Lễ tang của ông được tổ chức tại quê nhà theo nguyện vọng của gia đình, số 237/6/1B Hồ Văn Tắng, tổ 8, ấp Cây Da, xã Tân Phú Trung (huyện Củ Chi, TPHCM). Lễ an táng tổ chức vào 6 giờ ngày 2-10.
Lễ tang ông Nguyễn Hữu Hạnh: "Mãi ghi nhớ những đóng góp trong cuộc kháng chiến thống nhất Tổ quốc"
Dân trí - Sau khi mất tại bệnh viện Thống Nhất (TPHCM) vào lúc 6h40 ngày 29/9, ông Nguyễn Hữu Hạnh được con cháu đưa về ngôi nhà ở huyện Củ Chi để tổ chức tang lễ. Tính đến ngày 30/9, đã có hàng chục đoàn khách từ TPHCM và các tỉnh thành lân cận đến viếng ông.
>>Người tác động Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi binh sĩ buông súng đã qua đời
Ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Chuẩn tướng, quyền Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH), là người tác động để Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi các binh sĩ VNCH hạ vũ khí.
Ông sinh ngày 10/7/1924 tại xã Phú Phong, Châu Thành, Tiền Giang; nguyên Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, nguyên Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM; Huân chương Thành đồng hạng ba, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc.
Sau thời gian dài điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất, lúc 6h40 sáng 29/9, nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 95.

Nhấn để phóng to ảnh

Nhấn để phóng to ảnh

Nhấn để phóng to ảnh
Nhiều đoàn khách đến từ TPHCM và các tỉnh phía Nam kịp ghé viếng ông trong ngày 30/9
Ngay trong ngày, lễ tang của ông đã được tổ chức tại căn nhà mà các con ông mua để dành làm nơi thờ cúng của dòng họ ở huyện Củ Chi (TPHCM). Theo các con của ông, tang lễ của ông đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TPHCM cùng chính quyền địa phương hỗ trợ tổ chức trang trọng, chu đáo nên dù lúc tang gia bối rối nhưng lễ tang vẫn được tươm tất, đầy đủ lễ nghi.
Ban lễ tang gồm 9 thành viên do bà Tô Thị Bích Châu, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TPHCM làm trưởng ban.
Lễ viếng tang ông Nguyễn Hữu Hạnh bắt đầu từ 18h ngày 29/9. Sang ngày 30/9 đã có hàng chục đoàn khách từ TPHCM và các tỉnh thành lân cận đến viếng ông.
Đến viếng ông có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Võ Thị Dung, gia đình nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng gửi vòng hoa đến viếng,…

Nhấn để phóng to ảnh

Nhấn để phóng to ảnh
Đến viếng ông có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Võ Thị Dung, gia đình nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng gửi vòng hoa đến viếng,…
Trong sổ tang, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết: “Anh Nguyễn Hữu Hạnh kính mến! Vô cùng thương tiếc Anh. Chúng tôi mãi mãi ghi nhớ những đóng góp quan trọng của Anh trong những ngày tháng sục sôi của cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Xin vĩnh biệt Anh!”.

Nhấn để phóng to ảnh

Nhấn để phóng to ảnh
Lễ tang ông Nguyễn Hữu Hạnh được tổ chức trang trọng, chu đáo

Nhấn để phóng to ảnh
Bà Võ Thị Dung, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM xúc động chia sẻ: “Vĩnh biệt chú với lòng thương tiếc và biết ơn sâu sắc. Cháu mãi mãi ghi nhớ những lời chú gửi gắm; mãi khắc ghi hình ảnh bậc Nhân sĩ yêu nước và những đóng góp quan trọng đầy ý nghĩa của chú cho đất nước, cho sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc. Cháu không thể quên hình ảnh những năm cuối đời, mặc dầu đau yếu, chú không quên nhắc nhớ các anh em ở Mặt trận Tổ quốc thành phố hãy cố gắng chăm lo để ngôi nhà Mặt trận là mái ấm của mọi thành phần, của các tầng lớp nhân dân thành phố”.
Còn ông Lê Hoàng Quân, nguyên Chủ tịch UBND TPHCM viết những dòng chân thành: "Xin chân thành chúc hương hồn chú Nguyễn Hữu Hạnh - người nhân sĩ yêu nước - an giấc ngàn thu!".

Nhấn để phóng to ảnh
Bà Tô Thị Bích Châu, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM, Trưởng ban tang lễ cũng xúc động viết trong sổ tang: “Sự đóng góp to lớn của ông vào sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được MTTQ Việt Nam TPHCM trân trọng và ghi nhớ. Vĩnh biệt ông - người con của Mỹ Tho yêu quý, ông đã làm tròn trách nhiệm của một Người yêu nước chân chính. Chúng tôi luôn nhớ ông - Nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh”.
Còn ông Phạm Văn Thắng (74 tuổi, Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ kháng chiến khối Binh vận TPHCM) gọi ông Hạnh là “người anh hùng thầm lặng”. Ông Thắng viết: “Nhờ ơn anh mà đồng bào và chiến sĩ ít đổ máu trong ngày chiến thắng”.

Nhấn để phóng to ảnh

Nhấn để phóng to ảnh
Nhiều cán bộ hoạt động nội thành năm xưa đến viếng tang ông
Ông Kiều Xuân Long thay mặt Ban Trí vận – Mặt trận Khu ủy Sài Gòn Gia Định năm xưa viết trong sổ tang: “Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, một vị tướng của VNCH nhưng trái tim và khối óc là của nhân dân mình, đã cống hiến xứng đáng cho cuộc kháng chiến thắng lợi trong giờ phút lịch sử của quân dân Việt Nam”.
Tùng Nguyên – Phạm Nguyễn
Bút ký Nguyễn Hữu Hạnh - Kỳ 1: Tôi là ai?
02/10/2019 09:00 GMT+7
TTO - Sau sự kiện 30-4-1975, người ta mới được biết chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng Việt Nam cộng hòa là người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại sao? Hãy nghe chính ông giải thích…
Tôi, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng, thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc (tổng tham mưu trưởng, vắng mặt) yêu cầu tất cả các quí vị tướng lãnh và quân nhân các cấp hãy triệt để thi hành lệnh của Tổng thống Việt Nam cộng hòa về ngưng bắn…
Nhật lệnh được phát liên tục trên Đài phát thanh Sài Gòn từ 9h30 sáng 30-4-1975 sau tuyên bố ngưng bắn của Tổng thống Dương Văn Minh
Nguyễn Hữu Hạnh là ai?
