Quốc sẽ là một viện dưỡng lão khổng lồ. Việc thỏa mản các nhu cầu an sinh, xã hội, y tế cho nhiều trăm triệu người già không còn khả năng lao động, là một viễn ảnh đầy lo sợ của giới lãnh đạo Trung Quốc. Theo báo Sunday Times xuất bản tại Anh số tháng Hai 2008, một chuyên viên về Trung Quốc ước lượng rằng chính phủ Trung Quốc cần phải đưa ra khỏi Trung Hoa lục địa 300 triệu người mới có thể giải quyết nạn thặng dư dân số. Đưa đi đâu? Bất cứ nơi nào, nhưng nơi di dân thích hợp nhất của thời đại ngày nay không đâu khác hơn là Phi châu đất rộng, người thưa, tài nguyên phong phú. Trung Quốc cũng tìm cách truyền bá tiếng phổ thông Trung Quốc sang các nước Phi châu. Mặc dù rất khó học, các lớp dạy tiếng Trung Quốc được mở khắp mọi nơi. Chính phủ Trung Quốc ước lượng sẽ có 100 triệu người nước ngoài, hẳn nhiên đa số sẽ từ châu Phi, nói tiếng Trung Quốc. Tại Kenya còn có một học viện mang tên Viện Khổng Tử chuyên dạy về văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc. Theo phân tích của các tác giả tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (the Center for Strategic and International Studies) trong tổng kết China the Balance Sheet, Trung Quốc là một nước già, và vào giữa thế kỷ này Trung Quốc sẽ có 349 triệu cao niên. Hệ thống dưỡng lão tại Trung Quốc ngày nay vẫn còn theo kiểu con cái phụng dưỡng cha mẹ già nhưng 30 năm nữa một người trẻ phải phụng dưỡng bốn người già. Tình trạng mất cân đối giới tính trong dân số Trung Quốc cũng là một mầm mống khác cho những bất ổn xã hội tương lai. Mặc dù trên giấy tờ chính phủ Trung Quốc nghiêm cấm việc phá thai dựa theo giới tính nhưng tình trạng phá thai một cách bất nhân khi đã biết bào thai là còn gái vẫn xảy ra rất phổ biến tại Trung Quốc. Điều đó dẫn đến tình trạng trai thừa gái thiếu. Phương pháp để giải quyết tình trạng đó là mua vợ từ các nước Á châu khác. 3. Xuất cảng hàng hóa tiêu dùng Không giống các quốc gia Tây phương, viện trợ và đầu tư được tính toán một cách cân đối dựa trên nhu cầu ngắn hạn và dài hạn của một quốc gia, trong đó có đầu tư về giáo dục, huấn luyện nghề nghiệp, khoa học kỹ thuật, các đầu tư của Trung Quốc nhắm nhiều nhất vào các mục đích tiêu dùng và dịch vụ như phi trường, sân vận động. Tập sang nghiên cứu China Monitor của Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc tại Congo cho rằng việc Trung Quốc xây dựng các công trình chẳng khác mang cá đến cho người dùng mà không chỉ cho họ cách để tự đánh cá. Như một nước nông nghiệp với nhiều triệu dân là những người tỵ nạn chiến tranh vừa mới hồi cư, sản phẩm công nghiệp Congo không phải là đối thủ cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc. Đường phố Lubumbashi, thủ phủ tỉnh Katanga, là một phố Tàu lớn với các cơ sở thương mại Trung Quốc, từ các ngân hàng, các công ty lớn cho đến các nhà hàng, tiệm ăn, tiệm tạp hóa và cả tiệm thuốc bắc. Về hàng hóa, không chỉ đồng hồ, TV, radio, điện thoại mà ngay cả loại vải truyền thống nhiều màu mà phụ nữ Phi châu ưa chuộng, vốn là đặc sản Congo, cũng được may từ Trung Quốc đem sang. Ngoài việc đánh gục hàng nội địa, các công ty Trung Quốc còn cạnh tranh với cả hàng nhập cảng. Công ty điện thoại di động Congo Chinese Telecomps (CTT) bán các điện thoại phẩm chất không thua kém các công ty lớn thế giới nhưng giá rất thấp so với