Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười 2021
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 19490100

 
Góc thư giãn 19.10.2021 08:06
Cuộc chiến VN: Âm mưu diệt chủng do TQ chủ trương đảng CSVN thực hiện
26.12.2020 09:53

Vai trò đen tối của Trung Quốc tại Hội nghị Geneva 1954
Ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết. Tuy nhiên, thắng lợi đã không trọn vẹn do bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ…

Cách đây 76 năm, ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết. Đây là kết quả 9 năm kháng chiến anh dũng, gian khổ với bao mất mát hi sinh của nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân ba nước Đông Dương nói chung. Tuy nhiên, thắng lợi đã không trọn vẹn do bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ, đặc biệtdo những âm mưu, ý đồ xấu xa của”người bạn lớn” Trung Quốc.
Năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia đi vào giai đoạn quyết định, vấn đề giải pháp cho cuộc chiến tranh đã được đặt ra. Ngay từ lúc đó, tháng 8/1953, Chu Ân Lai đã tuyên bố: “Đình chiến ở Triều Tiên (có nghĩa là duy trì chia cắt Triều Tiên làm hai miền) có thể dùng làm mẫu mực cho những cuộc xung đột khác”.
Tháng 4/1954, khi phía Pháp đã không còn muốn một hành động quân sự nào nữa và cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương đứng trước triển vọng giành được thắng lợi trọn vẹn, trong cuộc họp giữa các đoàn Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc chuẩn bị cho Hội nghị Geneva, Chu Ân Lai răn đe: “Trung Quốc không thể công khai giúp Việt Nam được trong trường hợp cuộc xung đột ở đây mở rộng”.

vai trò đen tối của trung quốc tại hội nghị geneva 1954
Quang cảnh Hội nghị Geneva

Đoàn Việt Nam do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng đến Geneva với lập trường rất rõ ràng: Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân về nước; các nước phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đại biểu Chính phủ kháng chiến Lào, Campuchia tham gia như các bên đàm phán; Lào có hai vùng tập kết của lực lượng kháng chiến ở phía Bắc giáp Trung Quốc – Việt Nam và ở Trung Hạ Lào; lực lượng kháng chiến Campuchia cũng có hai vùng tập kết ở Đông – Đông Bắc và phía Tây Nam sông Mekong.

Tuy nhiên, lấy thế là nước viện trợ chủ yếu cho Việt Nam, vin cớ “làm thất bại sự phá hoại của Mỹ”, và lợi dụng việc Pháp không muốn đàm phán trên thế yếu với Việt Nam, Trung Quốc đã tự đứng ra thương lượng trực tiếp với Pháp về các giải pháp cho chiến tranh và chủ động đưa ra những điều kiện nhân nhượng với Pháp mà không tham khảo ý kiến của Việt Nam.

Trung Quốc chủ trương giải quyết vấn đề quân sự trước mà không nói gì đến giải pháp chính trị; chủ trương chia cắt lâu dài Việt Nam làm hai miền với giới tuyến có lợi cho Pháp (thậm chí đưa ra phương án bỏ cả Thủ đô Hà Nội, đường số 5 và Hải Phòng); không đồng ý để đại biểu Chính phủ kháng chiến Lào và Campuchia đến Hội nghị Geneva cùng với đại biểu Việt Nam đàm phán với Pháp; công nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia (tay sai Pháp), đòi quân đội nước ngoài rút khỏi Lào và Campuchia mà không nói gì đến bảo vệ thành quả cách mạng của hai nước này… Đổi lại những nhân nhượng ấy, Trung Quốc chỉ yêu cầu Pháp không để có căn cứ quân sự Mỹ ở Đông Dương.

Ngày 30/5/1954, trong bức điện gửi Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và sao gửi Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chu Ân Lai đã đưa ra phương án lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến hai miền, “nếu không được thì sẽ lấy Hải Phòng làm hải cảng tự do cho Pháp đóng một số quân ở gần đấy, nếu không được nữa thì thì đem đường số 5, Hà Nội và Hải Phòng làm khu công quản và phi quân sự…”.

Ngày 17/6/1954, trong cuộc tiếp xúc với Thủ tướng Pháp Bidault, Chu Ân Lai đưa ra ý kiến: “Trung Quốc có thể chấp nhận Việt Nam có hai chính quyền (Việt Nam DCCH và Chính phủ Bảo Đại); công nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Chính phủ Vương quốc Campuchia, từ bỏ yêu cầu có đại biểu Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham gia Hội nghị, quân đội nước ngoài kể cả quân tình nguyện Việt Nam phải rút khỏi Lào và Campuchia”.

Ngày 23/6, Chu Ân Lai lại nói với Trưởng đoàn Pháp Mandes France: “Chia Việt Nam thành hai miền cùng tồn tại hòa bình, giải quyết vấn đề quân sự trước (không nói gì đến vấn đề chính trị), tách rời giải quyết vấn đề Lào, Campuchia với vấn đề Việt Nam. Trung Quốc sẵn sàng công nhận ba nước này trong Khối Liên hiệp Pháp… Đổi lại, Trung Quốc chỉ yêu cầu không có căn cứ quân sự Mỹ ở Đông Dương”.

Đầu tháng 7/1954, trong cuộc gặp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chí ít phải giành cho được vĩ tuyến 16 như đã có tiền lệ khi Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật năm 1945, Chu Ân Lai trả lời: “… Vì ở xa không có điều kiện trao đổi, nếu việc đấu tranh xác định ranh giới tạm thời gặp khó khăn, vạn bất đắc dĩ phải chọn vĩ tuyến 17, mong Hồ Chủ tịch chú ý vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tranh thủ cho được hòa bình và những điều kiện để hòa bình thống nhất Việt Nam”.

Ngày 10/7/1954, Chu Ân Lai điện gửi Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gây sức ép: “… Có những điều kiện công bằng và hợp lí để Chính phủ Pháp có thể nhận được để đi đến Hiệp định trong vòng 10 ngày. Điều kiện đưa ra nên giản đơn, rõ ràng để dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp, lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, kéo dài đàm phán để cho Mỹ phá hoại”.

3 giờ 45 phút ngày 21/7/1954, ba hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia được kí kết; ngày hôm sau công bố Tuyên bố chung của Hội nghị gồm 13 điểm. Bên cạnh những kết quả và thắng lợi quan trọng, do sự thỏa hiệp của các nước lớn với vai trò chủ yếu của Trung Quốc, Hiệp định Geneva chưa phải là một thắng lợi trọn vẹn cho cả Việt Nam, Lào và Campuchia.

Chỉ bằng một nét bút, Việt Nam đã bị chia cắt giả tạo thành hai miền; giới tuyến phân vùng chưa thật thỏa đáng; thời gian tổng tuyển cử lùi đến 2 năm nhưng rồi cũng bị phá bỏ. Chỉ giành được khu tập kết cho Pa-thét Lào ở hai tỉnh, không đạt được việc điều chỉnh vùng đóng quân cho Khơ-me It- xa-rắc. Chính điều này đã gây những “lăn tăn”, hiểu nhầm cho phía bạn Campuchia trong một thời gian dài.

Ngày 22/7/1954, 24 giờ sau khi Hiệp định được ký kết, Chu Ân Lai tổ chức bữa cơm tối, mời đại biểu Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia và đại biểu hai miền Bắc, Nam Việt Nam. Tại bữa cơm, Chu Ân Lai nói với đại biểu Việt Nam cộng hòa Ngô Đình Luyện: “Tại sao không đặt một cơ quan đại diện (nguyên văn là “công sứ quán”) tại Bắc Kinh”? Khi thấy đồng chí Phạm Văn Đồng giật mình vì đề xuất bất ngờ này, Chu Ân Lai nói tiếp: “Tất nhiên Phạm Văn Đồng gần gũi hơn chúng tôi về mặt tư tưởng nhưng điều đó không loại trừ việc có đại diện Nam Việt Nam tại Bắc Kinh”.

