Lãnh đạo CSVN chỉ giõi khoác lác, mị dân, kinh tế VN tụt hậu 20 năm so với TQ, trên 50 năm so với láng giềng ĐNÁ
01.01.2020 20:23
Hậu quả định hướng XHCN là cái gì cả dân tộc lẫn đảng viên vẫn không hiểu Không thành nước công nghiệp, Việt Nam còn tụt hậu 20 năm so với Trung Quốc
P.V Thứ Tư, ngày 01/01/2020 08:00 AM (GMT+7)
(Dân Việt) Cùng khoảng thời gian 30 năm, các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc đã “hoá rồng, hoá hổ”, nhưng Việt Nam dù tăng trưởng nhanh, vẫn chỉ là quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Như vậy, mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 đã không thành hiện thực, thậm chí còn tụt hậu so với Trung Quốc 20 năm, Hàn Quốc và Malaysia 30 - 35 năm.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam so với Hàn Quốc, Nhật Bản trong giai đoạn tăng trưởng nhanh.
Còn nhớ, trong kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thừa nhận, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 được đặt ra cách đây nhiều năm đã không đạt được.
Tới cuộc làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư diễn ra đầu năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đưa ra Tầm nhìn Việt Nam năm 2030 sẽ là hướng tới một xã hội khá giả, thịnh vượng, GDP bình quân đầu người đạt ít nhất 18.000 USD. Về Tầm nhìn 2045, năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam phải trở thành một quốc gia phồn vinh, thịnh vượng, hạnh phúc, gia nhập nhóm nước có thu nhập cao.
Song nếu muốn “hoá rồng, hoá hổ”, bản thân nền kinh tế Việt Nam vừa phải tăng trưởng nhanh, bền vững và quan trọng hơn, phải tự thay đổi chính mình thông qua nâng cao trình độ lao động, phát triển ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo.
Kinh tế Việt Nam đang ở đâu trong dòng chảy kinh tế thế giới?
Năm 2019 tiếp tục ghi nhận nỗ lực của Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương. Trong bối cảnh kinh tế thế giới thể hiện xu hướng tăng trưởng chậm lại, tình hình kinh tế - xã hội trong nước vẫn tiếp tục chuyển biến tích cực, thuận lợi hơn, thể hiện qua việc đạt và vượt 12/12 chỉ tiêu được Quốc hội giao. Trong đó, nhiều chỉ tiêu cán đích sớm giúp Việt Nam tiếp tục là một trong những nước có mức tăng trưởng cao nhất thế giới.
Tuy nhiên, vẫn còn đó những tồn tại đòi hỏi Chính phủ và các địa phương sớm cần khắc phục. Đặc biệt, Việt Nam vẫn chưa thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình, còn nỗi lo tụt hậu so với thế giới đang dần hiện hữu.
ĐBQH Hoàng Quang Hàm.
Đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam bình quân 7%/năm trong hơn 20 năm là nhanh, giai đoạn này thấp hơn 7% nhưng vẫn ở mức cao so với khu vực và thế giới. Song theo ĐBQH Hoàng Quang Hàm, nếu tính toán dựa trên con số tuyệt đối, GDP bình quân đầu người của thế giới đang ngày càng bỏ xa Việt Nam.
ĐBQH Hoàng Quang Hàm đưa ra so sánh: “Cách đây hơn 30 năm, khi bắt đầu đổi mới, Việt Nam có GDP bình quân đầu người 100 USD thì thế giới bình quân là hơn 4.000 USD. Năm 2017, GDP bình quân đầu người Việt Nam khoảng 2.385 USD thì thế giới khoảng 10.700 USD. Năm 2018, GDP bình quân đầu người Việt Nam khoảng 2.590 USD thì thế giới khoảng 11.000 USD”.
GS. TS Trần Thọ Đạt, thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng.
Nhìn nhận một cách khách quan, đánh giá của ông Hoàng Quang Hàm dù có phần vĩ mô, song vẫn là một cảnh báo đầy trăn trở và nghiêm túc. Nó khá tương đồng với những ý kiến của GS. TS Trần Thọ Đạt, thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng.
"Việt Nam đang là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong khu vực, trong bối cảnh hiện nay thành tựu của Việt Nam không ai có thể phủ nhận, nhưng so với khát vọng của người Việt Nam thì vẫn còn có dư địa tăng trưởng cao hơn. Hiện nay Việt Nam mới tăng trưởng trung bình khoảng 6,8%, nếu muốn tăng trưởng từ 7 - 8% trong những năm tới thì cá nhân tôi nhận thấy dư địa còn rất nhiều. Vì chúng ta chưa bao giờ có giai đoạn tăng trưởng cao 7 – 8% trong nhiều năm, trong khi đó nhiều nước đã đạt được mức này", GS. TS Trần Thọ Đạt nhìn nhận.
“Mục tiêu Việt Nam đến năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao, đến 2045 trở thành nước có thu nhập cao nên phải có sự so sánh. Nghiên cứu của chúng tôi so sánh chủ yếu với 3 nước. Thứ nhất, với Hàn Quốc, đây là một trong những nước có sự thay đổi thần kỳ về kinh tế trong 40 năm qua. Thứ hai, mô hình phát triển hài hòa của Malaysia. Thứ ba, sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế Trung Quốc. Nhìn chung, so sánh giữa hai nước Hàn Quốc và Malaysia, Việt Nam đang tụt hậu khoảng 30 – 35 năm, với Trung Quốc chúng ta tụt hậu khoảng 20 năm”, GS. TS Trần Thọ Đạt cho biết.
Trong khi đó, một nghiên cứu của GS.TS Ngô Thắng Lợi, Trưởng Bộ môn Kinh tế Phát triển (Trường ĐH Kinh tế Quốc dân) cũng đưa ra những số liệu cụ thể, chứng minh kết quả tăng trưởng của Việt Nam từ sau Đổi mới tới nay thấp hơn nhiều so với các nước khác trong cùng thời kỳ có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh.
Nếu xét trong 30 năm, từ 1991 đến 2020, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của Việt Nam đạt 7,14%. Con số này thua xa Hàn Quốc, trong giai đoạn từ 1961 - 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 8%/năm. Còn Nhật Bản trong giai đoạn từ 1955 - 1973, ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 9,4%/năm.
Bên cạnh đó, cấu trúc tăng trưởng của Việt Nam cũng thể hiện tính lạc hậu công nghệ khi dóng góp của Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) chỉ chiếm 26,1% trong giai đoạn 2011 – 2018. Tỷ lệ này ở các nước đang phát triển mức trung bình đạt được là gần 40%.