các sản phẩm nhập từ Mỹ hay châu Âu. Mua chuộc và bao che cấp lãnh đạo để khai thác lâu dài Các lãnh đạo Phi châu không phải là không biết thâm ý của Trung Quốc nhưng họ vẫn muốn hợp tác kinh tế với Trung Quốc hơn là các nước Tây phương. Như đã trình bày, hợp tác với Trung Quốc, các lãnh đạo Phi châu không phải bận tâm về các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền vì chính sách của Trung Quốc không can thiệp vào nội bộ của các nước khác. Trong khi các vấn đề nhân quyền đã đẩy các công ty phương Tây ra khỏi châu Phi thì Trung Quốc trở thành nước độc quyền đầu tư và khai thác kinh tế. Ngoài ra, hợp tác với Trung Quốc không phải thông qua các thủ tục, các điệu kiện phức tạp như khi vay tiền của IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế). Thảo luận hay ký kết các hợp đồng thương mại với các công ty Trung Quốc cũng chẳng khác gì ký kết với chính phủ Trung Quốc và do đó không cần phải thông qua sự chấp thuận của chính phủ hay quốc hội, nếu có cũng chỉ là vấn đề thủ tục. Trung Quốc ưu đãi, bao che và nếu cần sẽ sẵn sàng tiếp tay cho giới lãnh đạo để đàn áp các thành phần đối lập, các tầng lớp nhân dân. Giống như chế độ thực dân đế quốc trước đây, Trung Quốc nuôi dưỡng, bao che, cung cấp cho giới lãnh đạo Phi châu tiền bạc, súng đạn, an ninh cá nhân và bảo vệ chế độ bằng sử dụng quyền phủ quyết trong các cơ quan quốc tế như Liên Hiệp Quốc. Quan hệ Trung Quốc và Congo Riêng với Congo, năm 1964, Mao Trạch Đông đã tuyên bố “Nếu chúng ta có được Congo, chúng ta sẽ có được cả Phi châu”. Về mặt lịch sử, người Trung Quốc có mặt ở Congo từ lâu lắm. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích người Trung Quốc có mặt tại Phi châu từ thế kỷ thứ sáu. Trong thế kỷ 18, thời kỳ vua Leopold cai trị Congo, nhiều ngàn người Hoa đã bị đưa tới để làm đường rầy xe lửa. Đa số đã bị chết vì đói khát hay kiệt sức lao động, một số ít sống sót đã chạy về các thành phố. Tức khắc sau khi Bỉ trao trả độc lập cho Congo, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã gởi điện văn chúc mừng Thủ tướng Lumumba và công nhận Congo độc lập. Tuy nhiên hai quốc gia sau đó đã có xung đột ngoại giao khi Tổng thống Kasavubu thiết lập quan hệ ngoại giao với Đài Loan. Để trả đũa, Trung Quốc gởi võ khí cho quân đội của Gizenga đang chống lại chính quyền Congo trung ương của Kasavubu và Mobutu. Sau khi loại bỏ Tổng thống Kasavubu, siết chặt quyền lãnh đạo tại Congo, Mobutu bắt đầu có có tham vọng lãnh đạo cả lục địa Phi châu. Để làm được điều đó nhà độc tài xứ Congo cần phải hòa hoãn với Trung Quốc, quốc gia có ảnh hưởng nhất trong Phong trào các Quốc gia không Liên kết. Congo và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao 1972. Cũng trong năm này, Mobutu công nhận đàn em thân tín của Trung Quốc là Bắc Hàn. Mobutu thăm Trung Quốc 5 lần trong khoảng thời gian từ 1973 đến 1994. Đáp lại, từ 1973, các lãnh đạo đảng và nhà nước Trung Quốc viếng thăm Congo, đầu tiên với Ngoại trưởng Hoàng Hoa thăm Congo 1978, đến phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm đến Congo 1979. Trung Quốc nắm lấy cơ hội các quốc gia dân chủ Tây phương và Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter bắt đầu tẩy chay chế độ độc tài Mobutu để gây ảnh hưởng với Mobutu. Năm 1983, Trung Quốc tuyên bố hủy bỏ số nợ 100 