Bình luận về ý đồ của Trung Quốc tại Hội nghị Geneva, Paul Mus, nguyên Cố vấn Cao ủy Đông Dương của Pháp đồng thời là một học giả nổi tiếng về Việt Nam nói: “Trung Quốc nhân nhượng với Pháp là không để cho Việt Nam làm chủ hoàn toàn Đông Dương”. Trong cuốn Kẻ thù anh em, nhà sử học Nayan Chanda viết: “Trung Quốc ủng hộ sự tồn tại của hai Việt Nam và nói chung mong muốn có một đa quốc gia tại biên giới của nó. Trung Quốc muốn bằng mọi cách duy trì một Đông Dương bị chia cắt và không có các cường quốc lớn ở đây”.

Thiết nghĩ, không cần phải bình luận gì thêm!

Nguyễn Đăng Song

Trung Quốc Và Liên Xô Nhìn Nhận Vấn Đề Chiến Tranh Việt Nam Như Thế Nào ?

Sự Cạnh Tranh Liên Xô - Trung Quốc Trong Cuộc Chiến VN

Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn đề chiến tranh Việt Nam như thế nào?

Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, mối quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản này thực tế đầy sóng gió do các mâu thuẫn về tư tưởng và chính sách.

Ở bối cảnh đó, Việt Nam trở thành vấn đề gây ảnh hưởng giữa hai cường quốc này.

Trong một tiểu luận gần đây, Eva-Maria Stolberg, giáo sư ở ĐH Bonn, đã phân tích về mối quan hệ này.

Bài viết in trong tập sách “America, the Vietnam War and the World” do NXB ĐH Cambridge ấn hành tháng Chín 2003.

Theo Eva-Maria Stolberg, đối với Liên Xô và Trung Quốc, việc ủng hộ phong trào giải phóng của Việt Nam phục vụ ba mục đích: nó cho phép hai siêu cường biện minh hoặc chỉ trích các hệ tư tưởng của nhau; đó là một phần trong chiến lược của Liên Xô và TQ đối với Mỹ; và Việt Nam cũng là phương tiện để phục vụ những mục đích, quyền lợi bên trong cơ cấu nội bộ mỗi đảng.

Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, chúng tôi xin trích lược giới thiệu nội dung chính của bài viết. Xin lưu ý đây là những phân tích và quan điểm riêng của tác giả.

Ngay từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, liên minh Trung Quốc – Liên Xô đã có những chia rẽ mà đã tác động đến hệ tư tưởng, chính sách và chiến lược của cả hai nước trong thời chiến tranh Lạnh. Các quyền lợi quốc gia và quan niệm về an ninh bị định hình bởi quan niệm của lãnh tụ hai nước về cách thức mỗi nước có thể tồn tại trong môi trường toàn cầu khi ấy. Trong hoàn cảnh này, cuộc chiến Việt Nam là chỉ dấu đo đạc mang tính quyết định.

Trong mùa đông 1949-50, khi Stalin và Mao Trạch Đông thương lượng Hiệp ước Trung – Xô, hai người đồng ý việc chia sẻ nhiệm vụ. Đông Dương và Đông Nam Á nằm ngoài quyền lợi của Liên Xô và vì thế trở thành ‘sân chơi’ của Trung Quốc. Khi ông Hồ Chí Minh, trong chuyến thăm Bắc Kinh và Moscow tháng Giêng – Hai 1950, yêu cầu sự hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp, Stalin nói ông Hồ hãy nói chuyện với Trung Quốc. Các bằng chứng mới từ văn khố Trung Quốc cho thấy Stalin khi đó bác bỏ sự dính líu tới Triều Tiên và Đông Dương.


Khác Biệt Tư Tưởng

Người Trung Quốc khi đó có thái độ ngược lại: Họ sẵn sàng cung cấp vũ khí cho Việt Nam đánh Pháp, và sau đó Trung Quốc gửi cố vấn quân sự do tướng La Quý Ba dẫn đầu, người sau này trở thành đại sứ ở Hà Nội.

Một sự thay đổi trong thái độ của Trung Quốc và Liên Xô đối với vấn đề Đông Dương đã diễn ra sau cái chết của Stalin và sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc.

Bộ máy lãnh đạo mới ở Moscow giờ đây muốn có giải pháp hòa bình cho xung đột ở Đông Nam Á. Trung Quốc khi đó cũng muốn có sự thỏa hiệp với phương Tây để ngăn sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Tại hội nghị Geneva năm 1954, mục đích chính của Trung Quốc là đạt được uy tín quốc tế và quyền lực sau khi nước này bị cô lập vì cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên. Do sự thiếu kinh nghiệm ngoại giao quốc tế, Trung Quốc đã đứng đằng sau Liên Xô.


Chính sách của khối Cộng sản ở Geneva được đánh dấu bằng sự nhất trí. Việt Minh, sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ, muốn đuổi Pháp ra khỏi Đông Dương và thống nhất Việt Nam. Nhưng do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc, họ phải chấp nhận việc chia đôi đất nước. Tuy vậy, người Cộng sản Việt Nam ngay sau đó yêu cầu Trung Quốc giúp củng cố chính quyền ở miền Bắc, với mục đích sẽ thống nhất đất nước bằng phương tiện quân sự. Tháng Sáu 1955, Bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp có cuộc họp ở Bắc Kinh với người tương nhiệm, Bành Đức Hoài và một đại diện của nhóm cố vấn quân sự Liên Xô tại Trung Quốc. Cuộc họp, kéo dài đến tháng Mười, liên quan việc hoạch định quân sự.


Lúc này, người lãnh đạo mới của Liên Xô, Nikita Khrushchev, đề ra nguyên tắc ‘cùng chung sống hòa bình’ trong chính trị quốc tế. Trong hoàn cảnh Việt Nam, nguyên tắc này có nghĩa là phía Liên Xô muốn có sự chung sống giữa hai nhà nước Việt Nam và thống nhất thông qua trưng cầu dân ý. Ngược lại, Trung Quốc đề ra nguyên tắc ‘chiến tranh nhân dân’, nói rằng sự dính líu ngày càng tăng của Mỹ tại miền Nam Việt Nam là sự phản bội thỏa thuận Geneva.

Việc Liên Xô rút cố vấn ra khỏi Trung Quốc năm 1960 đánh dấu sự tan vỡ quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản.


Lúc này, người cộng sản Bắc Việt tin rằng đã chín muồi cho đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Nhưng một quyết định chung cuộc đã bị đình hoãn do sự bất đồng chiến lược trong đảng – một bất đồng phản ánh cuộc tranh cãi lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Trong khi tướng Giáp tin rằng cách mạng ở miền Nam sẽ lâu dài và gian khổ, ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh ủng hộ chiến lược tấn công ồ ạt và đồng ý với quan điểm của Trung Quốc.


Mùa xuân 1961, Tổng thống Kennedy chấp thuận gửi 400 cố vấn quân sự đến miền Nam Việt Nam, và Trung Quốc phản ứng. Trong cuộc họp với thủ tướng Phạm Văn Đồng ở Bắc Kinh tháng Sáu năm ấy, Mao ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang, trong lúc Chu Ân Lai thì muốn một con đường linh động hơn, sử dụng biện pháp ngoại giao, chính trị cùng với chiến thuật bí mật ở miền Nam.


Trong chuyến thăm Hà Nội tháng Sáu 1963, chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ tuyên bố trong diễn văn là cuộc đấu tranh giữa phe xét lại (Khrushchev và Liên Xô) với ‘những người Marxist-Leninist chân chính’ (Trung Quốc) trên thực tế xoay quanh câu hỏi “liệu các dân tộc trên thế giới có thực hiện cách mạng hay không’. Ông Hồ Chí Minh đứng về phía ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh, những người ủng hộ chiến tranh ở miền Nam.


Trong những tháng sau đó, có chiến dịch chống phe ‘xét lại’, mà chủ yếu là tướng Giáp, người bị nghi ngờ là ‘bạn của Khrushchev’.