Làm gì để kinh tế Việt Nam “hoá rồng, hoá hổ”?
Nhìn lại những thành tựu đạt được sau hơn 30 năm Đổi mới, Việt Nam đi được nhiều bước, có lúc tốc độ tăng trưởng cao vào nhóm đầu của khu vực và thế giới. Song thực tế đó là những bước ngắn nên vẫn tồn tại khoảng cách khá xa giữa kinh tế Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới, dù bước chậm nhưng đi được những bước dài hơn.
Hơn 30 năm cũng là khoảng thời gian để nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, "hóa rồng, hóa hổ", còn kinh tế Việt Nam dù tăng trưởng nhanh nhưng mới chỉ được xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp.
Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam thể hiện xu hướng chậm lại.
Vấn đề này đã được Đảng chỉ ra trong các văn kiện từ nhiều năm trước nhưng tới nay vẫn là nguy cơ thường trực, khó khắc phục, cần có đột phá để thay đổi.
Thêm vào đó, trong điều kiện thế giới và khu vực nhiều biến động khó lường, chủ nghĩa bảo hộ đang có xu hướng quay lại trong quan hệ đa phương, song phương. Còn các quốc gia đều tính toán kỹ để đảm bảo lợi ích của quốc gia mình. Vậy nên, mục tiêu tận dụng sự chia sẻ công nghệ cốt lõi, thành tựu khoa học vượt trội của các nước để đi tắt, đột phá, vươn nhanh của Việt Nam dự kiến sẽ đối mặt với khó khăn. Việc bứt phá về tăng trưởng, bứt phá về gia công lắp ráp vì vậy cũng sẽ gặp nhiều trở ngại.
ĐBQH Hoàng Quang Hàm đã chỉ ra 3 vấn đề cốt lõi cần dành nguồn lực thực hiện để đạt được mục tiêu tăng trưởng theo chiều sâu. Đó là trình độ lao động, phát triển ứng dụng khoa học, công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo.
“Chỉ có nâng cao trình độ lao động và đẩy mạnh ứng dụng khoa học mới có thể tăng trưởng theo chiều sâu. Nhưng để làm được, cần đổi mới mạnh mẽ, gắn giáo dục đào tạo với yêu cầu của thực tiễn, nhu cầu của doanh nghiệp. Có giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chỉ có đổi mới sáng tạo mới tạo ra giá trị gia tăng đột phá và có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu", ĐBQH Hoàng Quang Hàm phân tích.
Theo đại biểu Hàm, muốn vậy cần phải có kênh nguồn vốn chính sách cho khởi nghiệp sáng tạo và phải chấp nhận rủi ro. Vì theo thống kê, chỉ có khoảng 6% ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo thành công, còn 94% là thất bại. Nếu thành công thì mang lại lợi ích và giá trị gia tăng rất lớn.
"Ba vấn đề không mới đã được minh chứng ở nhiều quốc gia, quan trọng là triển khai thực hiện. Tụt hậu về kinh tế, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình là do chưa đột phá thành công các vấn đề cốt lõi của tăng trưởng theo chiều sâu và là căn nguyên dẫn đến chúng ta tăng trưởng nhanh nhưng chưa hóa rồng, hóa hổ”, ông Hàm cho biết.
Ngoài ra, ĐBQH Hoàng Quang Hàm đề xuất, khi thực lực của nền kinh tế tăng nhanh nhưng chưa cùng với tốc độ tăng trưởng. Cần có chỉ tiêu cụ thể về đời sống của nhân dân.
Ông Hàm nói: “Hiện nay, độ mở của nền kinh tế rất lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu khoảng 200% GDP. Xuất siêu nhiều năm nhưng người hưởng lợi đa số là doanh nghiệp FDI vì các doanh nghiệp này chiếm khoảng 70% giá trị xuất khẩu, phần hưởng lợi đó được tính trong tổng GDP của Việt Nam nên cần phải loại trừ yếu tố này mới nhìn nhận phù hợp thực lực của nền kinh tế và thu nhập của người dân.
Đây không phải là bất cập, đất nước đi lên từ gian khó, chúng ta phải huy động mọi nguồn lực để phát triển, việc thu hút FDI một cách chọn lọc và cần thiết. Tuy nhiên, cần bổ sung thêm chỉ tiêu đánh giá để nhìn nhận sát đúng hơn tình hình và có giải pháp phù hợp. Vì vậy, ngoài việc giao chỉ tiêu GDP tổng sản phẩm nội địa như trước đây, Quốc hội cần giao thêm chỉ tiêu thu nhập quốc dân (GNI) để phản ánh nội lực thực sự của nền kinh tế và thu nhập của người dân”.
PGS. TS Hoàng Văn Cường, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
PGS. TS Hoàng Văn Cường, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, nhận định kết quả tăng trưởng trong thời gian vừa qua vẫn chủ yếu dựa vào sự cố gắng, nỗ lực khai thác những tiềm năng sẵn có. Trong khi đó, nếu muốn có sự đột phá về kinh tế, phải tạo ra được những bước nhảy vọt về đổi mới công nghệ, đột phá về sáng tạo trong khoa học công nghệ.
"Mức tăng trưởng GDP từ 6,8 - 7% cho năm 2020 hoàn toàn có thể đạt được. Kết quả này sẽ giúp Việt Nam hoàn thành kế hoạch 2016 - 2020, nhưng nếu chỉ duy trì mức tăng tưởng này thì chúng ta chỉ ổn định ở ngưỡng nước có thu nhập trung bình. Việc này dẫn đến khoảng cách giữa Việt Nam với các nước khác lại khó được rút ngắn. Do đó, ngay từ năm 2020 phải đưa ra được một kịch bản tăng trưởng cao và vượt trội hơn giai đoạn chúng ta đã duy trì thời gian vừa qua", PGS. TS Hoàng Văn Cường nhận định.
“Thực tế Việt Nam lại đang nằm trong khu vực sản xuất có giá trị thấp, nếu muốn chuyển lên khu vực có giá trị cao thì không còn cách nào khác là phải tự đổi mới. Việc đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp, mà việc này cần được khuyến khích ngay trong khu vực quản lý công. Tức là bản thân những nhà quản lý phải tìm ra phương thức quản lý mới, gạt bỏ các quy chuẩn, quy trình không còn phù hợp”, PGS. TS Hoàng Văn Cường nhìn nhận.
Trong thời gian tới, nếu muốn kinh tế Việt Nam có được vị thế trên trường quốc tế, phải dựa vào doanh nghiệp tư nhân để tạo ra thương hiệu quốc gia.