triệu Dollar Congo đã vay của Trung Quốc, ngoài ra còn gởi khoảng 1 ngàn chuyên viên Trung Quốc sang làm việc trong các đề án nông và lâm nghiệp tại Congo. Khi nhà độc tài Mobutu bị Laurent-Desire Kabila lật đổ, quan hệ hai quốc gia chẳng những không gián đoạn mà còn được củng cố vững chắc thêm. Quan hệ giữa Tổng thống Laurent-Desire Kabila và Bắc Kinh không chỉ là quan hệ giữa hai nước mà còn là quan hệ đồng chí anh em vì Laurent-Desire Kabila vốn là một nhà Maoist và đã từng được Mao yểm trợ võ khí khi còn ở trong rừng. Chỉ một thời gian ngắn sau khi lật đổ Mobutu, Tổng thống Congo Laurent-Desire Kabila lên đường viếng thăm Bắc Kinh. Khi Laurent-Desire Kabila bị ám sát, con trai của ông ta lên làm Tổng thống cũng đã thăm Trung Quốc để xin viện trợ, và đổi lại Trung Quốc được hưởng nhiều đặc quyền khai thác quặng mỏ, nhất là đồng và cobalt. Trung Quốc bắt đầu xây dựng hệ thống đường sá, khách sạn, phi trường, nhà máy điện, cơ sở giáo dục cho Congo, cũng như khai thác gỗ và dần dần lan đến các đề án nông nghiệp, ngay cả cà-phê, đường, cây trái. Cuối tháng 9-2007, Trung Quốc ký với Congo một hợp đồng được xem là lớn nhất từ trước đến nay với một quốc gia Phi châu. Tổng giá trị của hợp đồng lên đến 9.25 tỉ Dollar. Ngân hàng Xuất nhập Cảng Trung Quốc Exim (Export-Import Bank of China) đã đồng ý cho Congo vay để tân trang hệ thống đường sá tại Congo. Đổi lại, Trung Quốc được quyền khai thác 10.6 triệu tấn đồng và 626,619 tấn cobalt. Theo nội dung của hiệp ước khai thác quặng, được đàm phán tại Bắc Kinh giữa luật sư Pual Fortin thay mặt cho công ty quốc doanh Gecamines của Congo và chính phủ Trung Quốc, số tiền sẽ được chi thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 3 năm phù hợp với tiến trình xây dựng và khai thác quặng mỏ. Sau thời gian 10 năm, vai trò độc quyền của Trung Quốc sẽ chấm dứt và hai quốc gia sẽ hợp tác với 2 phần 3 thuộc về Trung Quốc và 1 phần 3 thuộc về Congo, để tiếp tục khai thác quặng mỏ. Hiệp ước đã được Quốc hội Congo chấp thuận tháng 5 năm 2008. Một số nhà phân tích cho rằng đây là một hiệp ước hai bên cùng có lợi vì Congo sẽ có một số cơ sở xây dựng mà họ chưa từng có như Tổng thống Joseph Kabila tuyên bố: “Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Congo có thể thấy những quặng đồng, kẽm của Congo đem về những kết quả tốt”. Tuy nhiên theo luật sư Georges Kapiamba, một trong số ít người đọc được nội dung của thỏa hiệp, cho rằng thỏa hiệp ký kết vào năm 2008 cũng chẳng khác gì “thỏa hiệp” mà Congo phải ký dưới thời vua Leopold đệ nhị của Bỉ. Cộng hòa Dân chủ Congo, trên thực tế sẽ bị thực dân hóa lần nữa. Có khác chăng, vua Leopold chưa bao giờ đặt chân đến Congo nhưng người Hoa sẽ tràn ngập Congo. Congo sẽ được Trung Quốc xây dựng 176 bịnh viện, hai trường đại học, một cảng, 500 chung cư. Đó là những công trình xây dựng lớn, tuy nhiên so sánh giữa gì sẽ nhận về và những gì sẽ mất đi, Congo sẽ bị thiệt hại nhiều hơn. Đừng nói gì đến chủ quyền đất nước và tài nguyên thiên nhiên, chỉ riêng về thu nhập tiền lời, với giá quặng mỏ vẫn còn cao, các nhà phân tích ước lượng, sau thời hạn 10 năm Trung Quốc sẽ thu lại từ 42 tỉ Dollar đến 90 tỉ Dollar. Trung Quốc trong vai trò thực dân của họ, hơn ai hết mong được thấy một Cộng hòa Dân chủ Congo ổn định để khai thác tài nguyên của