CSVN nhất quyết nô lệ TQ và theo chủ nghĩa CS hơn là tự do dân chủ, thà mất nước hơn là mất quyền lợi
LTS: Trong những lúc đất nước gặp khó khăn nguy hiểm, luôn cần những tiếng nói từ nhiều trái tim và khối óc cùng chia sẻ mối quan tâm, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tiếp loạt bài hiến kế của các nhân sĩ trí thức Việt, Tuần Việt Nam xin giới thiệu ý kiến của ông Lê Quang Bình, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE)
Đâu là "cái phanh" xung đột?
Tìm ra một giải pháp tránh xung đột ở Biển Đông là không dễ dàng. Trung Quốc muốn thâu tóm Biển Đông để vươn ra thế giới, trở lại thời hoàng kim là "trung tâm của thiên hạ". Mỹ không muốn điều này xảy ra nhưng không thể tự mình "bảo vệ" Biển Đông nếu các nước có tranh chấp như Việt Nam không phải là đồng minh. Như vậy, nếu Việt Nam nghiêng về Trung Quốc thì việc mất Biển Đông và lệ thuộc vào họ là điều nhãn tiền. Còn Việt Nam nghiêng về phía Mỹ thì tự biến mình thành tuyến đầu chống Trung Quốc, đẩy dân tộc vào nguy cơ xung đột nhiều rủi ro.
Theo lý thuyết thì nếu thương mại giữa hai nước tăng thì chiến tranh sẽ khó xảy ra vì các ràng buộc về kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thương mại Việt-Trung thì nó không phải là "cái phanh" để ngăn cản xung đột. Tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 2011 là 35,7 tỉ USD, tuy nhiên Việt Nam bị nhập siêu gần 13 tỉ USD từ Trung Quốc. Thương mại với Trung Quốc chiếm khoảng 18% tổng thương mại của Việt Nam, nhưng chưa đến 1% trong tổng số 3,87 nghìn tỉ đô thương mại của Trung Quốc. Rõ ràng, Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn, và việc cắt đứt thương mại giữa hai nước sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam nhiều hơn đến Trung Quốc.
 |
| Giàn khoan CNOOC 981 của Trung Quốc đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam. Ảnh: THX |
Dường như Việt Nam đang yếu thế trong việc đàm phán với Trung Quốc vì bị lệ thuộc trên mọi mặt trận từ kinh tế, chính trị đến an ninh. Rất không may, Việt Nam không có gì đủ hấp dẫn để đàm phán với Trung Quốc vì Biển Đông quá quan trọng với họ. Việt Nam cũng không thể bỏ Biển Đông vì Biển Đông cũng quá quan trọng với Việt Nam. Nếu mất Biển Đông coi như Việt Nam mất cửa đi ra thế giới, mất cơ hội phát triển, và mất lợi ích kinh tế từ Biển. Trong trường hợp này, liệu Việt Nam có phải "lên thuyền" với các quốc gia khác để cân bằng lại với Trung Quốc?
ASEAN có thể giúp Việt Nam giữ Biển Đông? Câu trả lời dường như là không vì hiện tại ASEAN chỉ có thể là một cơ chế giúp Việt Nam và các nước lớn truyền tin và đàm phán, còn bản thân nó không thể là "con thuyền" đủ lớn và vững chắc chịu được sức ép từ Trung Quốc. Như vậy, "con thuyền" còn lại dường như là Mỹ để Việt Nam có thể dựa vào?
Mỹ và Việt Nam có chung lợi ích đó là tự do hàng hải và ổn định ở Biển Đông. Trong những ngày qua, người phát ngôn Nhà trắng và các thượng nghị sĩ uy tín nhất của Mỹ như John McCain và Patrick Leahy liên tục đưa ra các tuyên bố lên án hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển đông. Tuy nhiên, vẫn có những rào cản để Mỹ và Việt Nam trở thành đồng minh.
Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam có những e ngại về cam kết của Mỹ trong việc bảo vệ lợi ích của Việt Nam. Điều này có cơ sở vì lợi ích của Mỹ trong mối quan hệ với Trung Quốc rất lớn, và rõ ràng động lực lớn nhất để Mỹ hành động là lợi ích quốc gia của họ. Thứ hai, việc trở thành đồng minh của Mỹ cũng đồng nghĩa với việc nằm cạnh miệng hố chiến tranh với Trung Quốc. Việt Nam muốn tránh điều này bằng mọi giá vì chiến tranh đã tàn phá đất nước này quá nhiều.