“Muốn có những doanh nghiệp tư nhân đủ lớn trên thương trường, điều cần lúc này là cần có những giải pháp nhằm giúp khu vực tư nhân có điều kiện bứt phá. Hiện nay chúng ta đang đặt ra vấn đề cải cách khu vực kinh tế nhà nước, vậy cần phải làm sao để có thể chuyển những lĩnh vực nhà nước đang chiếm lĩnh sang cho khu vực tư để hình thành lên những tập đoàn lớn của khu vực tư nhân trong lĩnh vực đó. Nếu việc này được tiến hành có lộ trình, không những sẽ khơi dậy được các nguồn lực phát triển cho những khu vực hiện có, mà còn tạo ra những tập đoàn lớn mang thương hiệu quốc gia là các tập đoàn tư nhân”, ông Hoàng Văn Cường cho biết.
Hậu quả của đảng lãnh đạo điên khùng áp dụng XHCN để tự diệt dân tộc: Giật mình với thu nhập của người Việt Nam so với khu vực
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.
Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.
Một góc vùng quê Bạc Liêu
Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.
Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện. Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện năm 2010.
Theo đó, tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010. Trong khi đó, GDP đầu người của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD trong khoảng thời gian trên.
Như vậy, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 27% năm 2010.
Mặt khác, tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 706 USD năm 1991 và lên tới 2.948 USD năm 2010. Trong khoảng thời gian đó, con số này của Trung Quốc tăng từ 888 USD lên 6.786 USD.
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 43% năm 2010.
Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.
Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20 năm.
Tóm lại, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 đạt 1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái, và 2.948 USD theo PPP.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”. Ông nhận xét, sau hơn một phần tư thế kỷ đổi mới và mở của, Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.
Tuy nhiên, theo ông Chương, xét về nhiều mặt, động thái tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong khi đó, trong một vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.
Báo cáo của ĐH Kinh tế Quốc dân chỉ ra thêm về thực trạng thất nghiệp ở mức 4,6% ở thành thị và 20% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng; báo cáo nhận xét: “Như vậy, tỷ lệ trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn ở Việt Nam”.
Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.
Báo cáo này căn cứ vào tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính theo giá cố định trong giai đoạn 2001 – 2007 của các quốc gia và kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn
VN: Thông điệp năm mới 2020 - 'đột phá' thể chế
PGS. TS. Phạm Quý ThọHọc viện Chính sách & Phát triển
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionThủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đánh dấu sự kiện nắm giữ ghế Chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2020 trong lễ bế mạc Hội nghị cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á lần thứ 35 tại Bangkok hôm 04/11/2019
Nếu thông điệp cải cách là cần thiết cho năm mới 2020 thì 'đột phá thể chế' sẽ là một lựa chọn.
Sự lựa chọn này được khởi phát từ nhận định rằng kết quả tăng trưởng GDP cao hiện nay nhờ rút kinh nghiệm từ nhiệm kỳ 'bất ổn' kinh tế vĩ mô và cải cách thể chế chuyển 'dư địa' thành nguồn lực tăng trưởng chủ yếu.
Hơn thế, tình trạng kinh tế 'tụt hậu' hiện nay của đất nước là do thể chế gắn với ý thức hệ giáo điều đã không thích nghi với thay đổi kinh tế theo hướng thị trường, bởi vậy những thách thức do 'nghẽn thể chế' chỉ có thể được giải toả bởi tư duy và các chính sách đột phá.
Thông điệp cho năm mới 2020 có ý nghĩa thiết thực trước thềm Đại hội 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam dự kiến tổ chức vào đầu năm 2021 khi nó thể hiện sự quyết tâm chính trị về đổi mới vì sự thịnh vượng bền vững của đất nước.
Thể chế là dư địa tăng trưởng
Việt Nam liên tiếp tăng trưởng cao từ đầu nhiệm kỳ 12, hai năm gần đây đạt tỷ lệ tăng GDP hơn 7%, năm 2018 là 7,08 và năm 2019 đạt 7,02%. Cơ quan Thống kê nhà nước cho rằng đồng thời với mức tăng cao như trên, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đang được cải thiện qua phân tích các chỉ tiêu năng suất, các nhân tố tổng hợp, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, chuyển dịch cơ cấu ngành, trong đó động lực tăng trưởng chính là ngành công nghiệp chế biến chế tạo…
Bỏ qua sự khả tín của số liệu, bởi nhiều chỉ tiêu, trong đó có GDP, thường được sử dụng trong kinh tế tư bản chủ nghĩa coi thị trường là phương thức phát triển. Những chỉ tiêu đo lường sức khoẻ của nền kinh tế chủ yếu, ngoài GDP, còn có số việc làm được tạo thêm, tỷ lệ thất nghiệp giảm, các chỉ báo của thị trường chứng khoán…
Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường, lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên một số chỉ tiêu quan trọng được tính toán và áp dụng mang tính pháp lệnh trong việc lập và kế hoạch và thực thi bởi chính phủ với bộ máy chỉ đạo, điều hành tập trung. Đặc điểm này tạo ra những khác biệt, nguyên nhân của tranh luận về sự chính xác của số liệu.
Thí dụ, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam năm 2019 chỉ là 2,25%, được coi là rất thấp trong một nền kinh tế kém phát triển với cung lao động lớn và nhu cầu việc làm cao, thấp hơn nhiều ở phần lớn các nước phát triển, bởi thế nó hoặc phản ánh năng suất lao động thấp hoặc do cách tính toán chứ không phải để so sánh. Ngoài ra, cũng trong năm 2019 các chỉ số chứng khoán VN-index và HN-index đi ngang và giảm, chỉ số tín nhiệm quốc gia bị Moody's hạ bậc… đang phản ánh mặt yếu kém của thị trường, nhưng đã không được phản ánh vào chất lượng tăng trưởng.
Tuy nhiên, việc hoàn thành và vượt mức 12 chỉ tiêu pháp lệnh cũng là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh ảm đạm và khó khăn của kinh tế thế giới. Hơn thế, mức tăng trưởng cao GDP sau nhiệm kỳ 'bất ổn' lại càng có ý nghĩa, nhất là về mặt chính trị với niềm tin dân chúng và tính chính danh của đảng cầm quyền.
Như đã biết, chính sách tăng trưởng nóng vội, sai lầm dựa vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và quản lý yếu kém của nhà nước trong nhiệm kỳ trước khiến cho tỷ lệ tăng trưởng giảm sút, bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng thể chế, đã và đang để lại hậu quả nặng nề, đặc biệt là chất lượng tăng trưởng.