Nếu Chu Ân Lai và người ủng hộ ông đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với Mao, thì có lẽ Trung Quốc sẽ chỉ đóng vai trò quan sát viên trong chiến tranh Việt Nam. Quan điểm đối đầu với Mỹ của ông Mao liên quan đến viễn kiến của ông về đấu tranh giai cấp và chiến tranh nhân dân. Quần chúng cần thực hiện viễn kiến đó cả bên trong và ngoài Trung Quốc.


Trong hoàn cảnh đó, mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn.

Các đàm phán chi tiết tiếp tục trong các tháng sau đó. Cũng trong năm đó, Bắc Kinh đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tính từ 1956 đến 1963, Trung Quốc đã chuyển lượng vũ khí cho miền Bắc ở số lượng trị giá khoảng 320 triệu nhân dân tệ.


Năm 1964, Mỹ bắt đầu chuyển hướng sự chú ý từ miền Nam hướng ra miền Bắc, và tuyên bố sẽ không chấp nhận việc tăng chuyển quân và vũ khí từ miền Bắc.


Quyết định của Mỹ gia tốc cuộc xung đột trong tháng Hai 1965 với các cuộc không kích miền Bắc cho thấy nếu Hà Nội muốn thống nhất đất nước bằng quân sự, họ sẽ phải phụ thuộc vào Liên Xô và Trung Quốc.


Tại Liên Xô, Khrushchev đã không còn quan tâm đến Đông Dương trong mùa hè và mùa thu 1964; ông muốn Liên Xô tránh khỏi Đông Nam Á vì sợ một ‘khủng hoảng tên lửa Cuba thứ hai’. Cuộc chiến Việt Nam cũng có lợi cho Liên Xô ở chỗ nó thu hút sự chú ý của hai đối thủ là Mỹ và Trung Quốc; như thế Liên Xô có thể tập trung cho khu vực châu Âu và Viễn Đông.


Tuy vậy, chính sách không can thiệp của Liên Xô lại khiến Bắc Việt hướng nhiều hơn về Trung Quốc. Tháng 12-1964, bộ trưởng quốc phòng TQ thăm Hà Nội và ký hiệp ước hợp tác quân sự. Việc này cần được nhìn trong bối cảnh tranh chấp Xô – Trung: sự miễn cưỡng của Liên Xô được diễn giải như là cơ hội cho Trung Quốc đưa Việt Nam vào quỹ đạo của mình.


Cũng thời điểm đó, Khruschev bị hạ bệ và Leonid Brezhnev lên thay. Trung Quốc hy vọng sẽ có cải thiện trong quan hệ và trông chờ Brezhnev từ bỏ chính sách cùng chung sống hòa bình với phương Tây. Nhưng Anastas Mikoyan, thành viên trong Bộ Chính trị, sau đó tuyên bố Brezhnev sẽ tiếp tục chính sách chung sống này.


Trung Quốc ban đầu hứa gửi phi công sang Bắc Việt, nhưng sau đó họ rút lại vì lo ngại ưu thế hơn hẳn của không quân Mỹ. Bộ binh trở thành lựa chọn tốt hơn và sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc.


Gần 320.000 người Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng Sáu 1965 đến tháng Ba 1968. Họ không có nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu mà giúp xây sửa cầu đường, đường ray xe lửa. Ngoài ra, Trung Quốc xây một cảng bí mật ở Hải Nam, để từ đó vũ khí được chuyển cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc ở miền Nam.


Chính sách ngoại giao của Mao Trạch Đông lúc này cũng cần được hiểu thông qua những quan ngại của ông về đối nội. Mao lo ngại về tương lai TQ, đặc biệt trong trường hợp ông qua đời và một bộ máy mới lên.

Ông cảm thấy các nguyên tắc của cách mạng TQ sẽ bị phản bội và hệ thống chính trị trong tay lớp trẻ hơn rồi sẽ đưa TQ mở cửa với phương Tây.


Vì thế, Mao sử dụng cuộc chiến Việt Nam khơi gợi tinh thần chống đế quốc trong nhân dân TQ để chống lại những người ‘xét lại’ trong bộ máy và để bảo đảm vị trí của ông trong lịch sử. Đây là mục đích chính của chiến dịch ‘Ủng hộ Việt Nam và chống Mỹ’ tại Trung Quốc. Có một sự liên hệ trực tiếp giữa cuộc chiến tại Đông Dương và sự cực đoan ngày càng tăng trong chính trị nội địa tại TQ.


Thái Độ Liên Xô Thay Đổi



Đầu năm 1965, tân thủ tướng Liên Xô, Kosygin, thăm Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng như một cách đánh dấu sự khôi phục chính sách châu Á của Liên Xô. Hoạt động ngoại giao con thoi này nhằm hai mục đích: hàn gắn quan hệ Xô – Trung và ngăn chặn hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam.


Trong chuyến thăm Hà Nội, tháp tùng Kosygin có các chuyên viên tên lửa. Và ngày 10-2-1965, Liên Xô và Bắc Việt ký hiệp ước hỗ trợ kinh tế và quân sự.


Điều này đáng chú ý vì chỉ mới vào tháng 12-1964, Bắc Việt đã tuyên bố sẽ không hoan nghênh các chuyên viên dân sự và quân sự Liên Xô. Rõ ràng, Hà Nội đã dùng sự hỗn độn quanh diễn biến thay đổi lãnh đạo tại Liên Xô và việc củng cố quyền hành của Brezhnev để gây sức ép cho người Nga. Bắc Việt cảm thấy họ đang được cả hai thế lực cộng sản tìm cách chinh phục.


Sự hố̃ trợ quân sự to lớn của Liên Xô từ sau 1965 cũng có mục đích chung là giảm bớt mối liên hệ của TQ tại Việt Nam.


Nhưng điều này không có nghĩa là Hà Nội giờ đây đứng về phía Moscow trong cuộc tranh chấp Xô – Trung. Thực tế, họ tìm cách nhận được hỗ trợ tối đa từ cả hai bên.


Về cơ bản, có một sự khác biệt quan trọng trong thái độ của Liên Xô và TQ đối với vấn đề Việt Nam. Người Sô viết nghĩ rằng một nước XHCN như VN có quyền tồn tại và thống nhất đất nước, đặc biệt khi bị thế lực phương Tây đe dọa. Nhưng việc bảo vệ của một cường quốc XHCN, dù là Liên Xô hay TQ, chỉ có trong khuôn khổ cùng chung sống hòa bình.


Ngược lại, Trung Quốc xem cuộc xung đột VN là một phần trong phong trào đấu tranh chống đế quốc tại Đông Nam Á - ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan.


Tiến trình đi tìm một giải pháp hòa bình về câu hỏi VN diễn ra chậm chạp. Sự thay đổi trong tam giác Mỹ - Liên Xô – Trung Quốc diễn ra vào năm 1972 sau khi tổng thống Nixon thăm TQ.


Đến giữa tháng Sáu, chủ tịch Liên Xô Podgorny thăm Hà Nội và thúc giục Bắc Việt đàm phán. Một phần lý do là viện trợ quân sự cho Bắc Việt đã gây tiêu cực cho kinh tế Liên Xô, nhất là khi người Sô viết coi vấn đề VN không liên hệ trực tiếp về an ninh cho Liên Xô.


Trung Quốc lúc này cũng muốn có giải pháp hòa bình. Lý do quan trọng nhất là nhờ chuyến thăm của Nixon, TQ giờ đây có thể dùng Liên Xô đối chọi với Mỹ. Ngoài ra, lúc ấy họ hy vọng giải quyết vấn đề Đài Loan, nhưng buộc phải có sự hợp tác của Mỹ.


Lúc này, sự thay đổi chính sách của Liên Xô và Trung Quốc là cú đánh tâm lý cho Bắc Việt. Họ cảm thấy bị bỏ rơi và phản bội.


Moscow và Bắc Kinh có đủ lý do để hòa hoãn với Mỹ và ủng hộ một giải pháp ngừng bắn và chính trị tại Việt Nam. Các hội nghị thượng đỉnh Xô – Mỹ và Trung – Mỹ trong năm 1972 cho thấy rằng cả Liên Xô và Trung Quốc đều không muốn hy sinh quyền lợi quốc gia của họ, tức là cải thiện quan hệ với Mỹ.