quốc gia này, nhưng liệu ước muốn đó có là một hiện thực hay không là điều khó ai biết trước. Lịch sử đã chứng minh Mỹ, Pháp, Anh không bao giờ nhường Phi châu cho Trung Quốc một cách dễ dàng. Khi thỏa hiệp được trình lên Quốc hội Congo tháng 5-2008, 105 nghị sĩ thuộc các đảng đối lập Congo đã bước ra khỏi phòng để phản đối. Tháng 10-2008, lực lượng Tutsi dưới quyền của tướng Laurent Nkunda đánh bại các lực lượng chính phủ Cộng hòa Dân chủ Congo và có ý định tiến về phía khu hầm mỏ Congo. Tướng Nkunda tuyên bố một trong những điều kiện đàm phán giữa ông ta và chính phủ của Tổng thống Joseph Kabila là Congo phải hủy bỏ hiệp ước 9 tỉ Dollar với Trung Quốc. Mặc dù tướng Nkunda vừa bị bắt cách đây 3 tháng nhưng các thành phần chống chính phủ vẫn còn rất mạnh. Thỏa hiệp kinh tế 9 tỉ Dollar vì thế đã trở thành con tin cho cuộc tranh chấp giữa nhiều phe phái. Máu có thể sẽ đổ lần nữa trên đất Congo và giống như hàng trăm năm qua, giọt máu đầu tiên hay cuối cùng cũng chỉ là máu của nhân dân Congo vô tội. Và Việt Nam? Bên cạnh nhiều điểm khác nhau về mức độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, địa lý chính trị, hai dân tộc Congo và Việt Nam có chung nhiều điểm bất hạnh giống nhau. Cobalt Congo và Bauxite Việt Nam đều là bước đầu của chủ nghĩa bành trướng của thực dân đỏ Trung Quốc, và viễn ảnh đen tối bị lệ thuộc lâu dài vào Trung Quốc là điều có thực. Giống như Congo, dân tộc Việt Nam cũng trải qua một cuộc chiến tranh dài, với số người chết gần bằng nhau, và cả hai dân tộc đều nằm dưới sự cai trị của một giới lãnh đạo tự nguyện đặt mình dưới sự bảo hộ của Trung Quốc. Bởi vì, chỉ có cộng sản Trung Quốc mới làm ngơ trước các hành động bỏ tù, tra tấn, chặt tay, bịt miệng người dân, chỉ có cộng sản Trung Quốc mới im lặng khi giới cầm quyền sống xa hoa, phung phí trên máu xương, mồ hôi nước mắt của nhân dân, và chỉ núp dưới bóng của cộng sản Trung Quốc giới lãnh đạo có mới thể kéo dài quyền cai trị đất nước. Giống như Congo, Việt Nam cũng có tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào, lẽ ra hôm nay đã thành một con rồng, con phụng ở Á châu, nhưng không, Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo về kinh tế và có một cơ chế chính trị còn lạc hậu hơn cả Congo. Dân tộc Việt Nam, sau bao nhiêu năm nguyền rủa, van xin, đánh thức lương tâm của giới lãnh đạo cộng sản bằng bao nhiêu bức tâm thư, bao nhiêu lời thỉnh nguyện. Tất cả chỉ là những giọt nước rơi vào biển cả, không tạo được âm vang, không gây nên chút sóng. Đảng Cộng sản đã chọn lựa cho họ một con đường riêng để tồn tại thì dân tộc Việt Nam cũng phải biết đứng lên để thay đổi vận mệnh của chính mình. Lịch sử nhân loại chứng minh, những kẻ độc tài thường không bước xuống theo nguyện vọng nhân dân, họ chỉ chết già trong quyền lực hay bị lật đổ. THEO TRẦN TRUNG ĐẠO
Read more: http://www.ttxva.net/hiem-hoa-trung-quoc-va-bai-hoc-congo/#ixzz2zFRUZGwdBáo Úc: Trung Quốc là hiểm họa số 1Published on February 16, 2014 · No Comments