Trong bối cảnh đó Chính phủ kiến tạo nổi lên như sự đổi mới về điều hành kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng mà vẫn duy trì hệ thống chính trị, đặc biệt là bộ máy hành chính hiện hành. Hai nhóm giải pháp chính sách nổi bật trong cách thức điều hành của Chính phủ là khuyến khích tự do kinh doanh, thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, tạo môi trường đầu tư… đồng thời với hoàn thiện thể chế, pháp luật, hành chính, loại bỏ các rào cản từ thực thi công vụ… đã tạo được động lực cho tăng trưởng.
Đây chính là bài học kinh nghiệm được rút ra từ thời kỳ 'bất ổn'. 'Chính phủ kiến tạo' xuất hiện như một sự thay đổi phương thức điều hành tạo môi trường đầu tư, kinh doanh đã giải phóng các nguồn lực xã hội cho mục tiêu kinh tế.
Đột phá thoát 'tụt hậu'
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionMột gia đình đi sắm đồ trang trí Giáng sinh từ một người bán hàng trên phố Hàng Mã, Hà Nội, hôm 21/12/2019 (Hình minh họa)
Mặc dù có mức tăng trưởng cao như phân tích ở trên, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn tụt hậu so với thế giới. GDP trung bình trên đầu người hiện nay ở mức trên 2500 đô la Mỹ chỉ bằng một phần tư so với mức trung bình của thế giới.
Chính phủ kiến tạo được cho là 'cứu cánh' cho tăng trưởng sau khi đã suy giảm trong giai đoạn trước, nhưng liệu có thể trở thành mô hình chính phủ điều hành kinh tế hướng đến phát triển bền vững, thoát khỏi tình trạng kinh tế 'tụt hậu' tuỳ thuộc rất nhiều vào cải cách thể chế.
Các lãnh đạo Chính phủ kiến tạo đã nhìn nhận cải cách thể chế là 'dư địa lớn' để tăng trưởng. Tuy nhiên, các giải pháp trong nghị quyết 01 của Chính phủ trong các năm trước, tuy cụ thể nhưng vẫn dàn trải, chưa làm thay đổi tình trạng 'trên nóng dưới lạnh' và nhiều điểm nghẽn khác của thể chế. Chất lượng của thể chế chỉ có thể thay đổi bằng các chính sách đột phá.
'Thành tích' kinh tế năm 2019 đang tạo ra không khí 'phấn khởi' trong các hội nghị tổng kết của chính phủ và các bộ, ngành. Trên hầu hết các báo chí và truyền thông của nhà nước trích đăng câu nói của đại diện Ngân hàng thế giới 'Mây đen phủ lên toàn cầu nhưng mặt trời đang toả sáng ở Việt Nam' làm hình ảnh để mô tả sự phấn khích này… Các lãnh đạo dường như đang nắm trong tay 'phép màu' tăng trưởng kinh tế!
Chợt nhớ hình ảnh tương phản về cố Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hy qua câu chuyện được kể lại, rằng trong giai đoạn từ 1965 cho đến khi bị ám sát năm 1979, ông đã tham dự gần như mọi cuộc họp hàng tháng của ủy ban xúc tiến xuất khẩu nước này và tập hợp các doanh nhân trong các bữa ăn trưa. Năm 1964 xuất khẩu của Hàn Quốc vượt mức 100 triệu đô la, ông đã khóc khi công bố ngày lễ quốc gia được gọi là "Ngày xuất khẩu".
Kinh tế Hàn Quốc đã tăng trưởng hai con số nhờ mô hình dựa vào xuất khẩu trong thời kỳ dài, từ đầu những năm 1960 cho đến những năm 1990 và GDP bình quân đầu người dưới 10.000 USD trước năm 1970 tăng lên gần 60.000 USD năm 2017. Nguồn gốc dẫn tới thành công của Hàn Quốc và 'các con hổ châu Á' khác như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hong Kong được cho là sự kết hợp sự chỉ đạo năng động của mô hình 'nhà nước chuyên quyền duy lý' và vai trò của thị trường cạnh tranh. Hơn thế, mô hình này đã chuyển đổi thành các chế độ dân chủ như hiện nay.
Các quốc gia nêu trên với nhiều doanh nghiệp đang là những nhà đầu tư lớn ở nước ta. Họ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm thành công trong quá khứ cho Việt Nam, nhưng thật khó để có lời khuyên rằng đảng cộng sản nên lãnh đạo kinh tế thị trường thế nào? 'Chính phủ kiến tạo' liệu có thể điều hành để tăng trưởng kinh tế nhanh và dài hạn trong điều kiện hệ thống chính trị hiện hành với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa? Đó là câu hỏi lớn cho cải cách đột phá thể chế.
Cần thiết và là cơ hội
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionQuốc phòng là một lĩnh vực cần được quan tâm, bên cạnh nhiều ưu tiến chính sách khác, theo tác giả
Đột phá thể chế là cần thiết trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung leo thang thành đối đầu chế độ xã hội và ý thức hệ khi Mỹ đặt vấn đề về dân chủ ở Hong Kong và nhân quyền ở Tân Cương Trung Quốc… Liệu đây có là cơ hội thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc khi quan hệ kinh tế dựa trên sự tương đồng chế độ chính trị đã không mang lại hiệu quả, mà ngược lại.
Các nhà máy điện than với công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm nghiêm trọng, dự án đường sắt trên cao kéo dài thời gian hoàn thành nhiều năm tạo bẫy nợ… là những hình ảnh tiêu cực, phản cảm trong công chúng. Những dự án đầu tư kém hiệu quả, thâm hụt thương mại… là cái giá rất đắt phải trả. Ngoài ra, sự kiện 'Bãi Tư chính' cũng như chính sách quân sự hoá nhiều hòn đảo ở Biển Đông, xâm phạm chủ quyền lãnh hải nước ta đang thách thức an ninh và quan hệ đa phương.
Đột phá thể chế thúc đẩy sự linh hoạt về ý thức hệ tạo ra sự chuyển biến từ kiến trúc thượng tầng của chế độ chính trị. Chiến dịch chống tham nhũng vẫn được tăng cường với việc xét xử các đại án, như AVG, các lãnh đạo cấp cao cố ý vi phạm các quy định hay lợi dụng chức quyền gây thiệt hại cho nhà nước…;
Sửa sai tư pháp trong các vụ án như Hồ Duy Hải; Thay đổi cách giải quyết các xung đột sở hữu đất đai như vụ Đồng Tâm, Thủ Thiêm… bằng cách duy trì đối thoại và một số sự kiện khác hướng đến các giá trị tích cực của chế độ dân chủ. Liệu đây có là những điểm sáng trong quá trình cải cách thể chế?