Lời ông nội dạy
Tôi sinh ngày 26-8-1924 (theo trích lục tòa thì sinh ngày 10-7-1926) tại xã Phú Phong, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (bây giờ là tỉnh Tiền Giang). Ông nội là Nguyễn Quang Phát, bà nội là Phạm Thị Trà. Cha là Nguyễn Hữu Điệt. Mẹ là Nguyễn Thị Có (Tư Hiền).
Gia đình nông dân có khoảng 4 mẫu ruộng tự khai thác.
Ông nội là một nhà nho có trình độ, không chịu tham gia làm hương chức hội tề và thường nói "làm dân tốt hơn làm làng". Ông thường giảng dạy cho con cháu về "Nhân - nghĩa - lễ - trí - tín", "Đạo làm người".
Năm 1949, được 72 tuổi, ông nội thắt cổ tự vận chết. Ông buồn vì thời đó quân Pháp thường đi ruồng bố, và có lần một tên lính Marốc đã dùng cây khỏ lên đầu ông. Ông nói lúc đó ông muốn tát tay lại để nó bắn chết cho rảnh,nhưng ông lại nhẫn nhịn.
Lúc còn nhỏ, tôi đi học tại College Mỹ Tho, sau đó lên Sài Gòn học thêm. Trình độ tú tài.
Tôi có người bà con bên bà nội tên Nguyễn Tấn Thành (Tám vô tư) lớn hơn tôi khoảng 10 tuổi. Lúc tôi được trên 10 tuổi, tôi có ở nhà bác Tám để đi học. Tôi rất kính nể bác Tám.
Khi Cách mạng tháng Tám thành công, bác Tám lo về quân sự và phụ trách mặt trận Kinh Xáng, xã Phú Phong. Những người lính tập cũ được giấy gọi đến Vĩnh Kim trình diện với bác Tám.
Năm ấy tôi 21 tuổi, làm thư ký cho thôn bộ Việt Minh tại xã Phú Phong. Những người trong thôn bộ là những bà con hương chức cũ trong làng.
Khi Pháp tái chiếm Mỹ Tho, nhiều người đã bỏ chạy sang Bến Tre. Tôi bơ vơ ở nhà với ông nội. Lúc bấy giờ quân Pháp thường đi ruồng bố ngang xã nên tôi lên Sài Gòn tìm việc làm. Chưa tìm được việc thì có người bạn giới thiệu tôi vào quân đội Pháp.
Nhập ngũ xong, tôi được chuyển về cùng đại đội với ông Dương Văn Minh.
Từng bước trong quân lực Việt Nam cộng hòa
Nhập ngũ tháng 4-1946 trong đại đội với ông Dương Văn Minh, tôi làm ở văn phòng, sau đó đi học và được phong thiếu úy. Đến 1954, tôi đã đảm nhận nhiều chức vụ hành chính của nhiều cấp đơn vị, làm tiểu đoàn phó và tiểu đoàn trưởng.
Đầu năm 1954, tôi học khóa liên đoàn trưởng Liên đoàn lưu động (GM) tại Hà Nội. Cuối 1954, với cấp bậc thiếu tá trung đoàn phó trung đoàn 11, tôi nhận tiểu khu Long Xuyên do Pháp giao lại.
Đầu năm 1955, tôi được gọi về làm tham mưu trưởng cho ông Dương Văn Minh để nhận lãnh phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn (gồm Rừng Sác, tỉnh Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh và thành phố Sài Gòn), phần đất cuối cùng mà Pháp giao lại.
Làm tham mưu trưởng cho ông Dương Văn Minh (với cấp bậc trung tá), tôi đã tham gia chiến dịch Hoàng Diệu (1955), chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch Thoại Ngọc Hầu (1956).
Đầu 1957, tôi được chỉ định làm tham mưu trưởng Liên quân khu 1 - thủ đô và khu 5 (Nam bộ).
Năm 1958 - đấu 1959, tôi được chỉ định đi học khóa chỉ huy và tham mưu cao cấp tại Fort Leaven Worth - Kansas (Mỹ), trở về làm trong Bộ tham mưu của ông Dương Văn Minh tại Bộ tư lệnh hành quân (Bộ tư lệnh lộ quân dã chiến).
Đầu năm 1962, ông Minh gửi tôi đi học khóa tình báo, chiến thuật, chiến lược và phản gián tại Fort Hollabird - Maryland (Mỹ). Tôi không phải chuyên viên tình báo nhưng học để mở rộng kiến thức về tham mưu.
Năm 1963, tôi làm tham mưu trưởng (cấp đại tá) Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật (từ Long An đến Cà Mau).
Tháng 7-1964, làm chỉ huy phó trường Đại học Quân sự tại Đà Lạt.
Tháng 7-1967, làm tư lệnh phó sư đoàn 21 bộ binh tại Bạc Liêu.
Năm 1968, làm tư lệnh biệt khu 44 (tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Kiến Phong và Kiến Tường).
Năm 1969, làm tư lệnh phó Quân đoàn 4 và Quân khu 4 (cấp chuẩn tướng) vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 1971-1972, làm tư lệnh phó Quân đoàn 2 và Quân khu 2 (tại Pleiku và Nha Trang).
Cuối 1973, làm tổng thanh tra Quân đoàn 1 và Quân khu 1 (Đà Nẵng).
Từ 1-5-1974 tôi về hưu.
Ngày 29-4-1975, tôi trở vào quân đội trong chính phủ Dương Văn Minh với chức vụ phụ tá tổng tham mưu trưởng.
Nhích gần đến cách mạng
Năm 1956, khi tôi làm tham mưu trưởng chiến dịch Thoại Ngọc Hầu (Ban chỉ huy tại Cần Thơ), bác Tám vô tư lúc đó là huyện ủy viên huyện Châu Thành, Mỹ Tho vị bắt và bị giam tại Công an Nam Việt (Sài Gòn). Tôi cho Phòng 2 lãnh về để "khai thác" vì nhà của bác Tám ở Mỹ Tho, nằm trong phạm vi hoạt động của chiến dịch.
Thực ra, tôi đã giữ và nuôi nấng bác Tám trong khám. Khi chiến dịch chấm dứt, tôi thả và đem bác Tám về che giấu tại nhà ở Sài Gòn.
Ban đầu bác Tám chưa thổ lộ gì với tôi, nhưng thỉnh thoảng bác đi Cà Mau hoặc có người ở Cà Mau đến thăm. Tôi nghĩ bác Tám còn hoạt động nhưng vẫn kính nể. Thỉnh thoảng bác nhờ tôi giúp đỡ một số người, tôi đã giúp những ai có thể giúp được.
Năm 1958, tôi đi học ở Mỹ. Bác Tám lại bị bắt giam ở Phú Lợi. Năm 1963, tôi gặp lại bác và từ đây tôi và bác Tám thường tranh luận với nhau về chủ nghĩa xã hội và đường hướng quốc gia mà tôi đang đi.