Bản phúc trình của Học viện chiến lược Úc (ASPI) nhận định: Trung Quốc là hiểm họa lớn nhất đối với nền an ninh Úc và an ninh châu Á. Sự nguy hiểm của Trung Quốc xuất phát từ hai nguyên nhân chính: sự lớn mạnh của nền kinh tế và khả năng rút lui ra khỏi khu vực của một nước Mỹ đang bị yếu dần. Bản phúc trình này được đăng trên tờ Tin tức nước Úc. Báo cáo cũng nhận định: nước Úc đang đứng trước nguy cơ tồi tệ nhất kể từ năm 1942 nếu như phải thực sự chống chọi với “một sự khiêu khích từ bên ngoài” ASPI là một tổ chức do chính phủ Úc tài trợ. Bản báo cáo do chuyên gia kinh tế toàn cầu người Mỹ David H Hale viết dưới tiêu đề “Trung Hoa tân mộng” (China’s New Dream), cũng cấp cái nhìn rõ hơn về phép màu kinh tế Trung Quốc và từ phép màu này dẫn đến khả năng cường tráng về cơ bắp.  Lãnh đạo Úc tiếp ông Tập Cận Bình, tuy nhiên, Úc cần phải cân nhắc giữa quan hệ kinh tế với TQ và quan hệ đồng minh truyền thống với Mỹ
Bản phúc trình không chỉ đích danh Trung Quốc như là một kẻ khiêu khích tiềm năng, nhưng phác thảo ra một bức tranh gây lo ngại, rằng đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Bắc Kinh cùng với những động thái tăng cường sức mạnh quân sự gần đây cho thấy Trung Quốc có thể sẽ dùng vũ lực để đạt được những mục đích trong tương lai. “Sự trỗi dậy của Trung Quốc như là một siêu cường sẽ trở thành thách thức đối ngoại lớn nhất của Úc trong thế kỷ 21” – báo cáo viết. “Canberra sẽ phải cẩn trọng để giữ mức cân bằng giữa quan hệ kinh tế với Trung Quốc và quan hệ đồng minh truyền thống với Mỹ. Đe dọa lớn nhất sẽ xảy ra nếu nước Mỹ không giải quyết được những khó khăn của mình, buộc phải cắt giảm ngân sách quốc phòng và rút khỏi khu vực Đông Á. Lúc đó sẽ là thảm họa”. Năm 2012, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng nhanh, ước đạt 166,2 tỉ USD so với vỏn vẹn 22,2 tỉ USD của năm 2000 và hiện đứng thứ nhì sau Mỹ (660 tỉ USD). “Trung Quốc đã đưa ra những yêu sách đòi đến phần lớn Biển Đông, gia tăng xung đột biên giới với Việt Nam và Philippines” – báo cáo viết. “Tháng 11.2013, Trung Quốc đã tuyên bố thành lập vùng nhận diện bay trên Biển Đông. Hành vi này đã có thể kích hoạt một cuộc leo thang căng thẳng trong khu vực và rất dễ dẫn đến chiến tranh”. Ông Hale cũng cho rằng, hiểm họa lớn nhất đến từ thói khiêu khích của Trung Quốc sẽ là một cuộc đụng độ quân sự. Hiện tại, Trung Quốc đang là đối tác thương mại hàng đầu của 124 quốc gia, cao hơn hẳn so với 76 quốc gia của Mỹ và lượng vốn đầu tư trực tiếp tại nước này đã lên đến con số 832 tỉ USD. Trung Quốc cũng đang có quỹ dự trữ ngoại hối tại đến 3.700 tỉ USD, kế đến là Nhật đạt 1.300 tỉ USD. Trung Quốc có 122 tỉ phú trong năm 2013 so với 422 của Mỹ, 110 của Nga, 39 của Đặc khu Hongkong và 26 của lãnh thổ Đài Loan. Đây là quốc gia có nền sản xuất lớn nhất, trong năm 2012, Trung Quốc cho xuất xưởng 19,27 triệu chiếc xe, cao gần gấp 10 lần so với 2,1 triệu chiếc vào năm 2000. Trong khi cùng năm này, Mỹ cho ra đời 10,5 triệu chiếc, Nhật 9,9 triệu, Đức 5,6 triệu và Hàn Quốc 4,6 triệu chiếc. Trung Quốc cũng sản xuất đến 75% tổng sản lượng điện thoại di động toàn cầu, 87% tổng lượng máy tính và 52% tổng lượng truyền hình. THEO MỘT THẾ GIỚI
Read more: http://www.ttxva.net/bao-uc-trung-quoc-la-hiem-hoa-so-1/#ixzz2zFRh3Dwy
www.youtube.com/watch?v=v14W2W3QeS0 Jan 19, 2014 - Uploaded by Nguyen304 (San Francisco 17-1-2014) CĐ Người Việt Quốc Gia Bắc California biểu tình trước Tòa Lãnh Sự Tàu Cộng và VC để tưởng niệm ...BIỂU TÌNH CHỐNG TÀU CỘNG XÂM LƯỢC. by Lý Thường Kiệt; 9 videos; 180 views; 2 hours, 42 minutes .♥.♥.♥... HS-TS-VN ...♥.♥.♥. (Paracel + Spratly) ...