Ngày 27-1-1973 khi hiệp định Paris được ký kết, nó phản ánh một trật tự thế giới mới mà sẽ không thể có nếu thiếu sự hòa hoãn Mỹ-Xô-Trung năm 1972.


Cuộc chiến Việt Nam cho thấy quan hệ tam giác Moscow – Hà Nội – Bắc Kinh rất khác với ngôn từ tuyên truyền chính thức về ‘tình hữu nghị quốc tế’.


Mỗi bên đi theo một chính sách quốc gia riêng, tạo nên sự nghi ngờ lẫn nhau mà đã đóng góp vào việc kéo dài cuộc xung đột. Ngoài ra, trong suốt lịch sử, cả ba nước này thể hiện một thái độ yêu – ghét về nhau. Và sự khác biệt văn hóa giữa TQ và VN cũng góp thêm vào sự phức tạp trong tam giác này.




Nguồn : Page Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam (Viet Nam War) 


 Read more at: https://anhxua.net/album/trung-quoc-va-lien-xo-nhin-nhan-van-de-chien-tranh-viet-nam-nhu-the-nao.html

Sáng kiến Cúc Vạn Thọ: Người Ba Lan thứ nhì 'cố ngăn cuộc chiến Việt Nam'

Du kích Việt Cộng di chuyển bằng thuyền nhỏ ở vùng Đồng Tháp Mười năm 1966
Chụp lại hình ảnh,

Du kích của Quân Giải phóng di chuyển bằng thuyền nhỏ ở vùng Đồng Tháp Mười năm 1966

Vào giai đoạn trọng yếu của Cuộc chiến Việt Nam, khi Hoa Kỳ bắt đầu đưa thêm quân vào VNCH để ngăn chặn sự xâm nhập của bộ đội Bắc Việt và ném bom VNDCCH, một sáng kiến ngưng chiến của Ba Lan đã lên tới cấp lãnh đạo cao nhất của hai phe đối đầu.

Đây là lần thứ nhì người Ba Lan muốn giúp hai miền Nam – Bắc Việt Nam không rơi vào vực xoáy của chiến tranh nhưng cả hai lần họ đều không thành.

Sáng kiến Marigold năm 1966

Dù vai trò của nhà ngoại giao Ba Lan ông Janusz Lewandowski muốn thiết kế thương thảo giữa Hà Nội và Hoa Kỳ không được các sách nghiên cứu lịch sử Cuộc chiến Việt Nam nói đến nhiều, trong cuốn 'Vietnam - An American Ordeal' (1994), George Donelson Moss lại cho rằng đây là một sáng kiến quan trọng.

Có hay không đàm phán Sài Gòn - HN 1963?

Donelson Moss dành hẳn hơn nửa trang trong chương về các nỗ lực ngoại giao liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam giai đoạn 1965 -68 để nói về hoạt động của nhà ngoại giao Ba Lan trong bối cảnh các bên thứ ba cố gắng giúp Hà Nội và Washington phá vỡ thế bế tắc.

"Trong các năm 1966 và 1967, dù hai bên giữ khoảng cách rất xa nhau và không nước nào (VNDCCH hay Hoa Kỳ) tỏ ra có ý muốn nhượng bộ để mà xích lại gần đàm phán, có nhiều bên thứ ba cố gắng đưa Hà Nội và Washington đến bàn đàm phán. Một trong những sáng kiến đó có liên quan đến nhà ngoại giao Ba Lan, ông Janusz Lewandowski.

"Ông thuyết phục Hoa Kỳ cho Hà Nội một đề nghị, mà theo ông có thể né tránh yêu cầu của VNDCCH muốn đặt điều kiện tiên quyết là Hoa Kỳ phải dừng ném bom. Theo Lewandowski, Hoa Kỳ chỉ cần nhận được lời cam kết riêng (không chính thức) là sẽ tạm ngưng chuyển quân xâm nhập vào Nam VN, và nếu Hoa Kỳ xác nhận trên thực địa được việc dừng di chuyển quân đó thì sẽ 'đóng băng' số quân Mỹ ở Việt Nam tại mức hiện có, và đàm phán hai bên có thể được bắt đầu."

Các nữ du kích miền Nam Việt Nam. Hình chụp năm 1966
Chụp lại hình ảnh,

Các nữ du kích miền Nam Việt Nam. Hình chụp năm 1966

Hoạt động của ông Lewandowski, mà sau này chúng ta biết được qua sách và các bài báo như trên The New York Times năm 2013 (năm ông Lewandowski qua đời), có mật danh là 'Operation Marigold' (tên tiếng Anh của hoa Cúc Vạn Thọ).

Có mặt trong phái đoàn Ba Lan của Ủy ban Đình chiến (gồm cả Ấn Độ và Canada), ông Lewandowski tới Sài Gòn ngày 10/04/1966 và chỉ vài hôm sau đã bay ra Hà Nội.

Thành viên của Ủy ban Đình chiến có quyền di chuyển giữa VNDCCH và VNCH, điều công dân hai nước này không được làm.

Tại Hà Nội, ông được thủ tướng Bắc VN Phạm Văn Đồng đón tiếp và phía Việt Nam "chú ý đến đề nghị của ông".

Trên thực tế, như các tài liệu tiếng Anh và tiếng Ba Lan công bố sau này, vai trò của Lewandowski lớn hơn nhiều so với một quan chức Ủy ban Đình chiến.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và TBT Leonid Brezhnev trong chuyến thăm Liên Xô năm 1961 của ông Phạm Văn Đồng
Chụp lại hình ảnh,

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và TBT Leonid Brezhnev trong chuyến thăm Liên Xô năm 1961 của ông Phạm Văn Đồng

Trước khi ông sang Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao CHND Ba Lan, Adam Rapacki đã trình bày sáng kiến lên cho TBT Đảng CS Liên Xô Leonid Brezhnev và được "Moscow bật đèn xanh".

Sau khi trở về từ cuộc gặp với ông Phạm Văn Đồng, ông Lewandowski quay lại Sài Gòn và được Bộ trưởng Ngoại giao VNCH giới thiệu với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, theo the New York Times trong bài của Douglas Martin (02/09/2013). Trong cuộc gặp với Tổng thống Thiệu, ý kiến để ông Lewandowski đóng vai trò trong "thương thảo hòa bình" được nêu ra.

Tiếp theo, tháng 6/1966, ông Lewandowski bay trở lại Hà Nội và được chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói Hà Nội "sẵn sàng chấp nhận đàm phán và có thể còn công nhận quy chế trung lập cho Nam VN, kể cả khi chính phủ hiện hành (của TT Thiệu) vẫn còn đó".

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Phủ Chủ tịch năm 1965
Chụp lại hình ảnh,

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Phủ Chủ tịch năm 1965

Bắc Việt Nam, theo nguồn tin mà New York Times đã ghi lại, đã không đòi hỏi Hoa Kỳ rút quân ngay khỏi Nam VN mà chỉ cần nhìn thấy "một lịch rút quân".

Nhờ đại sứ Ý tại VNCH, Giovanni D'Orlandi, người bạn của Lewandowski tại Sài Gòn trợ giúp, ông đã gặp đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge tại tư dinh ông D'Orlandi.

Kết quả cuộc trao đổi này là Hà Nội đồng ý cử một nhà ngoại giao tiếp xúc với đại sứ Hoa Kỳ ở CHND Ba Lan.

Ông Nguyễn Đình Phương đã tới Warsaw, nhưng cuộc gặp của ông với đại sứ Mỹ John Gronousky đã không xảy ra, theo James G. Hershberg viết trong cuốn sách in năm 2012: "Marigold: The Lost Chance for Peace in Vietnam (Cúc Vạn thọ: Cơ hội bị mất cho hòa bình ở Việt nam)."

Lý do là vài hôm trước đó, Hoa Kỳ lại ném bom miền Bắc Việt Nam.

Các giải thích sau này, của chính Tổng thống Lyndon B. Johnson, là sáng kiến của người Ba Lan "không thực tế".

Họ đã cố "đóng cương vào con ngựa nhưng trong tay không có ngựa", ông viết trong hồi ký.