Bác Tám cũng nắm vững về chủ nghĩa xã hội nên đã làm tôi suy nghĩ khá nhiều mặc dù có những thắc mắc tôi chưa được trả lời thỏa mãn.
Trước đây tôi đã nghĩ Mỹ trước kia cũng bị trị, có lẽ sẽ giúp đỡ Việt Nam cộng hòa phát triển nền độc lập hơn Pháp. Nhưng dần dần tôi nhận thấy Mỹ xen vào nội bộ Việt Nam cộng hòa quá nhiều, tổng thống nào không hợp thì bị đảo chính.
Cố vấn quân sự Mỹ cũng xen nhiều vào việc của các cấp chỉ huy Việt Nam, thậm chí có người có vẻ hách dịch và ỷ lại vào tiền họ viện trợ. Trong khi hành quân, họ sử dụng bừa bãi vũ khí và hỏa lực, coi thường mạng sống của người dân Việt Nam.
Đối với đảng phái và tôn giáo, họ tìm cách chia rẽ. Họ bỏ đôla để mua chuộc, chia rẽ nội bộ Việt Nam cộng hòa (chính sách chia để trị, làm chính trị bằng mua bán).
Không có một ý kiến nào hoặc đường lối nào được tiến hành khi Mỹ không đồng ý. Ai có hành động chính trị gì mà không được Mỹ chấp nhận sẽ bị diệt ngay từ trong trứng.
Tôi thường đọc báo nước ngoài, trong lối hành văn, tôi thấy rõ họ kính nể Chủ tịch Hồ Chí Minh, trái ngược lại họ xem thường các tổng thống miền Nam. Có lúc tôi ngồi tâm sự với ông Dương Văn Minh, ông Minh nói: "Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới kính nể, ông đã làm được nhiều việc cho Việt Nam. Còn ở miền Nam, không ai làm ra trò trống gì cả".
NGUYỄN HỮU HẠNH
Quá trình để tôi xích lại gần với cách mạng đã phải trải qua thời gian thử thách, tranh luận, tìm hiểu, giúp đỡ. Có rất nhiều sự việc, xin kể ra đây một vài việc điển hình:
Năm 1963, ba tôi chết tại Cần Thơ. Tôi đem về chôn tại đất nhà ở ấp Phú Thuận, xã Phú Phong, Châu Thành, Mỹ Tho. Đây là khu giải phóng. Tôi nhờ bác Chín Quá (ông ngoại của Hai Kiểu, nguyên ủy viên thư ký quận I) xin phép với cách mạng để đem ba tôi về chôn cất. Sau này tôi mới biết cách mạng đã đánh giá tôi từ ngày ấy.
Đầu năm 1968, khi tôi làm tư lệnh Biệt khu 44, có người bà con là cậu Mười Huê từ xã Bàng Lọng (xã giải phóng) đến gửi tôi trung úy Xuân, nói là cháu. Trung úy Xuân là đại đội trưởng đại đội địa phương quân từ Ba Xuyên biệt phái cho Biệt khu 44.
Tôi đã nhận giúp đỡ và che chở, xin giữ ở lại Biệt khu 44 mặc dù tôi nghĩ anh Xuân có thể là người của cách mạng cài vào. Sau đó anh Xuân đưa vũ khí vào khu và bị bắt, còn người tải vũ khí đi lọt được.
Lúc anh Xuân bị bắt, tôi làm tư lệnh phó Quân khu 4, tôi đã can thiệp với an ninh quân đội nhưng không được vì có bằng cớ. Tôi nói anh Xuân đã giúp tôi ở Biệt khu 44 có kết quả và đổ lỗi cho người đã đi lọt ra khu. Anh Xuân được trả tự do.
Lúc tôi làm tư lệnh Biệt khu 44, cố vấn Mỹ thường gọi tôi là "Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu" vì khi xáp chiến, tôi cho cầm cự đến tối khi quân cách mạng rút, hôm sau tôi cũng rút quân về.
Tôi đã từ chối không bỏ B-52 vào mật khu trên kinh Tháp Mười, viện lẽ quá đông dân.
Lúc tôi làm tư lệnh phó sư đoàn 21, trong những cuộc hành quân, tôi cho lệnh trực thăng võ trang phải thận trọng, khi nào dưới đất bắn lên mới được bắn lại. Cố vấn Mỹ trong sư đoàn thường phản đối, cho rằng khi nào có tôi là có "thận trọng".
Tôi nói với thiếu tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh sư đoàn (Minh trước kia làm việc dưới quyền và rất kính nể tôi): "Sư đoàn đã sử dụng hỏa lực bừa bãi. Thấy cảnh chết chóc nhiều tôi không chịu nổi, có lẽ tôi sẽ không làm việc lâu với anh".
Khoảng một tuần lễ sau, có lẽ Nguyễn Văn Minh nghi ngờ nên nói: "Tôi không dám nói đại tá là Việt cộng, nhưng vì đại tá đạo đức nên mới nói với tôi như vậy".
Nói chung, những việc làm của tôi không để phạm lỗi, nhưng cũng không "tiêu diệt cách mạng" như người ta muốn. Càng hiểu cách mạng, tôi càng tìm cách giúp đỡ theo khả năng, nhất là theo yêu cầu của bác Tám.
Cuối năm 1968, bác Tám có nói chuyện với tôi về anh Tư Chi (anh Tư Chi khi công tác ở Sài Gòn thường ở nhà anh Ba Tịnh, người Bến Tre, thân nhân thường tới lui khăng khít với tôi). Đến cuối 1970 tôi mới có nhiệm vụ.
Theo yêu cầu của binh vận Trung ương Cục miền Nam do bác Tám chuyển tới, bác Tám yêu cầu tôi đứng vào lực lượng 3 cho cách mạng. Tôi đã chấp nhận.
Có lần bác Tám yêu cầu tôi ra khu, nhưng tôi muốn được ở lại hoạt động công khai. Tôi yêu cầu không liên lạc thẳng với cách mạng mà chỉ qua bác Tám. Bác Tám cũng không bao giờ nói đến tên tôi mà chỉ dùng bí số.
Bác Tám thường vào khu gặp anh Bảy Lương và anh Sáu Rết. Sau có lúc bác Tám bị cảnh sát Định Tường bắt, tôi lập tức gọi điện thoại lãnh ra. Trong công tác, tôi thường tìm cách giúp đỡ hoặc lo cho anh em theo yêu cầu của bác Tám.
Phần lớn, tôi cung cấp những tin tức chiến lược: Khi Phước Long thất thủ, tôi nói không có quân tiếp viện. Buôn Mê Thuột bị bỏ ngỏ, quân Việt Nam cộng hòa không có chuẩn bị, khi thất thủ không có tổ chức nào ở lại hậu phương.