Điều tra đường dây đưa nông dân sang Trung Quốc hiến thận
Từ sự giới thiệu của một phụ nữ, nông dân nghèo Cần Thơ sang Trung Quốc làm phẫu thuật hiến thận để lấy tiền đổi đời rồi về quê rủ bạn bè, người thân làm theo. >> Kỷ luật hiệu trưởng nâng giá thực phẩm hưởng chênh lệch tiền ăn của học sinh >> Sét đánh chồng chết vợ đi cấp cứu >> "Soi" các biển số siêu xe của đại gia Việt Chiều 17/4, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội báo cáo Công an TP Cần Thơ về việc nhiều người hiến thận ở huyện Cờ Đỏ. Trong đó có ít nhất 2 nông dân làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc phẫu thuật cắt ghép thận, còn lại thực hiện tại các bệnh viện trong nước. Sau nhiều lần làm việc với công an, Danh Lang đã thừa nhận xuất cảnh sang Trung Quốc làm phẫu thuật hiến thận lấy tiền. Ảnh: Ái Nam Cụ thể, năm 2002, Ngô Phú Anh (39 tuổi) ở xã Thạnh Phú được bạn bè giới thiệu với người đàn bà thường gọi là Cô Sáu ngụ TP HCM. Bà này hướng dẫn Phú Anh làm thủ tục sang Quảng Đông (Trung Quốc) hiến thận cho một Việt kiều Mỹ tên Vinh với giá 50 triệu đồng. Tháng 3/2008, tại một bệnh viện ở TP HCM, em người này là Ngô Phú Em (31 tuổi) cũng hiến thận cho thanh niên tên Đúng lấy 55 triệu đồng. Đến năm 2010, từ số điện thoại Phú Anh cung cấp, Ngô Thanh Hoài gọi Cô Sáu. Sau đó nam thanh niên 27 tuổi này được mua vé máy bay ra Hà Nội làm phẫu thuật hiến thận cho một người đàn ông. Về đến TP HCM, Hoài được Cô Sáu đưa 110 triệu đồng. Đối với Danh Lang (32 tuổi) ở ấp 7, xã Thạnh Phú, cơ quan điều tra cho rằng, lúc đầu nghĩ ra nước ngoài hiến thận là vi phạm pháp luật nên không khai thật với chính quyền địa phương. Qua làm việc với công an, anh này cho biết, tháng 9/2012 được Phú Anh giới thiệu một người tên Út ở TP HCM để làm thủ tục hiến thận cho ông Phú chủ quán cà phê. Việc phẫu thuật sau đó được tiến hành tại một bệnh viện ở Trung Quốc và ông Út trả Lang 100 triệu đồng. Mới nhất là ông Hồ Văn Tranh (45 tuổi) ngụ ấp 6, xã Thạnh Phú đồng ý hiến thận cho người quen tên Nguyễn Quốc Lợi ở huyện Nhà Bè (TP HCM) vào hồi đầu năm để lấy 120 triệu đồng. Riêng trường hợp Lê Văn Giòn (36 tuổi) sau khi đến xã Thạnh Phú xin xác nhận hồ sơ hiến thận thì đến nay không liên lạc được do đi làm thuê ở nhiều nơi. Ba tháng trước ông Tranh làm thủ tục hiến thận cho người quen và làm phẫu thuật trong nước. Sau đó được người nhận thận trả 120 triệu đồng. Ảnh: Ái Nam Theo cơ quan điều tra, tất cả những trường hợp hiến thận xác minh được đều do hoàn cảnh khó khăn, nhà nghèo, mắc nợ, cần tiền chữa trị cho người thân bệnh nặng. Từ đó, nhà chức trách nhận định có thể người tên Út và Cô Sáu nằm trong đường dây môi giới hiến thận nên Công an TP Cần Thơ tiếp tục làm rõ. Theo quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và Hiến, lấy xác thì "những công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình. Bộ luật Hình sự không quy định tội danh liên quan việc này. Với những trường hợp hiến thận xác định được, họ lập hồ sơ, thủ tục tự nguyện hiến tặng thận nên không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc mất đi một quả thận để lại tình trạng sức khoẻ yếu kém, không còn khả năng lao động. Ái Nam |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|