Nhưng ông Johnson không chỉ là người biết về hoạt động của Lewandowski mà còn ra lệnh đặt tên nó là Marigold (Cúc Vạn thọ, mà người Ba Lan gọi là hoa Nagietek).

Tuy thế, theo Donelson Moss thì các cuộc oanh kích đã lên lịch từ trước vài tuần và Tổng thống Johnson ra lệnh cho Không quân Hoa Kỳ chỉ ném bom các điểm bên ngoài trung tâm của thủ đô Hà Nội.

"Thế nhưng một số phi cơ đã thả bom vào các khu dân cư bên ngoài trung tâm, và gây thương vong cho người dân."

"Điều này khiến Hà Nội tin rằng Johnson vừa muốn tỏ ra đàm phán, vừa mở rộng phạm vi oanh kích."

Kết cuộc là Đại sứ Mỹ John Gronousky ngồi đợi đại sứ Việt Nam trong trụ sở Bộ Ngoại giao Ba Lan ở Warsaw, nhưng ông Nguyễn Đình Phương đã không đến.

Theo Donelson Moss, dù gần như không có chuyện Hà Nội chấp nhận toàn bộ sáng kiến của Lewandowski, nhưng vụ ném bom đã "làm tiêu tan mọi cơ hội" đàm phán.

President Johnson confers the Medal of Honor o­n U.S. Marine Corps Major J. Modrzejewski of Annapolis, Maryland in White House ceremonies March 12. The award was made to Major Modrzejewski for heroism in Vietnam during 1966.
Chụp lại hình ảnh,

Tổng thống Mỹ Johnson trao Huân chương Danh dự cho Thiếu tá Thủy quân Lục chiến J. Modrzejewski, vì lòng dũng cảm khi chiến đấu ở Việt Nam năm 1966

Mặt khác, theo tác giả này, TT Johnson không tin là phía Bắc VN thực sự muốn đàm phán dù ông từng nói: “đây là sáng kiến thực tiễn nhất, đáng thuyết phục nhất mà tôi thấy từ khi lên làm tổng thống” (trích theo hồ sơ Nhà Trắng được New York Times đăng tải).

Ngày nay nhìn lại, người ta cũng có thể nói là TT Johnson đã không thực sự muốn đàm phán.

Tháng 3/1965 quân đội Hoa Kỳ chỉ có 3500 thủy quân lục chiến tới Đà Nẵng và trên 20 nghìn cố vấn quân sự tại VNCH, thì đến năm 1967, tổng số quân lên tới 490 nghìn.

Kể từ sau khi bỏ sáng kiến Marigold, Hà Nội bỏ luôn cả "vẻ bề ngoài là họ muốn đàm phán" và sáng kiến sau đó nữa của Thủ tướng Anh Harold Wilson nhằm giúp các bên đàm phán để chấm dứt chiến sự tại Việt Nam cũng "gặp số phận tương tự", George Donelson Moss viết.

Vai trò khó khăn của Ba Lan

Marigold không phải là sáng kiến đầu tiên của Ba Lan nhằm giúp người Việt Nam chấm dứt cuộc chiến trên đất nước họ.

Trước Janusz Lewandowski, một nhà ngoại giao khác của Ba Lan, giáo sư luật Mieczyslaw Maneli, đã gặp riêng cố vấn Ngô Đình Nhu ở Sài Gòn năm 1963 và gặp Thủ tướng của VNDCCH Phạm Văn Đồng ở Hà Nội, để đưa ra một sáng kiến đối thoại Nam - Bắc.

Trong cương vị trưởng phái bộ Ba Lan ở Ủy ban Đình chiến sau Hiệp định Geneva về Việt Nam, ông Manueli sang Việt Nam tổng cộng 5 năm (1954-55 và 1962-64) và đã kể lại các hoạt động này trong cuốn 'War of the Vanquished: A Polish Diplomat in Vietnam', xuất bản năm 1971 ở Phương Tây, khi ông đã rời Ba Lan đi sống lưu vong.

Tuy vậy, các nỗ lực đó đều không đem lại kết quả gì cụ thể.

Người ta tin rằng sáng kiến của ông Maneli mang tính cá nhân, hoặc may ra thì được phía Ba Lan ủng hộ, nhưng chưa đạt tầm cao như sáng kiến của Lewandowski vốn được cả TBT Brezhnev và Tổng thống Johnson biết tới.

Ta có thể hiểu rằng trải nghiệm chiến tranh khủng khiếp của người Ba Lan trong Thế Chiến II là một động lực khiến các nhà ngoại giao nước này không nỡ nhìn Việt Nam rơi vào cuộc chiến mà họ nhìn thấy trước là rất tàn khốc.

Ông Manueli (sinh năm 1922) và ông Lewandowski (sinh năm 1931) trải qua thời Ba Lan bị tàn phá bởi chiến tranh của các cường quốc.

Tuy thế, có sự khác biệt lớn giữa hai giai đoạn hoạt động của họ ở Việt Nam.

Năm 1963, khi Manueli 'gặp ông Ngô Đình Nhu vài lần' để tính đến một cuộc thương thảo tay đôi Hà Nội - Sài Gòn, chính quyền Ba Lan của TBT Wladyslaw Gomulka không muốn dính líu gì nhiều đến cuộc chiến ở Việt Nam.

Nhưng đến năm 1966-1967, ông Gomulka tin rằng can dự vào vấn đề Việt Nam sẽ giúp Ba Lan có vị thế cao hơn trong ngoại giao quốc tế, kể cả đối với Liên Xô.

Tới thời TBT Edward Gierek (1970-1980), Ba Lan đứng hẳn về phía miền Bắc VN, giúp tín dụng và gửi vũ khí, dược phẩm trợ giúp Hà Nội, theo nhà báo Mariusz Grabowski (Polityka, 3/2018).

Front row, from left to right, Chairman Nguyen Van Thieu (1923 - 2001), President Lyndon B. Johnson (1908 - 1973) and Prime Minister Nguyen Cao Ky (1930 - 2011) salute during the playing of the American and Vietnamese national anthems at Guam's International Airport, Agana, March 20, 1967.
Chụp lại hình ảnh,

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và Thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ giơ tay chào khi quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam được cử hành tại sân bay quốc tế Guam tháng 3/1967

Năm 1972, bom Mỹ ném trúng một tàu thuỷ Ba Lan chở hàng tới cảng Hải Phòng, làm chết bốn thủy thủ và Warsaw đã gửi công hàm phản đối, đòi Hoa Kỳ bồi thường.

Phía Mỹ bác bỏ với lời giải thích rằng "hoạt động của tàu Ba Lan tại khu vực có chiến sự tự nó đã đi kèm rủi ro" như lời nhắc khéo rằng Ba Lan không nên dính líu vào cuộc chiến.

Quan hệ Ba Lan với Hoa Kỳ tuy thế không hẳn là thù địch nhưng trí thức Ba Lan có xu hướng phê phán “sự can dự nặng tay” của Mỹ tại Nam Việt Nam.

Trong thời gian còn lại ở Sài Gòn, Lewandowski thường chơi cờ cùng bạn ông, đại sứ Ý, và đàm đạo về chuyện Hoa Kỳ đã đánh giá quá thấp tinh thần dân tộc của Bắc Việt Nam ra sao.

Các hoạt động của CHND Ba Lan ở Ủy ban Đình chiến chấm dứt năm 1973, sau Hòa đàm Paris mà Ba Lan là một bên tham gia.

Nhìn chung, trải nghiệm ngoại giao của người Ba Lan tại Việt Nam bị cho là lợi bất cập hại, thậm chí “chỉ toàn là khó khăn", theo sử gia Piotr Dlugolecki.

Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng CHND Ba Lan phải chi phí rất nhiều cho hoạt động của hàng nghìn lượt sĩ quan, cán bộ của họ sang Đông Dương, tất cả chỉ vì Kremlin yêu cầu.

Trong số hàng trăm quân nhân Ba Lan luân phiên đến Việt Nam trong khuôn khổi Ủy ban Đình chiến, còn có người bí mật đi theo phía đối địch là Mỹ.