Về phía mình, Mỹ dù có muốn cũng khó làm đồng minh chiến lược của Việt Nam vì những khác biệt về chính trị và bất đồng quan điểm về nhân quyền. Chính vì vậy, dù Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong bàn cờ chiến lược của mình ở châu Á, Mỹ khó lòng tiến xa hơn và gửi quân ứng cứu Việt Nam trong trường hợp có xung đột với Trung Quốc.
Thêm vào đó, Việt Nam đóng vai trò không đáng kể trong phát triển kinh tế của Mỹ. Thương mại với Việt Nam chỉ chiếm dưới 0,65% tổng thương mại của Mỹ, so 13% thương mại của Mỹ với Trung Quốc. Rõ ràng, lợi ích kinh tế của Mỹ với Trung Quốc lớn hơn với Việt Nam nhiều, đặc biệt khi Mỹ lại đang nhập siêu hàng năm từ Việt Nam gần 15 tỉ USD vào năm 2011 và ngày càng tăng.
Con đường nào cho Việt Nam?
Có một lợi ích mà cả Trung Quốc, Mỹ và Việt Nam đều chia sẻ - đó là hòa bình và ổn định ở Biển Đông và châu Á. Cho dù cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn Việt Nam đứng về phía mình, nhưng họ cũng tạm hài lòng với hiện trạng.
Trung Quốc muốn Việt Nam ổn định nhưng không đủ mạnh để thách thức được họ. Việt Nam không được là "sân sau" của ai và nếu phụ thuộc vào Trung Quốc thì càng tốt. Mỹ muốn Việt Nam là liên minh để duy trì vai trò lãnh đạo ở Châu Á, nhưng không muốn gánh vác trách nhiệm bảo vệ Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh khác biệt về chế độ chính trị và giá trị quốc gia.
Tuy nhiên, duy trì hiện trạng mắc kẹt này không phải là điều tốt cho Việt Nam. Với chiến lược "từng bước một" Trung Quốc sẽ dần dần áp đặt sự kiểm soát của mình lên Biển Đông mà không cần đến chiến sự. Chiến lược này sẽ làm cho Việt Nam phân tâm, mệt mỏi và bất lực trước sự "gặm nhấm" của Trung Quốc. Hoa Kỳ, đôi khi sẽ lên tiếng "quan ngại sâu sắc" sau mỗi lần Trung Quốc gây hấn, nhưng không thể thách thức Trung Quốc trực tiếp vì Việt Nam không là đồng minh và những bước lấn "không đủ lớn để động binh". Điều này không ảnh hưởng đến cân bằng chiến lược toàn cầu ngay, nhưng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Việt Nam.
Rõ ràng Việt Nam cần tự thoát khỏi thế kìm kẹp này bằng cách tự đổi mới mình. Là nước nhỏ trong tranh chấp, Việt Nam nhận được sự cảm thông toàn cầu trước o ép từ phía Trung Quốc. Tuy nhiên, thế giới vẫn nhìn Việt Nam như là một đồng minh chia sẻ tư tưởng và ý thức hệ với Trung Quốc. Vì vậy, sự cảm thông với Việt Nam chưa vững chắc vì không dựa trên nền tảng giá trị chung. Việc Việt Nam cải tổ theo hướng thúc đẩy nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường tự do, và một xã hội dân sự phát triển chắc chắn sẽ kết nối Việt Nam với các nước Châu Âu, Úc, Hàn, Nhật và Mỹ. Khi đó, sự ủng hộ Việt Nam sẽ mạnh hơn nhiều, vì bên cạnh tính hợp pháp của chủ quyền Việt Nam có ở Biển Đông, lợi ích kinh tế, đầu tư, và tâm lý nghi ngờ và e ngại Trung Quốc, nền tảng giá trị sẽ là điểm tựa cho việc bênh vực Việt Nam.
Sự tự cải tổ này sẽ gây khó chịu cho Trung Quốc nhưng sẽ không là nguyên nhân để Trung Quốc gây chiến với Việt Nam. Ngược lại Trung Quốc sẽ mong Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế "trung lập" vì Việt Nam đã là một phần của các giá trị toàn cầu. Khi đó, Việt Nam sẽ "thông lưu" với các nước về kinh tế, chính trị và xã hội nhưng vẫn có thể tiếp tục hữu hảo với Trung Quốc.
Trong vị thế của một nước độc lập và bình đẳng thực sự, việc duy trì hòa bình và chủ quyền ở Biển Đông có nhiều cơ hội thành công hơn.
Khủng hoảng Biển Đông, đòi hỏi sự đột phá của lãnh đạo CS Việt Nam
Jonathan London
Bút Lông Kim dịch từ South China Sea Crisis Demands Vietnam’s Leadership Breakthrough.