Khi quân giải phóng tiến về miền Nam, tôi cho bác Tám biết quân xung kích cần tiến nhanh, không sợ bị phản công, ở hậu phương khi cần giao lãnh thổ lại cho địa phương quân.
Đối với nội bộ, tôi tìm cách kích động những sĩ quan chống lại chính sách của Thiệu, chống tham nhũng. Về chỗ dựa, tôi đứng trong hàng ngũ của ông Dương Văn Minh. Có lẽ Thiệu nghi ngờ nhưng không bằng cớ nên đã cho tôi giải ngũ năm 1974 với lý do trên 25 năm quân vụ.
Khi quân giải phóng tiến vào Nam, Binh vận Trung ương Cục phái bác Tám gặp tôi bàn về việc ông Dương Văn Minh lên nắm chính quyền. Chừng đó tôi phải tìm cách nắm quân đội, tìm mọi cách thuyết phục ông Minh đầu hàng. Trường hợp không được sẽ phối hợp với quân cách mạng chiếm lấy phần lãnh thổ còn lại (phần kế hoạch này sẽ tính sau).
Tôi có đưa ý kiến với bác Tám: muốn thúc đẩy người ta giao nhanh cho ông Minh, quân cách mạng phải cắt đứt các đường lộ dẫn vào Sài Gòn cỡ cấp sư đoàn. Việc liên lạc của tôi với anh Tư Chi, Bảy Lương, Sáu Rết đều qua bác Tám. Những chỉ thị từ Binh vận Trung ương Cục hoặc của các anh đều do bác Tám chuyển đến.
Khi được làm phụ tá tổng tham mưu trưởng, tôi đã tạo động cơ để thúc đẩy ông Dương Văn Minh đơn phương tuyên bố bàn giao quyền lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, từ đó tôi mới chỉ thị quân đội buông súng được.
Nội dung của chỉ thị yêu cầu các quân đoàn, sư đoàn, địa phương quân, nghĩa quân, lực lượng vũ trang, nhân dân tự vệ hãy triệt để thi hành lệnh của tổng thống. Từng đơn vị trực tiếp liên hệ với lực lượng của Chính phủ cách mạng, đối diện để buông súng và bàn giao lãnh thổ mà mình chịu trách nhiệm, cố gắng tránh đổ máu.
"Tôi rất vui mừng khi làm xong nhiệm vụ mà Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam Việt Nam chỉ đạo. Đóng góp phần nhỏ bé của mình cho công tác binh vận, một trong ba mũi giáp công mà Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, hướng dẫn cho cách mạng Việt Nam chiến thắng, miền Nam và thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn".
NGUYỄN HỮU HẠNH
* Tít và tít phụ do Tuổi Trẻ online đặt.
Tôi, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng, thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc (tổng tham mưu trưởng, vắng mặt) yêu cầu tất cả các quí vị tướng lãnh và quân nhân các cấp hãy triệt để thi hành lệnh của Tổng thống Việt Nam cộng hòa về ngưng bắn…
Nhật lệnh được phát liên tục trên Đài phát thanh Sài Gòn từ 9h30 sáng 30-4-1975 sau tuyên bố ngưng bắn của Tổng thống Dương Văn Minh
Nguyễn Hữu Hạnh là ai?
Lời ông nội dạy
Tôi sinh ngày 26-8-1924 (theo trích lục tòa thì sinh ngày 10-7-1926) tại xã Phú Phong, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (bây giờ là tỉnh Tiền Giang). Ông nội là Nguyễn Quang Phát, bà nội là Phạm Thị Trà. Cha là Nguyễn Hữu Điệt. Mẹ là Nguyễn Thị Có (Tư Hiền).
Gia đình nông dân có khoảng 4 mẫu ruộng tự khai thác.
Ông nội là một nhà nho có trình độ, không chịu tham gia làm hương chức hội tề và thường nói "làm dân tốt hơn làm làng". Ông thường giảng dạy cho con cháu về "Nhân - nghĩa - lễ - trí - tín", "Đạo làm người".
Năm 1949, được 72 tuổi, ông nội thắt cổ tự vận chết. Ông buồn vì thời đó quân Pháp thường đi ruồng bố, và có lần một tên lính Marốc đã dùng cây khỏ lên đầu ông. Ông nói lúc đó ông muốn tát tay lại để nó bắn chết cho rảnh,nhưng ông lại nhẫn nhịn.
Lúc còn nhỏ, tôi đi học tại College Mỹ Tho, sau đó lên Sài Gòn học thêm. Trình độ tú tài.
Tôi có người bà con bên bà nội tên Nguyễn Tấn Thành (Tám vô tư) lớn hơn tôi khoảng 10 tuổi. Lúc tôi được trên 10 tuổi, tôi có ở nhà bác Tám để đi học. Tôi rất kính nể bác Tám.
Khi Cách mạng tháng Tám thành công, bác Tám lo về quân sự và phụ trách mặt trận Kinh Xáng, xã Phú Phong. Những người lính tập cũ được giấy gọi đến Vĩnh Kim trình diện với bác Tám.
Năm ấy tôi 21 tuổi, làm thư ký cho thôn bộ Việt Minh tại xã Phú Phong. Những người trong thôn bộ là những bà con hương chức cũ trong làng.
Khi Pháp tái chiếm Mỹ Tho, nhiều người đã bỏ chạy sang Bến Tre. Tôi bơ vơ ở nhà với ông nội. Lúc bấy giờ quân Pháp thường đi ruồng bố ngang xã nên tôi lên Sài Gòn tìm việc làm. Chưa tìm được việc thì có người bạn giới thiệu tôi vào quân đội Pháp.
Nhập ngũ xong, tôi được chuyển về cùng đại đội với ông Dương Văn Minh.
Từng bước trong quân lực Việt Nam cộng hòa
Nhập ngũ tháng 4-1946 trong đại đội với ông Dương Văn Minh, tôi làm ở văn phòng, sau đó đi học và được phong thiếu úy. Đến 1954, tôi đã đảm nhận nhiều chức vụ hành chính của nhiều cấp đơn vị, làm tiểu đoàn phó và tiểu đoàn trưởng.
Đầu năm 1954, tôi học khóa liên đoàn trưởng Liên đoàn lưu động (GM) tại Hà Nội. Cuối 1954, với cấp bậc thiếu tá trung đoàn phó trung đoàn 11, tôi nhận tiểu khu Long Xuyên do Pháp giao lại.
Đầu năm 1955, tôi được gọi về làm tham mưu trưởng cho ông Dương Văn Minh để nhận lãnh phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn (gồm Rừng Sác, tỉnh Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh và thành phố Sài Gòn), phần đất cuối cùng mà Pháp giao lại.