Đột phá thể chế trong năm 2020 tuỳ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi nhân sự lãnh đạo qua đại hội đảng các cấp, kể cả việc chuẩn bị chuyển giao vị trí tứ trụ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đại hội 13. Đây là công việc nội bộ của Đảng, nhưng với cơ chế Đảng toàn trị chắc chắn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội của đất nước.
Cuối năm 2018, khi tham dự Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương triển khai nhiệm vụ năm 2019 Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh rằng tăng trưởng "… là thử thách! … Nếu sang năm GDP tụt xuống là các đồng chí phải chịu trách nhiệm, chí ít phải bằng, còn không thì phải hơn năm nay. Nếu không đạt, gần sát Đại hội có khi người ta không bầu nữa đâu...".
'Đột phá' thể chế rõ ràng là công việc vô cùng thách thức, nhưng chẳng lẽ một dân tộc với gần một trăm triệu dân cần cù và thông minh, có truyền thống hào hùng có khát khao thịnh vượng và dân chủ lại cam chịu mãi tụt hậu!
Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách & Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Nhìn Lại Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
Tác Giả: trong một bài viết ngắn, không thể dẫn chứng nhiều nguồn nghiên cứu khoa học để chứng minh những hậu quả nghiêm trọng do kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gây ra. Nhưng những hình ảnh hiện hữu trong đất nước hiện nay đã hiển lộ tất cả mầm mống độc hại tiềm ẩn trong nền kinh tế này, không cần phải là nhà nghiên cứu kinh tế lão luyện, chỉ cần có bộ óc nhạy bén là nhận thấy được nền kinh tế quái dị không giống ai này.
* * *
Kinh tế ảnh hưởng không ít trên đời sống chính trị và kinh tế thị trường, kinh tế tự do của tư bản chủ nghĩa đã đánh bại, đã vượt qua kinh tế chỉ huy của cộng sản chủ nghĩa, bằng chứng là sau sự sụp đổ dây chuyền của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cùng cái nôi, thành trì xã hội chủ nghĩa Liên Bang Sô Viết, khiến Trung Hoa Cộng Sản, Việt Nam Cộng Sản bắt buộc phải “đổi mới” kinh tế để bảo vệ quyền lực chính trị, bảo vệ chế độ độc tài đảng trị của họ. Thật ra, đổi mới kinh tế được đặt cho cái tên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đánh tráo khái niệm, là dối trá bởi cái được gọi đổi mới kinh tế chỉ là sự trở lại cách làm ăn buôn bán thuận lẽ tự nhiện của xã hội loài người. Nó không là đổi mới mà trở về cái cũ, cái đã có từ trước khi bị kinh tế chỉ huy của các tín đồ Cộng Sản cuồng tín áp đặt lên đời sống kinh tế của loài người.
Ngày nay sau hơn hai mươi năm áp dụng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khoảng thời gian chưa đủ dài để có kết luận là hữu hiệu hay bất khiển dụng cho ý tưởng kinh tế, mô hình kinh tế hiện hành này. Dù chưa, nhưng với thời gian nhiều chục năm vận hành kinh tế cũng đủ để lộ ra những yếu kém, bệnh tật tiềm ẩn trong chính cơ thể kinh tế đó. Thế cho nên để có nhận xét chính xác, khách quan cần quan sát, phân tích, ghi nhận cái được, cái chưa được cũng như kết quả khả quan và gây hậu quả nghiêm trọng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của cộng sản Việt Nam.
Theo nhận xét khách quan sau hơn hai mươi năm “đổi mới”, Việt Nam đã mở mang cầu cống, đường xá rộng thoáng hơn hẳn ước mơ của Tố Hữu, đảng viên cao cấp của cộng sản ở thế kỷ trước là “đường ta đi rộng thênh thang tám thước”, với nhiều cao ốc,khách sạn nhà hàng sang trọng, mọc “nghênh ngang” trong nhiều tỉnh thành khắp cả nước, cùng những khu nghỉ dưỡng cao cấp trên cao nguyên với sân cù hiện đại hoặc dọc theo các bãi biển đạt tiêu chuẩn quốc tế và nhiều khu công nghiệp sản xuất chế biến, nuôi trồng thủy, hải sản “ hoành tráng” nằm dọc bờ biển, sông, suối... trên núi cao dưới đồng bằng khắp ba miền đất nước.
Tuy thế, bên cạnh thành quả vừa kể là hậu quả nghiêm trọng di hại lâu dài cho kinh tế nước nhà do đám tham quan ngu tối của đảng cộng sản Việt Nam. Bởi tham lam ngu tối làm sao chúng biết được công trình đầu tư nào giúp tạo bền vững cho kinh tế của nhà đầu tư thật lòng, công trình nào là chụp giựt gây tật bệnh cho kinh tế của đám tài phiệt, gian thương quốc tế. Ngoài ra, phần nhiều lợi nhuận thu được không được tái đầu tư, phục vụ công ích, phục vụ an sinh nhằm giữ mức chênh lệch giàu nghèo không quá xa, bất công không quá lớn nhằm ổn định xã hội, mà phần nhiều lợi nhuận chạy vào túi đám tham quan, tài phiệt và gian thương nước ngoài.
Thế mà các quan ta cứ hiu hiu tự đắc với thành quả kinh tế như kẻ điếc không sợ súng. Có mấy ai biết “sân sau”của các cao ốc, khách sạn nhà hàng sang trọng là hàng vạn vạn “ túp lều” của các thành phố Huế, Saigòn, Hà Nội một thời vang bóng... hở trước trống sau trong các con hẻm, ngõ ngách nồng nặc mùi cống rãnh quyện lẫn với phân người và những con người thiếu đói, suy dinh dưỡng sống nơi đó phải chạy ăn từng bửa từng ngày mà tương lai là ngỏ cụt, là bóng tối phủ trùm. Có mấy ai chạnh lòng nghĩ đến “bên cạnh” những khu nghĩ dưỡng cao cấp trên thảo nguyên xanh ngát, dưới bãi biển đẹp tuyệt vời của quê hương mình là nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời bị cưỡng bức, chiếm đoạt bờ xôi ruộng mật đã bao đời gắn bó, họ bị cướp đi phương tiện sinh nhai, họ bị đẩy gần hơn đến bờ vực đói nghèo.