Sài Gòn chính là nơi trung tá Ryszard Kuklinski (sau lên đại tá), 'kẻ phản bội nổi tiếng' đã người liên lạc với CIA để đến năm 1981 đã đem các bí mật của Khối Hiệp ước Warsaw chạy sang Mỹ.

Trong bài viết cho tờ Polityka (24/11/2015), sử gia Dlugolecki trích một câu trong điện thư của thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ba Lan Stanislaw Trepczynski, phản đối việc để Liên Hiệp Quốc mở một hội nghị đánh giá lại hoạt động của Ủy ban Đình chiến tại Đông Dương:

"Chúng ta phản đối hoàn toàn việc mở bất cứ hội nghị gì về kinh nghiệm của Ủy ban Đình chiến. Chúng ta đã quá chán những khó khăn gặp phải ở Việt Nam."

Bức điện của ông Trepczynski cuối cùng được gửi đi, nhưng ông đồng ý xóa câu cuối.

Ngày nay nhìn lại, các sử gia Ba Lan đồng ý rằng những sáng kiến của chính quyền Ba Lan thời XHCN, phần nào đến từ tình cảm của họ muốn dân tộc Việt Nam tránh được chiến tranh, đã không thể vượt qua các tính toán lớn hơn của những đại cường như Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc.

Về cá nhân ông Janusz Lewandowski, sau khi rời Sài Gòn năm 1967, ông tiếp tục sự nghiệp trong ngành ngoại giao Ba Lan, làm đại sứ ở Ai Cập, Hy Lạp.

Ông quyết định về hưu năm 1991 khi chính quyền mới đã bỏ chủ thuyết cộng sản, không muốn thừa nhận tư cách 'nhà ngoại giao' của ông.

Xem 'Sáng kiến hòa bình ở VN' của người Ba Lan Mieczyslaw Maneli năm 1963:

Xem cùng chủ đề trên YouTube:

Những linh hồn bị lãng quên sau Cuộc chiến VN:

Chiến tranh VN quan trọng thế nào với Hoa Kỳ?

Tường thuật của BBC từ Sài Gòn tháng 4/1975:



Sự thật về việc Đặng Tiểu Bình đưa quân tiến đánh Việt Nam năm 1979Trần Phá Không•Thứ Tư, 13/02/2019 • 439.6k Lượt XemTháng 2/1979, Đặng Tiểu Bình đưa 200.000 binh lính của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sang xâm lược Việt Nam. Trong vòng một tháng, hơn 20.000 binh lính Trung Quốc tử trận, bị thương vô số, sau cùng đã thất bại thảm hại và phải rút quân về.



Nguyên nhân của cuộc chiến này bắt nguồn từ việc ĐCSTQ dung túng cho Khmer Đỏ thảm sát 1/4 dân số Campuchia, trong đó có cả kiều bào Trung Quốc và Việt Nam. Vì để bảo vệ người dân Việt Nam tại Campuchia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa quân đến Campuchia, quét sạch Khmer Đỏ và giải cứu người dân Campuchia thoát khỏi địa ngục. Sau đó, ĐCSTQ đã đưa quân tiến đánh Việt Nam, trả đũa Việt Nam đã tiêu diệt Khmer Đỏ.
Đến nay, Khmer Đỏ đã sụp đổ, tàn dư của tổ chức này cũng đã được giao cho Tòa án quốc tế xét xử. Điều này chứng minh rằng, việc Đặng Tiểu Bình phát động cuộc chiến tranh ở biên giới Việt Nam, không chỉ là thảm bại về mặt quân sự, mà còn đại bại về chính trị.
Đặng Tiểu Bình chủ trương đưa quân tiến đánh Việt Nam, thực tế là có mục đích riêng, muốn thông qua việc điều binh khiển tướng từ đó giành được quyền lực quân sự từ tay Chủ tịch Hoa Quốc Phong, sau đó lật đổ Hoa Quốc Phong độc chiếm bá quyền. Chiêu dương đông kích tây này cũng là một loại thủ đoạn thường thấy trong đấu đá quyền lực chính trị Trung Quốc từ xưa đến nay. Đáng tiếc là Hoa Quốc Phong không phát hiện ra điều này nên đã rơi vào cái bẫy của Đặng Tiểu Bình. Sự xảo quyệt của ông Đặng không khác gì Tư Mã Ý thời Tam Quốc.


 Năm 1989, khi giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Đặng Tiểu Bình đã điều động 1/3 quân chủ lực với tổng cộng 300.000 quân tiến vào Bắc Kinh nổ súng đàn áp những người dân thành thị và học sinh sinh viên tay không tấc sắt, gây nên cuộc đàn áp phong trào dân chủ đẫm máu nhất trong lịch sử Trung Quốc: Sự kiện Lục Tứ. Theo mệnh lệnh cực đoan của Đặng, quân đội ĐCSTQ trang bị xe tăng tàn bạo cán người, dùng súng máy bắn quét khiến máu nhuộm đỏ quảng trường, xác người chất thành đống. Sự kiện Lục Tứ quả thực khiến cả thế giới phải chấn động.
“Giết 200 ngàn người, đổi lấy 20 năm ổn định”. Đây là câu “danh ngôn” mà Đặng Tiểu Bình đưa ra trong khoảng thời gian diễn ra vụ thảm sát năm 1989. Câu “danh ngôn” này trên bề mặt là vì để ổn định quốc gia, nhưng mục đích thực tế là để ổn định chính quyền. Câu “danh ngôn” này còn một hàm ý khác, liên quan đến dục vọng cá nhân của ông ta, ít nhất để cho họ Đặng sống yên ổn những năm tháng cuối đời.
Khi được học sinh sinh viên tôn trọng mà cúi chào, Đặng Tiểu Bình cảm thấy vô cùng vui sướng. Nhưng khi nghe họ hô “đả đảo Đặng Tiểu Bình” thì ông ta trở nên sôi sục giận dữ. Nắm quyền lực trong tay, ông này chỉ vì những hỷ nộ của bản thân mà tùy tiện sinh sát. Để được sống yên ổn những năm cuối đời, và cái giá để đổi lấy điều đó chính là hàng chục ngàn người đầu rơi máu chảy, hàng trăm ngàn người bị giam giữ và hàng triệu người bị bức hại. Chủ mưu gây ra cuộc tàn sát ngày 4/6 tại Thiên An Môn, cái tên Đặng Tiểu Bình đã bị đóng đinh kiên cố trên cây trụ ô nhục của lịch sử.
Trước ngày 4/6, khoảng giữa tháng 5/1989, Tổng Bí thư ĐCSTQ Triệu Tử Dương đã đến gặp Đặng Tiểu Bình, đề xuất đối thoại với học sinh để có thể hai bên hiểu nhau hơn. Đặng đáp lại rằng: “Tôi đang cảm thấy vô cùng mệt mỏi, tai ù, đầu óc không suy nghĩ gì được, lời ông nói tôi cũng không nghe rõ.” Lúc đó ông này diễn lại độc chiêu “Tư Mã Ý giả bệnh lừa Tào Sảng” trong thời Tam Quốc, nhằm đối phó với ông Triệu Tử Dương. Trên thực tế, Đặng Tiểu Bình dựa vào khởi nghĩa vũ trang mà gây dựng sự nghiệp, nhờ vào lực lượng vũ trang ĐCSTQ giành chính quyền, một khi gặp phản đối, thì điều đầu tiên nghĩ tới chính là bạo lực.
Ngay sau phong trào của học sinh sinh viên mùa đông năm 1986, Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố, chúng ta không ngại đổ máu để dẹp tan các cuộc biểu tình của sinh viên, cuối cùng khiến nó biến mất. Phát ngôn sặc mùi máu của ông này thật khiến người ta ghê sợ!
Về sau, hễ thấy học sinh sinh viên xuống đường biểu tình, Đặng Tiểu Bình lập tức mưu tính giới nghiêm hoặc thiết quân luật để kiểm soát, trong tâm thức lúc nào cũng cầm chặt báng súng. Chỉ cần tóm lược lại sự kiện Lục Tứ, cũng đủ để hình dung về một đời chém giết của ông ta. Trước khi chết, Đặng Tiểu Bình còn căn dặn lại: “Không lưu lại tro cốt, toàn bộ rắc xuống biển.” Hành động này trên bề mặt thì là học theo Chu Ân Lai, nhưng thực tế là sợ thi hài bị làm nhục. Chu Ân Lai là sợ Mao Trạch Đông, còn Đặng Tiểu Bình chính là sợ nhân dân làm nhục thi thể của mình.
Sau sự kiện Lục Tứ, hai tay Đặng Tiểu Bình nhuộm đầy máu của nhân dân. Ông ta muốn xóa đi chuyện này, đã từng mượn lời con gái mình để nói ngụ ý rằng: “Tôi cũng là con dân của Trung Quốc, tôi cũng yêu mọi người dân một cách sâu sắc.” Có người nghe xong đã hỏi lại: “Con cái sát hại cha mẹ, đây là thứ đạo lý gì trên đời? Ai cũng biết rằng, từ xưa đến nay sát hại cha mẹ là đại tội trái với ý trời, không thể tha thứ được.”