Những cuộc bạo loạn chết người tại Việt Nam tuần trước, trong khi có hại cho hình ảnh và sự ổn định của đất nước thì lại có tầm quan trọng thứ yếu cho sự thách thức chính yếu của Hà Nội về sự bế tắc chính trị dai dẳng của họ. Như Adam Fforde, một chuyên gia về Việt Nam lâu năm, đã quan sát thì Việt Nam đến bây giờ chẳng phô bày "một chỉ thị hoặc tài lãnh đạo nào mà đủ năng lực cho những nỗ lực sẽ được cần."
Quả thực, Việt Nam hầu như không có cơ hội để đến ra khỏi cuộc khủng hoảng biển Đông mà còn nguyên dáng hình nếu như thất bại để giải quyết sự bế tắc chính trị đang khiến bất khả năng của mình.
Nếu không ngại đơn giản hóa vấn đề thì sự bế tắc này chia đặc trưng thành hai nhóm được tập trung vào bốn cá thể. Nhóm thứ nhất hợp nhất chung quanh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người mà mặc dù bị hư nhiễm bởi tham nhũng nhưng có sự hỗ trợ của tầng lớp ưu tú quốc doanh trên cả nước và địa phương cũng như của lực lượng công an, và còn thêm nữa. Mặc dù có khuynh hướng là một chính khách dày dạn nhất của đất nước, nhưng với những người gièm pha mà có đầu óc cải cách thì ông được nhìn nhận như một người kém xa một nhà cải cách thứ thiệt và không đủ năng lực tiến hành những cải cách thể chế mà Việt Nam cần.
Nhóm thứ hai thu hút hướng về một bộ ba gồm Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Đây là những người bảo thủ của Việt Nam, hay những người bảo vệ nguyên trạng. Với quốc nội, thì lòng trung thành của họ phần lớn là dành cho nhau, cho Đảng, và cho quân đội. Với quốc tế, thì lòng trung thành của họ là dành cho việc đầu tư dai dẳng trong ý tưởng rằng Bắc Kinh là một "đồng chí tốt".
Sự bế tắc không làm tê liệt nhà nước nhưng nghiêm trọng tác động vào năng lực của nhà nước ấy. Thay vì giao tiếp với thế giới bằng sự tín nhiệm thì chúng ta được chào đón bằng sự im lặng kéo dài. Kết luận mới đây của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra duy chỉ những ám chỉ thoáng qua đối với cuộc khủng hoảng hiện thời. Những bàn luận nào của Bộ Chính trị Việt Nam thì vẫn là mờ mịt.
Điều gì đã xảy ra? Các bộ phận của nhà nước đã phản ứng tới sự thách thức bằng một cung cách cao hứng. Những người này đáng chú ý nhất bao gồm các lực lượng bảo vệ ven biển kém súng ống và kém đối hợp và các phương tiện truyền thông nhà nước Việt Nam, mà đã được bật đèn xanh để công kích Trung Quốc, và đã không ngăn cấm. Nhà nước đáng chú ý là kém khả năng trong các lĩnh vực khác kia. Thiếu vắng những đồng minh thân cận nên Hà Nội đã tìm cách để truyền đạt cho thế giới về sự không hài lòng của mình thông qua hình thức công cộng của lòng yêu nước. Những nỗ lực này của nhà nước phần lớn còn yếu, mặc dù không hoàn toàn, do bởi những hạn chế độc đoán.
Một trong nhiều sự khác biệt quan trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự tranh luận chính trị của Việt Nam thì cởi mở hơn (mặc dù vẫn còn bị trấn áp). Từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng, không gian mạng của người Việt đã bén lửa. Và những Người Việt của những sự tín phục đa dạng đã đòi hỏi quyền lợi của mình để phản đối một cách hòa bình. Trong khi những cuộc biểu tình đầu tiên được cho phép tiến hành, thì họ vẫn còn một phần bị trấn áp. Thay cho những hiện cảnh đường phố náo nhiệt, thì nhà nước tổ chức "những cuộc hội họp phản đối" có kịch bản chặt chẽ tại những thính phòng khác nhau, gióng lên những giai điệu yêu nước. Những tấm hình được chụp cho thấy một số người ngủ gật.
Sự cố gắng của nhà nước tại những cuộc biểu tình chống Trung Quốc trong những người lao động công nghiệp đã một cách mau trở nên cuồng loạn. Và tuy nhiên mọi cách nào đó thì nó chẳng gây ngạc nhiên. Cho tới khi sau các cuộc bạo loạn, những người dân Việt Nam đã không hề nghe một tuyên bố đơn lẻ nào được ban bố bởi bất cứ vị lãnh đạo nào. Trật tự xã hội đòi hỏi sự điều phối và sự hợp tác, không đơn giản là sự mở ra những cổng xả lũ cho những đám công chúng thiếu kinh nghiệm về chính trị và quả thực cả về xã hội. Không cần thiết ở đây để đi sâu vào những kết quả xấu xa, điều mà đã thu được sự chú ý quốc tế rộng rãi.