Cũng như bên cạnh cảnh “phồn vinh giả tạo” đó, có mấy ai quan tâm “bên trong” các cụm công nghiệp là đời sống bấp bênh của công nhân trên khắp cả nước, họ bị đối xử tệ bạc, làm việc trong môi trường khắc nghiệt, họ bị bóc lột, bị lường công bị cướp đi sức thặng dư lao động trong hảng xưởng, không được luật pháp bảo vệ, không được quyền bảo vệ quyền lợi chính đáng của chính mình. Họ sống lây lất trong các căn nhà trọ tồi tàn, chật chội hầm hập hơi người với mức lương chỉ nuôi sống người công nhân dè xẻn, tằn tiện chứ không nuôi nổi gia đình, trước mắt là bóng tối, là tương lai bất định.
Đó chỉ là hậu quả tức thời của nó gây ra cho những lớp người kế cận. Riêng “quái thai” kinh tế thị trường định hướng XHCN còn gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế lớn hơn nhiều do lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo nào là tập đoàn đóng tàu Vinashin, dầu khí VN Petrolimex, điện lực EVN, than khoáng sản TKV... cùng hàng ngàn công ty con hàng vạn công ty thuộc con cháu, tay chân của giai cấp “quý tộc” cộng sản, chúng thi nhau khuynh đảo kinh tế, rút ruột công quỹ, ăn cắp của công, dùng tiền nhà nước đầu tư bừa bãi kiểu đánh bạc như chứng khoán, bất động sản... mà hậu quả tệ hại dần lộ ra khá rõ.
Hậu quả điển hình là ước mơ “nhà ở” đối với công nhân lương thấp hay lương trung bình khá của người dân Việt Nam, là một ảo tưởng, là ước mơ không bao giờ thành hiện thực do các ông tiêu bạc giả nhưng nợ nước ngoài thì thật này. Trong khi đó những cao ốc có căn hộ trung, cao cấp thi nhau xây dựng chỉ đáp ứng nhu cầu nhà ở rất nhỏ cho lớp “nhà giàu” mới nổi, đa phần còn lại phục vụ cho các nhà đầu tư lẫn đầu cơ “bí ẩn”mà nguồn vốn rót vào, đủ thứ tiền nào là tiền đen, tiền trắng, tiền “trên trời rơi xuống” của các tập đoàn quốc doanh, đổ vào vô tội vạ, khuấy động tạo giá ảo chóng mặt cho thị trường bất động sản gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho nền kinh tế vốn hoang dã càng hoang dã hơn.
Hiện nay mầm bệnh bất động sản bắt đầu lộ ra biến chứng, thị trường đóng băng, vốn nóng, vốn không tạo nên do công sức trí tuệ, vốn không rõ nguồn gốc của nhóm đầu cơ “bí ẩn”, không còn bao biện nổi cho sức sống thực của thị trường. Giá trị “ảo” của đất đai vượt xa khu vực, ảnh hưởng đến “mái nhà đơn sơ”của đa phần dân chúng Việt Nam cũng như ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng hảng xưởng kinh doanh sản xuất và nhất là không còn là thế mạnh thu hút đầu tư nước ngoài bởi cơ sở hạ tầng yếu kém, năng lực công nhân thấp từ tay nghề đến thể hình, sức vóc. Hậu quả nghiêm trọng này không phải sau một đêm thức giấc là xảy ra, nó đã nứt mầm chẻ đất vươn lên kể từ lúc các anh lãnh đạo gốc “nông dân” treo khẩu hiệu “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” quen chỉ huy bằng nòng súng đi làm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghiã.
Thế cho nên sau hơn hai mươi năm treo khẩu hiệu “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” khắp cả nước từ thành thị đến thôn quê nhưng Việt Nam vẫn còn xuất khẩu lao động, đi làm công, đi ở đợ cho các nước ngoài, trong số đó có các nước mà dân họ không hẳn hơn dân mình tính cần cù, tháo vát lẫn thông minh và trong nước thì không sản xuất được hàng hoá, nguyên vật liệu phụ trợ đủ chất lượng để phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Điển hình như phẩm chất chai thuỷ tinh không đồng nhất nên một doanh nhân sản xuất rượu Sake truyền thống của Nhật phải nhập phụ trợ “chai lọ” từ các nước Đông Nam Á và cũng không làm ra được đinh ốc, vít đúng tiêu chuẩn phục vụ cho ngành điện tử, ngành xuất khẩu có tiềm năng cao bên cạnh giày da may mặc, nuôi trồng nông, thủy, hải sản. Ba ngành chủ lực gồm điện tử, giày da may mặc, nuôi trồng nông, thủy,hải sản được tuyên truyền rầm rộ, nào là kinh tế mũi nhọn, kinh tế chiến lược cùng với những câu chữ, tiếng nói tung hê rất kinh hồn trên các phương tiện truyền thông nhà nước, cả thế giới đều nghe thấy.
Vậy mà trong bản kết luận của viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) của CSVN đã viết: “Ba ngành chủ lực này như những quả trứng mong manh dễ vỡ...” một là ngành điện tử xuất khẩu 100% vốn FDI, có 82% nguyên vật liệu phải nhập khẩu; hai là nuôi trồng nông, thuỷ, hải sản, phải tiêu tốn rất nhiều cho nguyên liệu đầu vào cho nhu cầu phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, chế biến thực phẩm nuôi trồng; ba là giày da, may mặc phải nhập khẩu trên dưới 70% nguyên vật liệu phụ trợ cho nhu cầu sản xuất lẫn gia công.
Do đó, hơn hai mươi năm theo đuổi kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc vào nguyên, vật liệu phụ trợ nhập khẩu của nước ngoài ngày càng nặng nề hơn nhưng vẫn chưa thấy kế hoạch nào cụ thể, bền vững, khả thi để vươn lên tự túc từng phần đến toàn phần nguyên, vật liệu trong tương lai! Toàn bộ nền kinh tế sau gần ¼ thế kỷ xây dựng, phát triển chỉ làm được việc đóng gói, vô bao bì, lắp ráp, gia công bán sức lao động từ trong nước ra đến ngoài nước, một công việc lao động thấp nhất trong chuổi dây chuyền lao động của nền kinh tế công nghiệp.
Từ hậu quả kinh tế do nó gây ra và bản chất nền kinh tế đã dần hiện rõ, đã chỉ ra cho mọi người biết được kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự kết hợp, là sự cộng sinh tệ hại của kinh tế thị trường hoang dã với xã hội chủ nghiã rừng rú nên sản sinh ra nền kinh tế mà trong đó, ngoài các tập đoàn quốc doanh làm chủ đạo còn có khu vực tư nhân, công ty tư doanh cao cấp...cấp xuất nhập khẩu, cấp gần gủi với giới đầu tư nước ngoài, cấp ngồi mát hưởng bát vàng, cấp phe phẩy trung gian, ngồi không hưởng sức thặng dư lao động của lớp dân nghèo trong xã hội đã có thời bị lên án gay gắt.