 Sau khi Mao Trạch Đông chết, Đặng Tiểu Bình do bất lợi nên ra sức phủ định Cách mạng Văn hóa. Tuy nhiên phủ định Cách mạng Văn hóa cũng chỉ là cái cớ, thực chất ông ta muốn sửa đổi Hiến pháp, thủ tiêu đi “bốn quyền lợi tự do” của người dân, cuối cùng tiến đến thủ tiêu quyền lợi bãi công của công nhân. Việc Đặng Tiểu Bình chối bỏ Cách mạng Văn hóa, có thể nói chính là thẳng tay tước đi quyền lợi dân chủ của người dân.
ĐCSTQ khi mới bắt đầu đã tuyên bố “giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo”, có vấn đề gì phát sinh là họ bãi công, đối kháng với chính phủ quốc dân đương thời. Nhưng đến 30 năm sau khi ĐCSTQ nắm quyền, chính họ lại “lập pháp” nhằm thủ tiêu quyền lợi bãi công của công nhân. Điều này minh chứng rằng, chính quyền ĐCSTQ chuyên chế, độc tài và phản động hơn bất kỳ chính quyền nào khác.
Có người hy vọng Trung Quốc tiến tới dân chủ hóa và phó thác vào ông Đặng Tiểu Bình. Trong khi đó cựu Tổng Bí thư ĐCSTQ Triệu Tử Dương lúc còn sống đã thẳng thắn nhận định trong phần ghi âm rằng: Đặng Tiểu Bình nói về dân chủ chỉ là những lời lừa gạt.
Lại có người bình luận: Đặng Tiểu Bình mới là Hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc. Trên thực tế, ông Hoa Quốc Phong đã kết thúc nền chính trị chuyên chế cực đoan kiểu Mao Trạch Đông, bước đầu mở ra hình thế dân chủ trong Đảng. Nhưng do hoàn cảnh bất thường, trong vài năm, ông Đặng Tiểu Bình dùng thủ đoạn triệt tiêu ông Hoa Quốc Phong, ngang tàng khôi phục hình thức chính trị chuyên chế cực đoạn kiểu Mao Trạch Đông. Ông Đặng tự xưng là “thế hệ hạt nhân” thứ hai kế tục sự nghiệp của Mao Trạch Đông, và hầu hết mọi việc đều do ông ta quyết định.

Mùa xuân năm 1992, ông Đặng Tiểu Bình 88 tuổi, đột nhiên làm theo ông Mao Trạch Đông diễn vở kịch đi tuần phía nam. Lúc này do bất mãn với việc ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng nắm quyền chính trị, nhận thấy họ quá thiên về cánh tả nên đã xướng ra phe ánh hữu, mục đích chính thực ra để phòng phe cánh tả. Ông Đặng Tiểu Bình khi tuần tra Quảng Đông rộng lớn, vừa đi vừa chửi, buông ra những lời nặng nề: “Kẻ nào không cải cách, kẻ đó sẽ rớt đài.”
Có người hiểu rõ tình hình tiết lộ: Thời điểm đó ông Đặng Tiểu Bình âm mưu hạ bệ ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng. Nhưng ông Giang và Lý đề phòng vô cùng chặt chẽ, khi đó Đặng Tiểu Bình không có quyền hành, đến chức Chủ tịch Quân ủy cũng không phải; thêm nữa sau khi ông đi tuần phía nam trở về Bắc Kinh thì cảm thấy thân thể khó chịu, sức khỏe suy kiệt, nên có muốn can dự vào cục diện chính trị cũng lực bất tòng tâm.
Trần Phá Không (Nhà bình luận chính trị Trung Quốc sống tại Mỹ)
Xem thêm:
Diễn biến vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989Đặng Tiểu Bình và Mao Trạch Đông, ai gây hại cho Trung Quốc nhiều hơn?Ông Giang Trạch Dân và kế hoạch ám sát 114
Bạn đang sao chép nội dung của Trí Thức VN. Nếu là cá nhân sử dụng, vui lòng ghi rõ nguồn trithucvn.org. Nếu là website, kênh truyền thông, vui lòng chỉ sử dụng nội dung khi có sự  cho phép của Trí Thức VN

Cuốn sách mô tả cặn kẽ về mạng lưới tình báo Trung Quốc

TPO - Khi Trung Quốc vươn ra khắp thế giới, những điều cần biết không chỉ là các chính sách an ninh, kinh tế và đối ngoại của nước này mà cả các chiến dịch bí mật trên diện rộng.