Để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện thời thì những bước đi táo bạo phải được thực hiện. Đặc biệt, những sự phát triển sau đây cần phải xảy ra:
1. Càng chóng càng tốt Hà Nội phải ban hành một lời tuyên bố chính thức. Điều này nên được truyền hình trực tiếp và được trình bày bởi một nhân vật hàng đầu. Chính phủ nên xem xét hai lời tuyên bố, một bằng tiếng Việt trực tiếp tới người dân bởi một vị lãnh đạo, ví dụ như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và một bằng tiếng Anh, được phân công bởi một quan chức cao cấp phù hợp, người mà thông thạo tiếng Anh. Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc, người mà có một sự hiểu biết tinh vi về ngoại giao phương Tây, thì có thể là một ứng viên phù hợp. Những lời tuyên bố này nên điều hướng những phạm trù quốc nội và quốc tế của tình huống, giải thích bằng những thuật ngữ có thể được về vị trí và ý định của Việt Nam để giải quyết cuộc khủng hoảng thông qua các phương tiện ngoại giao và pháp lý, thay cho việc sử dụng vũ lực. Nếu Bắc Kinh trao một tối hậu thư trong những ngày sắp đến thì Hà Nội phải đưa ra một sự đáp ứng công khai và rõ ràng.
2. Cam kết những nỗ lực kịp thời để khôi phục sự tín nhiệm về kinh tế. Bổ nhiệm một ủy ban của những người, gồm các cố vấn quốc tế đáng tin cậy, để giải quyết những nan đề của những nhà máy bị thiệt hại, những người bị thương, và những thách thức đang đối mặt những nhà quản lý và những công nhân của những công ty nước ngoài bị ảnh hưởng. Việc khôi phục sự tín nhiệm một cách mau chóng là rất quan trọng. Công việc phải được thực hiện trong một cách thức mà vượt quá sự mong đợi.
3. Các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam và các vị lãnh đạo của xã hội dân sự phát triển đất nước, mà có những yếu tố cả trong và ngoài chính phủ, thì cần nhập cuộc thảo luận về các điều khoản của sự tham gia đại chúng trong những phản ứng chính trị của quốc gia đối với cuộc khủng hoảng. Những vị này nên bao gồm các quan chức hàng đầu của chính phủ, những đại diện của nhóm Kiến nghị 72 (một nhóm rời rạc của những trí thức cải cách nổi bật với sự liên kết lâu dài với Đảng), và các thành viên cấp cao của các tổ chức xã hội dân sự hàng đầu. Đây là chiến lược triển vọng nhất và quả thực có thể tượng hình duy nhất cho Hà Nội để cả giành quyền kiểm soát trên các tường trình quốc nội và giành được loại đoàn kết đa nguyên cần thiết để tham gia vào đấu trường quốc tế một cách hiệu quả. Sự phóng thích các tù nhân lương tâm và sự làm nên những hành động có thiện ý thực sự đối với những người Việt hải ngoại sẽ gửi thông điệp rằng Việt Nam đang thay đổi và rằng Việt Nam là một quốc gia đáng được sự ủng hộ quốc tế.
4. Việt Nam phải dẫn lái ra khỏi kiểu chính trị huề cả làng và kiểu hùng biện huề cả làng. Đất nước và khu vực không thể tạo khả năng một cuộc xung đột quân sự, và việc sử dụng quân đội phải được tránh bằng mọi giá.
Về lâu dài, Việt Nam nên theo đuổi các hành động thuộc chiến lược và hòa bình, thông qua các kênh cả ngoại giao và quốc phòng, nhằm phô tỏ cho Bắc Kinh thấy rằng sự vi phạm luật pháp quốc tế và sự bất tôn trọng các nước láng giềng của họ thì sẽ chỉ làm việc chống lại những lợi ích lâu dài của họ. Hà Nội cần đẩy mạnh sự cam kết nghiêm túc với cộng đồng quốc tế, đặc biệt với Hoa Kỳ. Cuộc thảo luận đáng nên không liên quan đến sự kìm nắm Trung Quốc nhưng liên quan đến sự đạt được và duy trì được một trật tự khu vực thịnh vượng.
................................
Tác giả: Tiến sĩ Jonathan D. London là giáo sư tại Phân khoa Nghiên cứu châu Á và quốc tế (the Department of Asian and International Studies) tại Đại học Thành phố Hồng Kông (the City University of Hong Kong) và thành viên cốt cán của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (the Southeast Asia Research Centre).