Làm tham mưu trưởng cho ông Dương Văn Minh (với cấp bậc trung tá), tôi đã tham gia chiến dịch Hoàng Diệu (1955), chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch Thoại Ngọc Hầu (1956).
Đầu 1957, tôi được chỉ định làm tham mưu trưởng Liên quân khu 1 - thủ đô và khu 5 (Nam bộ).
Năm 1958 - đấu 1959, tôi được chỉ định đi học khóa chỉ huy và tham mưu cao cấp tại Fort Leaven Worth - Kansas (Mỹ), trở về làm trong Bộ tham mưu của ông Dương Văn Minh tại Bộ tư lệnh hành quân (Bộ tư lệnh lộ quân dã chiến).
Đầu năm 1962, ông Minh gửi tôi đi học khóa tình báo, chiến thuật, chiến lược và phản gián tại Fort Hollabird - Maryland (Mỹ). Tôi không phải chuyên viên tình báo nhưng học để mở rộng kiến thức về tham mưu.
Năm 1963, tôi làm tham mưu trưởng (cấp đại tá) Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật (từ Long An đến Cà Mau).
Tháng 7-1964, làm chỉ huy phó trường Đại học Quân sự tại Đà Lạt.
Tháng 7-1967, làm tư lệnh phó sư đoàn 21 bộ binh tại Bạc Liêu.
Năm 1968, làm tư lệnh biệt khu 44 (tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Kiến Phong và Kiến Tường).
Năm 1969, làm tư lệnh phó Quân đoàn 4 và Quân khu 4 (cấp chuẩn tướng) vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 1971-1972, làm tư lệnh phó Quân đoàn 2 và Quân khu 2 (tại Pleiku và Nha Trang).
Cuối 1973, làm tổng thanh tra Quân đoàn 1 và Quân khu 1 (Đà Nẵng).
Từ 1-5-1974 tôi về hưu.
Ngày 29-4-1975, tôi trở vào quân đội trong chính phủ Dương Văn Minh với chức vụ phụ tá tổng tham mưu trưởng.
Nhích gần đến cách mạng
Năm 1956, khi tôi làm tham mưu trưởng chiến dịch Thoại Ngọc Hầu (Ban chỉ huy tại Cần Thơ), bác Tám vô tư lúc đó là huyện ủy viên huyện Châu Thành, Mỹ Tho vị bắt và bị giam tại Công an Nam Việt (Sài Gòn). Tôi cho Phòng 2 lãnh về để "khai thác" vì nhà của bác Tám ở Mỹ Tho, nằm trong phạm vi hoạt động của chiến dịch.
Thực ra, tôi đã giữ và nuôi nấng bác Tám trong khám. Khi chiến dịch chấm dứt, tôi thả và đem bác Tám về che giấu tại nhà ở Sài Gòn.
Ban đầu bác Tám chưa thổ lộ gì với tôi, nhưng thỉnh thoảng bác đi Cà Mau hoặc có người ở Cà Mau đến thăm. Tôi nghĩ bác Tám còn hoạt động nhưng vẫn kính nể. Thỉnh thoảng bác nhờ tôi giúp đỡ một số người, tôi đã giúp những ai có thể giúp được.
Năm 1958, tôi đi học ở Mỹ. Bác Tám lại bị bắt giam ở Phú Lợi. Năm 1963, tôi gặp lại bác và từ đây tôi và bác Tám thường tranh luận với nhau về chủ nghĩa xã hội và đường hướng quốc gia mà tôi đang đi.
Bác Tám cũng nắm vững về chủ nghĩa xã hội nên đã làm tôi suy nghĩ khá nhiều mặc dù có những thắc mắc tôi chưa được trả lời thỏa mãn.
Trước đây tôi đã nghĩ Mỹ trước kia cũng bị trị, có lẽ sẽ giúp đỡ Việt Nam cộng hòa phát triển nền độc lập hơn Pháp. Nhưng dần dần tôi nhận thấy Mỹ xen vào nội bộ Việt Nam cộng hòa quá nhiều, tổng thống nào không hợp thì bị đảo chính.
Cố vấn quân sự Mỹ cũng xen nhiều vào việc của các cấp chỉ huy Việt Nam, thậm chí có người có vẻ hách dịch và ỷ lại vào tiền họ viện trợ. Trong khi hành quân, họ sử dụng bừa bãi vũ khí và hỏa lực, coi thường mạng sống của người dân Việt Nam.
Đối với đảng phái và tôn giáo, họ tìm cách chia rẽ. Họ bỏ đôla để mua chuộc, chia rẽ nội bộ Việt Nam cộng hòa (chính sách chia để trị, làm chính trị bằng mua bán).
Không có một ý kiến nào hoặc đường lối nào được tiến hành khi Mỹ không đồng ý. Ai có hành động chính trị gì mà không được Mỹ chấp nhận sẽ bị diệt ngay từ trong trứng.
Tôi thường đọc báo nước ngoài, trong lối hành văn, tôi thấy rõ họ kính nể Chủ tịch Hồ Chí Minh, trái ngược lại họ xem thường các tổng thống miền Nam. Có lúc tôi ngồi tâm sự với ông Dương Văn Minh, ông Minh nói: "Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới kính nể, ông đã làm được nhiều việc cho Việt Nam. Còn ở miền Nam, không ai làm ra trò trống gì cả".
NGUYỄN HỮU HẠNH
Quá trình để tôi xích lại gần với cách mạng đã phải trải qua thời gian thử thách, tranh luận, tìm hiểu, giúp đỡ. Có rất nhiều sự việc, xin kể ra đây một vài việc điển hình:
Năm 1963, ba tôi chết tại Cần Thơ. Tôi đem về chôn tại đất nhà ở ấp Phú Thuận, xã Phú Phong, Châu Thành, Mỹ Tho. Đây là khu giải phóng. Tôi nhờ bác Chín Quá (ông ngoại của Hai Kiểu, nguyên ủy viên thư ký quận I) xin phép với cách mạng để đem ba tôi về chôn cất. Sau này tôi mới biết cách mạng đã đánh giá tôi từ ngày ấy.
Đầu năm 1968, khi tôi làm tư lệnh Biệt khu 44, có người bà con là cậu Mười Huê từ xã Bàng Lọng (xã giải phóng) đến gửi tôi trung úy Xuân, nói là cháu. Trung úy Xuân là đại đội trưởng đại đội địa phương quân từ Ba Xuyên biệt phái cho Biệt khu 44.
Tôi đã nhận giúp đỡ và che chở, xin giữ ở lại Biệt khu 44 mặc dù tôi nghĩ anh Xuân có thể là người của cách mạng cài vào. Sau đó anh Xuân đưa vũ khí vào khu và bị bắt, còn người tải vũ khí đi lọt được.