Tranh minh họa
Tranh minh họa
Ông Roger Faligot, một nhà báo điều tra chuyên nghiên cứu các cơ quan tình báo, đầu tiên xuất bản cuốn sách mang tên “Gián điệp Trung Quốc” bằng tiếng Pháp. Sự thành công của cuốn sách này khiến ông gần đây xuất bản phiên bản tiếng Anh.
Cuốn sách đầy tham vọng của Faligot nói về hoạt động bí mật của Trung Quốc trải dài suốt 1 thế kỷ, từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc đến nay.
Trong những năm 1920, ông Chu Ân Lai khi còn trẻ tuổi đã tập hợp các thành viên Cộng sản ở Hong Kong dưới biệt danh Stephen Knight và Wu Hao ở Pháp, còn ông Đặng Tiểu Bình hồi còn là một công nhân nhà xưởng ở Paris đã dành nhiều đêm chép những cuốn sách nhỏ dưới hầm.
Mật vụ Trung Quốc hoạt động giống mô hình của Liên Xô vì có nhiều người từng được đào tạo ở đó. Cả hai nước đều có mạng lưới điệp viên phức tạp. Họa sĩ truyện tranh người Bỉ Hergé lấy cảm hứng từ các nhân vật có thật ở Trung Quốc trong những năm 1930 để viết ra tác phẩm phiêu lưu The Blue Lotus (Sen xanh), một trong những tác phẩm truyện tranh nổi tiếng ở châu Âu.
Khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, các hoạt động tình báo của Trung Quốc chuyển sang giai đoạn cao hơn.
Cuốn sách cũng nói rằng sự sụp đổ của Liên Xô và nỗ sợ của Trung Quốc đã dẫn đến thời kỷ cải cách và quốc tế hóa các chiến dịch tình báo, bao gồm việc thành lập một mạng lưới tổ chức nghiên cứu và tư vấn chính sách. Chiến dịch Áo vàng dùng “những con cá bơi sâu” trên khắp thế giới để truy tìm những đối tượng bất đồng đã đi khỏi Trung Quốc. Chiến dịch Hoa lan mùa thu mất cả thập kỷ để giám sát sự trở về của Hong Kong và Macau, trong đó có cả chiến dịch tấn công cá nhân Thị trưởng Chris Patten.
Khi các quan hệ quốc tế của Trung Quốc mở rộng, sự hiện diện bí mật của nước này cũng tăng theo. Theo Faligot, ít nhất 40% nhân viên các đại sứ quán Trung Quốc trên khắp thế giới thực hiện hoạt động tình báo, trong khi tỷ lệ này của Nga là 20%. Bằng chứng cho thấy Trung Quốc xác định Úc và Pháp là hai nước dễ bị thao túng nhất, cuốn sách viết.
Trong kỷ nguyên của internet, quân đội Trung Quốc lập nên một mạng lưới chiến binh mạng hùng hậu, chuyên tập trung vào các vấn đề an ninh, quân sự và kinh tế. Trước Thế vận hội Bắc Kinh 2008, Trung Quốc còn lập ra bộ phận tình báo thể thao để theo dõi vận động viên của các nước khác nhằm bảo đảm Trung Quốc giành được nhiều huy chương nhất.
Faligot liệt kê các phương pháp tình báo của Trung Quốc. Trong những ngày đầu, tình báo Trung Quốc sử dụng các phương pháp thông thường, gồm nghe lén, dùng điệp viên hai mang, mỹ nhân kế, hối lộ và tra tấn. Khi kinh tế mở cửa, Trung Quốc nhanh chóng chuyển sang gián điệp kinh tế và công nghiệp, thậm chí lập cả một trường chuyên biệt ở Bắc Kinh từ năm 1984 để đào tạo. Gần đây, Trung Quốc đi đầu thế giới về hoạt động gián điệp mạng, tấn công tin tặc và thao túng thông tin tài chính, Faligot viết.
Các cơ quan tình báo của Trung Quốc sử dụng một lực lượng đông đảo các sinh viên, học giả và doanh nhân để có thể giành được lợi thế trước các đối thủ. Những thông tin bí mật về trí tuệ nhân tạo, hàng không dân dụng, năng lượng và công nghệ y tế đổ về Trung Quốc từ nhiều nguồn khác nhau trên khắp thế giới.
Cuốn sách của Faligot có phụ lục nói về các cơ quan bí mật của Trung Quốc, từ Bộ An ninh nhà nước, Bộ Công an đến cơ quan có tên không liên quan lắm như Viện Quan hệ quốc tế đương đại. Cục mặt trận công tác thống nhất quản lý quyền lực mềm của Trung Quốc.
Cuốn sách của Faligot có nhiều thông tin ít được nghe đến. Trong những năm 1980, khi ông Bill Clinton là thống đốc Arkansas, ông thường đến ăn miễn phí tại một nhà hàng Trung Hoa. Ở đó, ông kết bạn với John Huang, người làm việc cho Bộ Thương mại Trung Quốc trước khi bị lộ thân phận trong vụ bê bối gián điệp mang tên “Chinagate”. 
Vụ Mỹ thả bom xuống đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade năm 1999 được Tổng thống Clinton gọi là sai lầm lớn và ông đã xin lỗi các lãnh đạo Trung Quốc. Trên thực tế, cả hai đều biết đây là hành động cố ý vì đại sứ quán Trung Quốc khi đó có thiết bị để thu thập thông tin tình báo về các vũ khí của phương Tây đang bị sử dụng ở Serbia. 
"Trò mèo đuổi chuột" trong lĩnh vực tình báo mạng càng gia tăng khi công nghệ 5G ra đời và hãng viễn thông Trung Quốc Huawei đang dẫn đầu trong lĩnh vực này. Trung Quốc đã là trung tâm của dữ liệu toàn cầu, chiếm tới 23% dòng dữ liệu xuyên biên giới, trong khi Mỹ chỉ chiếm 12%. Trung Quốc gần đây cũng vượt Mỹ về mạng lưới giám sát bằng vệ tinh. 
Với mạng lưới điệp viên rộng nhất thế giới và sự hiện diện kinh tế ngày càng tăng, các hoạt động bí mật của Trung Quốc sẽ càng mở rộng, Faligot viết. 

theo The Strategis




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Cuộc đối đầu Đài Loan – Đại lục trong mối duyên nợ tay ba: Đài Loan – Trung Quốc – Nhật Bản
Chiến lược Covid của Trung Quốc tại VN thành công nhờ TT Chính giúp đảo ngược thế cờ mang các công ty Tây Phương trở lại TQ
Sau khi Phi Nhung bị ám hại bà Phương Hằng vẫn chưa hã giận gọi hồn ca sĩ lên mắng nhiếc
Trồng cỏ muôn năm: Ngôi nhà trồng đầy cần sa của ký giả từ quê hương Bác được giấu kín bởi vỏ bọc hoa hồng
Động thái mới của bà Phương Hằng sau khi Phi Nhung qua đời - Phi Nhung bị ám hại đầu độc không phải chết do Covid lây lan thông thường
Cảnh sát biển Việt Nam toàn buôn lậu tay sai cua TQ
VN hụt cơ hội trờ thành cường quốc Hải Quân: 2 hàng không mẫu hạm của HQ Mỹ giá 1 xu mỗi chiếc
CSVN phá sản: Phạm Minh Chinh được Tập khen ngợi đã phá tan kỹ nghệ VN giúp các công ty trở về TQ
Dân Sài Gòn thoát thân bỏ chạy khỏi thành Hồ
Thầy lang VN chửa bệnh vô sinh bằng cách quan hệ nữ bệnh nhân có bầu hai lần vừa được tiền vừa sướng cả hai bên
Quyết giữ bí mật trong siêu vũ khí sinh học, Trung Quốc 'ém' mẫu virus trong những tuần đầu của đại dịch
Hăng hái làm từ thiện, ca sĩ Phi Nhung qua đời vì hệ thống y tế quá yếu kém của CSVN do lãnh đạo tham nhũng
Con chiên Việt cuồng tín bị mục sư Tin Lành Mỹ lừa 36 triệu đô
Không có công an, cán bộ, người TQ nào chết vì Covid mà chỉ có dân nghèo VN bị thảm sát bởi dịch Tàu
Biden tránh chiến tranh lạnh, Canada trả tự do cho Mạnh Vãn Chu về TQ

     Đọc nhiều nhất 
Lực lượng kháng chiến ở Afghanistan phản công, giết các tay súng Taliban, tái chiếm nhiều khu vực [Đã đọc: 623 lần]
ViDan Foundation Xin Hỗ Trợ Nhu Yếu Phẩm (cho Đồng bào nạn nhân dịch Covid-19 ở Việt Nam) [Đã đọc: 504 lần]
Học sách lược CSBV, Taliban miệng nói hòa giải dân tộc nhưng tối đi tìm những công chức quân nhân hoặc ai làm cho ngoại quốc đưa đi thủ tiêu! [Đã đọc: 429 lần]
Dân VN thời CS trở nên bất lương cả với người làm từ thiện : NS Việt Hương bị trộm bẻ khoá lấy cắp giấy tờ trên xe chở đồ từ thiện [Đã đọc: 382 lần]
Thủ tướng Chính kém khả năng lãnh đạo chống để lây lan khăp nướcgần nửa triệu gần chục ngàn dân chết - Ca sĩ Phi Nhung nhiễm Covid tình trạng nguy kịch phải chuyển bệnh viện đang thở oxygen [Đã đọc: 374 lần]
Chống dịch kiểu VN: Càng chống càng tăng, mỗi ngày nhiễm 13.000 chết 400, dự đoán trong 2 tháng sẽ vướt 1 triệu và 50,000 tử vong [Đã đọc: 362 lần]
Vũ Hán HCM: Sự thiếu trách nhiệm và kém khả năng lãnh đạo của CSVN chính là nguyên nhân để dịch lây lan nhiễm gần nửa triệu dân và tử vong trên 10 ngàn [Đã đọc: 360 lần]
Covid TQ tần công VN tàn phá kinh tế, xã hội cận tử [Đã đọc: 317 lần]
Thanh niên gốc Việt Đinh Văn Đạt đột nhiên bị mất tìch hay bị thủ tiêu tại khu St Michel, Montréal? [Đã đọc: 308 lần]
Hăng hái làm từ thiện, ca sĩ Phi Nhung qua đời vì hệ thống y tế quá yếu kém của CSVN do lãnh đạo tham nhũng [Đã đọc: 303 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.