Cấp phe phẩy này, chỉ cần một cú điện thoại độc quyền giao dịch là kiếm chục ngàn, trăm ngàn đô, không phải đổ mồ hôi sót con mắt, không phải căng óc suy tính do cạnh tranh khắc nghiệt trong môi trường kinh tế thị trường lành mạnh. Chính tầng lớp được gọi là tư doanh “phe phẩy”này, làm biến thái kinh tế thị trường, đúng hơn là do cái đuôi “khu vực tư nhân” XHCN phá nát nền tảng kinh tế thị trường, giết chết nền kinh tế thị trường.
Thế họ là ai? Thực chất, khu vực tư nhân, tất cả các công ty, các doanh nhân mới, tư bản mới là bạn bè, thân nhân “con cháu các cụ cả” được đảng chỉ định, là thành viên của đảng, liên quan mật thiết với đảng, không thể tách rời khỏi đảng cộng sản Việt Nam. Chúng nói thì không ai hiểu, làm thì bất chấp hậu quả cho dân nước, miễn sao tiền vô đầy túi là được, là hả hê với thành quả kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa!
Với nền kinh tế mà cột trụ của nó là quốc doanh chủ đạo, khu vực tư nhân là phe cánh được chỉ định, cấu kết chia chát quyền lực lẫn quyền lợi cho nhau đã lộ ra khá rõ, từ hiện tượng “thú hoang man rợ” hiện lên trên bề mặt đến bản chất “thú tính hung bạo” tự thân của nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chắc hẳn, một lần nhìn lại, dù chỉ thoáng qua một góc hẹp nhưng vẫn thấy nhiều vết rạn báo hiệu nguy cơ sụp đổ trong một ngày không xa. Hy vọng nhìn lại kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ít nhiều giúp cho chúng ta rút ra bài học hữu ích cho mình và cho tương lai đất nước, dân tộc Viêt Nam. Vậy, cộng sản Việt Nam có nên tiếp tục hay thẳng tay gạt bỏ ý tưởng kinh tế thị trường giao hoan xã hội chủ nghĩa quái đản này?
Hãy sớm từ bỏ cái đuôi ‘định hướng XHCN’!
Bùi Tín
127 đảng viên và nhân sỹ lão thành gửi thư cho đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) và các cấp lãnh đạo đảng đề nghị với Đại hội XII những vấn đề cực kỳ hệ trọng, liên quan đến sự sống còn của đất nước và vận mệnh của đảng CSVN.
Các đề nghị quan trọng nhất là: từ bỏ dứt khoát chủ nghĩa Mác - Lênin đã phá sản trên toàn thế giới, từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản không tưởng, mơ hồ, từ bỏ chế độ độc đảng độc đoán, thay tên nước Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), thay tên đảng CSVN vì chủ nghĩa CS đã phá sản hoàn toàn và chưa biết rõ mặt mũi nó ra sao. Một đề nghị nổi bật là cắt cái đuôi «định hướng XHCN» cho nền kinh tế thị trường. Tất cả các 6 nội dung này có quan hệ ràng buộc với nhau thành hệ thống tư duy già cỗi, cũ kỹ, giáo điều, phải sớm triệt để dứt bỏ thì đất nước mới có thể phát triển bình thường.
Các đề nghị tâm huyết, sáng suốt như thế nhưng xem ra Bộ Chính trị vẫn không nghe thủng, thậm chí không thèm nghiên cứu và trả lời trong tổng kết các góp ý cho văn kiện Đại hội, do cái tệ «kiêu ngạo CS» đã thành cố tật không sao sửa bỏ nổi.
Chỉ riêng về cái «nền kinh tế thị trường với định hướng XHCN» đã là một khái niệm quái dị, phi lý, thách thức trí khôn của con người, hiện không còn một nước nào khác chấp nhận, không một nhà lý luận chính trị nào trên thế giới thừa nhận ngoài Bộ Chính trị của đảng CSVN.
Khái niệm «xã hội» là một khái niệm tương đối mới, với một nội hàm là quan tâm đến toàn xã hội, quan tâm chu đáo đến các vấn đề giáo dục, y tế có tác động đến nền văn minh và sức khỏe của cộng đồng, quan tâm đặc biệt đến lớp người nghèo khổ nhất ở dưới đáy của xã hội, có các chính sách xã hội nhằm nâng đỡ những người dễ bị tổn thương nhất như trẻ mồ côi, người có bệnh hiểm nghèo, người thất nghiệp, người tàn tật, người cao tuổi cô đơn, nạn nhân thiên tai, tai nạn, phụ nữ góa bụa, gia đình đông con...
Tại VN, tất cả các tiêu chuẩn trên đều quá thấp, còn lâu mới có thể đạt mức trung bình. Nền giáo dục lạc hậu, không một trường nào được xếp loại trong số 100 đại học tiên tiến nhất thế giới. Y tế không đủ giường bệnh, 2 người bệnh phải nằm chung, có người nằm dưới gầm giường; tiêm thuốc khám bệnh phải có phong bì; trong xã hội ai bị bệnh hiểm nghèo, thất nghiệp, gặp thiên tai, trẻ mồ côi, người góa bụa, người cao tuổi ốm yếu cô đơn đều cảm thấy bị bỏ rơi, tự lo lấy để gắng sống trong đau thương tuyệt vọng.
Ở Việt Nam chưa có các chính sách xã hội, mà xã hội còn bị làm cho điêu đứng, thiếu thốn hơn bởi các chính sách «phản xã hội». Chế độ độc đảng toàn trị của đảng CS là nguồn gốc của vô vàn bất công, phi lý, lẫn lộn trắng đen, công tội. Kẻ gian xử người ngay, kẻ phạm tội nặng đối với xã hội vẫn ung dung hưởng thụ, người yêu nước bị đánh đập tra tấn đến chết trong các đồn công an, trại giam – hơn 200 nhân mạng trong hơn 2 năm… Tòa án bênh kẻ gian, trị người ngay theo lệnh trên. Tệ tham nhũng hoành hành rộng khắp. Đời sống xã hội lầm than, bất công, không có tự do ngôn luận trong toàn xã hội, chỉ có tiếng nói áp đặt của đảng CS trên hệ thống loa đài; đời sống xã hội của từng công dân, từng gia đình bị tra tấn, quấy nhiễu, hành hạ; như thế thì cái «định hướng XHCN» nằm ở đâu? lúc nào? ra sao? Xin mời hơn 100 vị tiến sỹ - thạc sỹ của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia giải thích cho toàn xã hội được sáng tỏ.