Lúc anh Xuân bị bắt, tôi làm tư lệnh phó Quân khu 4, tôi đã can thiệp với an ninh quân đội nhưng không được vì có bằng cớ. Tôi nói anh Xuân đã giúp tôi ở Biệt khu 44 có kết quả và đổ lỗi cho người đã đi lọt ra khu. Anh Xuân được trả tự do.
Lúc tôi làm tư lệnh Biệt khu 44, cố vấn Mỹ thường gọi tôi là "Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu" vì khi xáp chiến, tôi cho cầm cự đến tối khi quân cách mạng rút, hôm sau tôi cũng rút quân về.
Tôi đã từ chối không bỏ B-52 vào mật khu trên kinh Tháp Mười, viện lẽ quá đông dân.
Lúc tôi làm tư lệnh phó sư đoàn 21, trong những cuộc hành quân, tôi cho lệnh trực thăng võ trang phải thận trọng, khi nào dưới đất bắn lên mới được bắn lại. Cố vấn Mỹ trong sư đoàn thường phản đối, cho rằng khi nào có tôi là có "thận trọng".
Tôi nói với thiếu tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh sư đoàn (Minh trước kia làm việc dưới quyền và rất kính nể tôi): "Sư đoàn đã sử dụng hỏa lực bừa bãi. Thấy cảnh chết chóc nhiều tôi không chịu nổi, có lẽ tôi sẽ không làm việc lâu với anh".
Khoảng một tuần lễ sau, có lẽ Nguyễn Văn Minh nghi ngờ nên nói: "Tôi không dám nói đại tá là Việt cộng, nhưng vì đại tá đạo đức nên mới nói với tôi như vậy".
Nói chung, những việc làm của tôi không để phạm lỗi, nhưng cũng không "tiêu diệt cách mạng" như người ta muốn. Càng hiểu cách mạng, tôi càng tìm cách giúp đỡ theo khả năng, nhất là theo yêu cầu của bác Tám.
Cuối năm 1968, bác Tám có nói chuyện với tôi về anh Tư Chi (anh Tư Chi khi công tác ở Sài Gòn thường ở nhà anh Ba Tịnh, người Bến Tre, thân nhân thường tới lui khăng khít với tôi). Đến cuối 1970 tôi mới có nhiệm vụ.
Theo yêu cầu của binh vận Trung ương Cục miền Nam do bác Tám chuyển tới, bác Tám yêu cầu tôi đứng vào lực lượng 3 cho cách mạng. Tôi đã chấp nhận.
Có lần bác Tám yêu cầu tôi ra khu, nhưng tôi muốn được ở lại hoạt động công khai. Tôi yêu cầu không liên lạc thẳng với cách mạng mà chỉ qua bác Tám. Bác Tám cũng không bao giờ nói đến tên tôi mà chỉ dùng bí số.
Bác Tám thường vào khu gặp anh Bảy Lương và anh Sáu Rết. Sau có lúc bác Tám bị cảnh sát Định Tường bắt, tôi lập tức gọi điện thoại lãnh ra. Trong công tác, tôi thường tìm cách giúp đỡ hoặc lo cho anh em theo yêu cầu của bác Tám.
Phần lớn, tôi cung cấp những tin tức chiến lược: Khi Phước Long thất thủ, tôi nói không có quân tiếp viện. Buôn Mê Thuột bị bỏ ngỏ, quân Việt Nam cộng hòa không có chuẩn bị, khi thất thủ không có tổ chức nào ở lại hậu phương.
Khi quân giải phóng tiến về miền Nam, tôi cho bác Tám biết quân xung kích cần tiến nhanh, không sợ bị phản công, ở hậu phương khi cần giao lãnh thổ lại cho địa phương quân.
Đối với nội bộ, tôi tìm cách kích động những sĩ quan chống lại chính sách của Thiệu, chống tham nhũng. Về chỗ dựa, tôi đứng trong hàng ngũ của ông Dương Văn Minh. Có lẽ Thiệu nghi ngờ nhưng không bằng cớ nên đã cho tôi giải ngũ năm 1974 với lý do trên 25 năm quân vụ.
Khi quân giải phóng tiến vào Nam, Binh vận Trung ương Cục phái bác Tám gặp tôi bàn về việc ông Dương Văn Minh lên nắm chính quyền. Chừng đó tôi phải tìm cách nắm quân đội, tìm mọi cách thuyết phục ông Minh đầu hàng. Trường hợp không được sẽ phối hợp với quân cách mạng chiếm lấy phần lãnh thổ còn lại (phần kế hoạch này sẽ tính sau).
Tôi có đưa ý kiến với bác Tám: muốn thúc đẩy người ta giao nhanh cho ông Minh, quân cách mạng phải cắt đứt các đường lộ dẫn vào Sài Gòn cỡ cấp sư đoàn. Việc liên lạc của tôi với anh Tư Chi, Bảy Lương, Sáu Rết đều qua bác Tám. Những chỉ thị từ Binh vận Trung ương Cục hoặc của các anh đều do bác Tám chuyển đến.
Khi được làm phụ tá tổng tham mưu trưởng, tôi đã tạo động cơ để thúc đẩy ông Dương Văn Minh đơn phương tuyên bố bàn giao quyền lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, từ đó tôi mới chỉ thị quân đội buông súng được.
Nội dung của chỉ thị yêu cầu các quân đoàn, sư đoàn, địa phương quân, nghĩa quân, lực lượng vũ trang, nhân dân tự vệ hãy triệt để thi hành lệnh của tổng thống. Từng đơn vị trực tiếp liên hệ với lực lượng của Chính phủ cách mạng, đối diện để buông súng và bàn giao lãnh thổ mà mình chịu trách nhiệm, cố gắng tránh đổ máu.
"Tôi rất vui mừng khi làm xong nhiệm vụ mà Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam Việt Nam chỉ đạo. Đóng góp phần nhỏ bé của mình cho công tác binh vận, một trong ba mũi giáp công mà Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, hướng dẫn cho cách mạng Việt Nam chiến thắng, miền Nam và thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn".
NGUYỄN HỮU HẠNH
* Tít và tít phụ do Tuổi Trẻ online đặt.
Bút ký Nguyễn Hữu Hạnh - Kỳ 2: Phải giữ Sài Gòn
TTO - Chính quyền Sài Gòn ngày một suy sụp về chính trị và quân sự. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đề nghị Mỹ viện trợ thêm 300 triệu USD nhưng Mỹ từ chối. Chính quyền và quân đội thấy không còn hậu thuẫn.
Ông Nguyễn Hữu Hạnh trả lời phỏng vấn Hãng tin Reuters và các phóng viên trong ngoài nước - Ảnh: Tư liệu Tuổi Trẻ online
Hoạt động của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ngày càng hiệu quả.
Ngày 6-1-1975, Phước Long thất thủ. Ngày 11-3-1975, Buôn Mê Thuột thất thủ. Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh "di tản chiến thuật" khỏi Pleiku - KonTum và đã phạm sai lầm lớn. Tinh thần sĩ quan, binh sĩ hoang mang tột độ, thất bại đến liên tiếp.
Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết và cuối cùng là Xuân Lộc…
Từ Cần Thơ, tôi thấy đã đến thời cơ của mình…
"Rất tiếc! Đã quá trễ…"
Chiều 27-4-1975, từ Cần Thơ, tôi gọi điện thoại lên Sài Gòn xin gặp ông Dương Văn Minh. Trung tá Đẩu, chánh văn phòng, trả lời máy và yêu cầu tôi sáng 29 hãy lên vì quốc lộ 4 bị cắt đứt đoạn Long An. Nhưng vì nhiệm vụ, sáng hôm sau tôi cấp tốc đi Sài Gòn bằng ngả Mỹ Tho - Gò Công - Sài Gòn.
Tôi cùng người thân đi xe riêng với chiếc vali đựng quần áo và thẻ cấp tướng về hưu. Ở đoạn Cai Lậy - Cái Bè, ngồi trong xe tôi nhìn thấy những lá cờ giải phóng bay phấp phới rất gần. Thỉnh thoảng một loạt pháo bắn dọc hai bên lộ.
Đến Mỹ Tho, tôi rẽ qua Gò Công. Chiếc xe phải lách qua một đoạn đường dài 2km đông nghẹt xe quân sự và dân sự. Mấy lần tôi phải trình thẻ cấp tướng về hưu mới đi lọt.
Trời mưa tầm tã, 18h chiều tôi mới qua được bắc Gò Công, và khi đến Sài Gòn trời đã tối. Sài Gòn ban lệnh giới nghiêm.
Đêm 28-4, chưa vào gặp ông Dương Văn Minh được, tôi đứng trên sân thượng nhìn thành phố Sài Gòn, lòng xúc động. Lần đầu tiên mới thấy cảnh lệnh giới nghiêm không còn hiệu lực.
Ở ngoại ô về phía Củ Chi, những chớp bom, chớp pháo lớn đỏ rực. Phía Tân Sơn Nhứt, máy bay lên xuống dồn dập, tiếng động cơ nhức óc…
Sáng 29-4, tôi đến gặp ông Minh tại nhà riêng (văn phòng chưa dọn về dinh Độc Lập, vẫn còn tại số 3 Trần Quí Cáp (dinh Hoa Lan, nằm trên đường Võ Văn Tần hiện nay - PV)).
Trung tướng Mai Hữu Xuân phụ trách sự vụ nói với tôi: "Đại tướng bận họp. Chuẩn tướng chờ một chút".
Tôi ngồi đợi ở phòng khách, một lát sau mới gặp ông Minh. Chúng tôi đang hỏi thăm sức khỏe nhau thì Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền đến. Câu chuyện xoay quanh vấn đề chiến sự đang tiếp diễn.
Ông Dương Văn Minh là một người kín đáo, trầm lặng nhưng lúc này trên gương mặt lộ rõ vẻ suy nghĩ, lo âu.
Một sĩ quan tùy viên vào trình có J.M.Mérillon, đại sứ Pháp, đến. Tôi lánh sang phòng bên cạnh để ông Minh và ông Huyền tiếp Mérillon.
Tôi nghe Mérillon thông báo Tổng trưởng ngoại giao Pháp đã liên lạc với Hà Nội về vấn đề thương thuyết nhưng Hà Nội trả lời: "Rất tiếc! Đã quá trễ rồi".
Nghe tới đó, thêm những chỉ thị mà tôi đã được nhận từ Binh vận Trung ương Cục miền Nam, tôi thấy mình cần có những hành động khẩn trương kịp thời trước tình thế mới.
Hai ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu tiếp tục trao đổi sau khi Mérillon ra về. Họ quyết định tuyên bố thả tù chính trị và đuổi Mỹ "DAO" (Cơ quan viện trợ quân sự Mỹ - PV) ra khỏi miền Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ.
Thực ra trước sức tấn công như vũ bão của quân giải phóng, Mỹ phải tháo chạy là điều tất nhiên. Hành động trên của ông Minh và Mẫu, theo tôi nghĩ chỉ nhằm vớt vát chút ít hi vọng về một giải pháp chính trị đã quá muộn màng.
Chuẩn tướng không mũ, không giày
Tôi hỏi ông Dương Văn Minh: "Thưa đại tướng, còn tình hình quân sự ra sao?". Ông Minh nói: "Toa (anh - PV) là quân sự, không đi xem mà hỏi gì?".
Là tổng tư lệnh quân đội, nhưng lúc bấy giờ ông Minh cũng không nắm nổi tình hình mà còn phó thác cho trung tướng Đồng Văn Khuyên phụ trách mọi việc ở Bộ tổng tham mưu.
Tôi thấy lúc này cần phải nắm lấy quyền chỉ huy quân đội, và đoán rằng thế nào ông Minh cũng giao việc này cho mình nên nói: "Tôi về hưu rồi, đi coi sao được. Đại tướng có cho quyền thì tôi mới dám đi".
Ngay lúc đó, ông Minh phái tôi đến Bộ tổng tham mưu xem xét tình hình quân sự. Tôi chưa kịp tới Bộ tổng tham mưu thì có tin tướng Đồng Văn Khuyên, tổng tham mưu trưởng và tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Biệt khu thủ đô rời bỏ chức vụ đào tẩu ra nước ngoài.
Tình hình ở Bộ tổng tham mưu rối ren, bế tắc. Ông Minh gọi trung tướng Vĩnh Lộc tới nhà, cử Vĩnh Lộc làm tổng tham mưu trưởng nhưng Lộc từ chối: "Đại tướng giao cho Ngô Quang Trưởng đi. Sớm mai tôi còn thấy hắn ở Bộ tổng tham mưu".
Ông Dương Văn Minh không đồng ý với đề nghị này vì theo ông Quân đoàn 1 vừa bị tan nát ở Huế và Đà Nẵng, Ngô Quang Trưởng mới chạy vào Sài Gòn không thể đảm đương trách nhiệm này.
Ông Minh rời khỏi phòng khách 15 phút, tôi cố thuyết phục mãi Vĩnh Lộc mới chấp nhận và lắc đầu buông một câu chửi thề: "Bây giờ chúng nó chạy như chuột".
Trung tướng Vĩnh Lộc giữ chức tổng tham mưu trưởng nhưng vẫn sắp xếp cho gia đình chuẩn bị di tản.
Tôi thầm nghĩ cái chức vụ này bao năm qua bao nhiêu kẻ giành giật nhau, vậy mà bây giờ không ai muốn nhận nữa. Trong Bộ tổng tham mưu chỉ còn lại một số rất ít tướng lãnh và sĩ quan mà sự lo lắng, mệt mỏi đã hiện rõ trên nét mặt.
Trung tướng Vĩnh Lộc gọi những người còn lại ở Bộ tổng tham mưu đến trình diện và bổ nhiệm một cách vội vã.
Thiếu tướng Lâm Văn Phát giữ chức tư lệnh Biệt khu thủ đô. Chuẩn tướng Nguyễn Văn Chức, trước là cục trưởng Cục công binh, được chỉ định làm tổng cục trưởng Cục tiếp vận. Trung tướng Trần Văn Trung vẫn phụ trách Chiến tranh chính trị.
Ngày 28-4, từ Cần Thơ lên Sài Gòn tôi vẫn mặc thường phục. Tướng Vĩnh Lộc trao cho tôi một bộ quân phục đại úy và cho tôi một cặp sao cấp bậc chuẩn tướng. Chân tôi còn đi giày dân sự và đầu không có mũ để đội.
Đại tá Hồ Ngọc Nhân giữ quyền tham mưu trưởng liên quân, còn tôi Nguyễn Hữu Hạnh, làm phụ tá tổng tham mưu trưởng. Trung tướng Nguyễn Hữu Có đến Bộ tổng tham mưu vào tối 29-4, chưa có nhiệm vụ cụ thể.
Chức nói với tôi dứt khoát không di tản, quyết ở lại chiến đấu đến cùng. Tôi hỏi Chức: "Tình hình nhiên liệu còn đến đâu?". Chức trả lời: "Tôi không nắm chắc lắm nhưng có lẽ cũng chỉ dùng được một tuần lễ nữa".
Vòng vây thít chặt
15h chiều 29-4, tôi được báo cáo tình hình quân sự các hướng:
+ Hướng Củ Chi, sư đoàn 25 của chuẩn tướng Lý Tòng Bá đã thất thủ chiều 28-4 sau khi căn cứ Đồng Dù bị mất.
+ Quân đoàn 3 ở Biên Hòa, trung tướng Nguyễn Văn Toàn cho biết trong ngày 28-4, lúc 18h10, Việt cộng dùng xe tăng đánh chiếm Chi khu Long Thành; 18h50 mất tỉnh lỵ Bà Rịa; 19h30 kho Long Bình bị pháo kích.
Đường 15 bị cắt, Vũng Tàu cũng sẽ mất. Biên Hòa bị bao vây ba mặt. Toàn đề nghị cho rút bộ chỉ huy về căn cứ thiết giáp ở Gò Vấp. Tôi ngầm hiểu viên trung tướng thiết giáp này muốn về gần sân bay, tìm cách tẩu thoát.
Tối 29, liên lạc đến sư đoàn 18, thiếu tướng Lê Minh Đảo hết sức bi quan, nói đang bị bọc hậu và xin rút về bên này sông Đồng Nai cố thủ. Giọng Lê Minh Đảo lạc đi.
Tôi không tin Đảo cố thủ nổi vì mới cách đây hơn một tuần, Đảo tuyên bố cố thủ Xuân Lộc nhưng rồi sư đoàn 18 đã rút chạy.
Còn sư đoàn 22 ở Tân An, chuẩn tướng Phan Đình Niệm đã bỏ trốn. Tham mưu trưởng báo cáo: "Chúng tôi bị áp đảo mạnh hướng chính diện. Một sư đoàn Việt cộng sẵn sàng tấn công. Quốc lộ 4 bị cắt đứt hoàn toàn".
7h sáng 30-4, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân đoàn 4, báo cáo bằng điện thoại: "Tôi bị tấn công mạnh ở ba nơi: Vĩnh Bình, Bạc Liêu và một điểm cách sân bay Trà Nóc 3km".
Hướng Thủ Dầu Một do sư đoàn 5 trấn giữ đã bị quân giải phóng chọc thủng trong đêm 29. Liên lạc bị cắt đứt, Bộ tổng tham mưu không được tin tức gì từ sư đoàn này nữa. Thế là hướng này trống.
Quân giải phóng đã tiến tràn đến Hố Nai. Sư đoàn 18 và lữ đoàn 5 thiết giáp đã lập tuyến phòng thủ bên này sông Đồng Nai.
Riêng Biệt khu thủ đô, ngoài lực lượng phòng thủ, lực lượng xung kích gồm các lữ đoàn dù, sư đoàn biệt động quân và khoảng 20 xe tăng mà trung tướng Vĩnh Lộc vừa chỉ thị cho Bộ chỉ huy thiết giáp tăng cường vào, tuy chưa chạm trán với quân giải phóng nhưng tinh thần vẫn hoang mang.
Tin tức còn cho biết trong đêm 29, nhiều đoàn xe của quân giải phóng phía Hóc Môn đã tiến về hướng Sài Gòn. Tư lệnh Biệt khu thủ đô cho biết đã lập xong kế hoạch phản công…
Tôi nghĩ nếu muốn kéo dài sự phòng thủ của Sài Gòn thì cần chỉ thị sắp xếp quân lại, nhưng không đưa vấn đề này ra bàn với tướng Vĩnh Lộc. Hơn nữa, dựa vào chỉ thị của ông Dương Văn Minh khi chúng tôi mới nhậm chức là không được di chuyển quân, chờ ông thương thuyết.
Tình hình rất hỗn loạn, muốn giữ Sài Gòn được nguyên vẹn nên từ chiều 29-4 tôi đã ra lệnh: "Không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ tổng tham mưu".
Ngoài ra, tôi cho Bộ chỉ huy quân cảnh tung hết các lực lượng quân cảnh để giữ an ninh trật tự cho thành phố, thu hồi và đưa về quân vụ thị trấn súng ống của các quân nhân đi lẻ tẻ ngoài phố…
Ngày 29-4, cả Sài Gòn đã chứng kiến sự rút chạy vội vã của các phái bộ Mỹ và một số sĩ quan Việt Nam cộng hòa hấp tấp di tản. Trực thăng lên xuống ầm ĩ ở sân bay Tân Sơn Nhứt.
Những binh sĩ từ dưới đất bắn súng lên đỏ trời, có lẽ họ tức giận vì những người cầm đầu đã coi họ như vật hi sinh…
Tiếng pháo quân giải phóng bắn vào sân bay làm nhiều đám cháy bùng lên đỏ rực một vùng…

Các chuyên mục 