Xin nói rõ thêm không có gì phản CNXH, làm hại xã hội bằng cái phương châm quái đản «kinh tế quốc doanh là chủ đạo» tha hồ dùng ngân quỹ khủng đầu tư vào những thùng «quốc doanh» không đáy, khống chế kinh tế tư nhân đông đảo giàu sáng tạo trong cạnh tranh của giai cấp trung lưu, bịt đường sống các tiểu thương tiểu chủ, các nghề tự do, vốn phải là nền tảng vững chãi cho mọi nền kinh tế lành mạnh, đi đến ổn định, phồn vinh.
Trên thực tế hiện nay ở Việt Nam là một nền kinh tế kỳ lạ không giống ai, thực chất là một nền kinh tể tư bản chủ nghĩa biến dạng, có tư nhân làm kinh tế nhưng lại bị quốc doanh chèn ép, có kinh tế thị trường nhưng không có tự do kinh doanh, không có cạnh tranh bình đẳng, không có pháp luật nghiêm, tòa án bị cưỡng bức kiểu phát xít, nói thẳng ra là nó là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng là tư bản hoang dại rừng rú, phi pháp. Nhà kinh tế Mỹ gốc Trung Hoa Bùi Mẫn Hân gọi nó là kiểu «Nhà nước ăn thịt người», không mảy may có tính chất xã hội.
Nhiều người nói người lãnh đạo cộng sản là loại người riêng biệt, không giống ai. Điều khác biệt lớn là vì giáo điều mù quáng họ không có giây thần kinh hổ thẹn. Nhân Đại hội XII họ hãy suy ngẫm về họ đã và đang thực thi cái CNXH dị dạng ra sao.
Tất cả các điểm hệ trọng trong học thuyết, đường lối, chính sách của đảng CS, từ chủ nghĩa Mác-Lênin, chế độ độc đảng, xây dựng CNXH và CNCS xa lạ, lẽ ra phải là một nội dung tranh luận rốt ráo và nghiêm chỉnh nhất tại Đại hội này. Lẩn tránh việc này, đảng CS tỏ ra lo sợ lẽ phải và công lý, tự thú nhận không còn chính danh cầm quyền, để tiếp tục cai trị theo nếp độc đoán - độc quyền đất nước Việt Nam.
* Blog của nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Bùi Tín
Giải mã sự tụt hậu của Việt Nam
PGS. TS. Phạm Quý ThọHọc viện Chính sách và Phát triển VN
Bản quyền hình ảnhGETTYImage captionLãnh đạo Việt Nam kỳ vọng nâng mức thu nhập trung bình lên trên 7.000 USD vào năm 2035 nếu đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP tối thiểu 7% mỗi năm từ nay.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 kết thúc với phát biểu cảm xúc của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ‘dân chủ đến thế là cùng’.
Kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13 cũng đã kết thúc ngoài dự kiến khi miễn nhiệm dàn lãnh đạo cũ và bổ nhiệm mới để lấp khoảng trống quyền lực giữa đảng và chính phủ với tuyên bố thủ tục rằng ê kíp lãnh đạo mới này sẽ tiếp tục được giới thiệu ra Quốc hội 14 theo Hiến định.
Các nhà quan sát thế giới và trong nước đang theo dõi những quyết định nhân sự của đảng và động thái của tân chính phủ thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.
Những thách thức kinh tế kéo dài từ các chính phủ tiền nhiệm, như thâm hụt ngân sách nặng nề, chi thường xuyên lớn, hết dư địa cho đầu tư phát triển, nợ công cao và tăng nhanh, nợ xấu cao tạo rủi ro cho hệ thống tài chính ngân hàng, doanh nghiệp làm ăn khó khăn, giải thể nhiều… cộng thêm những bất lợi về thiên tai ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm thiểu tốc độ tăng của nền kinh tế.
Trên các phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện những phóng sự ‘nặng ký’ về các dự án sai phạm đất đai ở Vườn Quốc gia Ba Vì Hà Nội, dự án nhiều nghìn tỷ ‘đắp chiếu’, như dự án TISCO – Công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên (8.104 tỷ đồng), dự án sơ sợi Hải Phòng (7.000 tỷ đồng), nhà chờ xe buýt nhanh (1.000 tỷ đồng) ở Hà Nội, các dự án không hiệu quả như Bảo tàng Hà Nội...
Những bức xúc xã hội như dân oan, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, gia tăng phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, chạy quyền chạy chức, giảm sút chất lượng dịch vụ xã hội, tăng phí giao thông, phí y tế… tạo sức ép đối với cuộc sống người dân, làm mất lòng tin vào chế độ…
Các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh PAPI ở Việt Nam 2015 mới vừa được công bố cho thấy sự yếu kém của bộ máy công quyền không được cải thiện, phí ‘bôi trơn’ tăng lên và tham nhũng là căn bệnh kinh niên.
Tăng trưởng GDP quý 1/2016 giảm sút còn 5,46% so với cùng kỳ năm 2015 là 6,12% (bỏ qua những nghi vấn về tính trung thực số liệu thống kê), con số 7,3 tỷ đô la các ngân hàng, tổ chức và cá nhân chuyển ra nước ngoài… tạo ra hiện tượng ‘bất bình thường’.
Kế hoạch tăng trưởng bình quân năm trong 5 năm 2016-2020 được Quốc hội khóa 13 thông qua là 6,5% -7%. GDP/đầu người ước đạt 3.200 USD.
Nhìn lại, chỉ tiêu này trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2020 đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa, GDP/ đầu người khoảng 5.000 USD, rõ ràng không thể đạt được.
Sa lầy trong tư duy
Bản quyền hình ảnhGETTYImage captionĐến năm 2038, Việt Nam mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan.
Sự tụt hậu kinh tế Việt Nam so với các nước trong khu vực ngày càng lớn.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập bình quân đầu người năm 2014 của Việt Nam là 2.052 USD, trong khi khi Singapore là 56.287 USD, Malaysia là 10.830 USD, Thái Lan là 5.561 USD và Indonesia là 3.515 USD.
Như vậy, chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn Quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038, Việt Nam mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan…
Báo cáo “Việt Nam 2035 – Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”, do các chuyên gia World Bank và Việt Nam thực hiện – được nhận xét là quá lạc quan, khi cho rằng Việt Nam nếu duy trì mức tăng trưởng tối thiểu 7% mỗi năm để nâng mức thu nhập trung bình lên trên 7.000 USD vào năm 2035, tuy nhiên đã đề xuất nhiều khuyến nghị quan trọng, đặc biệt là cải cách thể chế.
Các chuyên gia nhận định: “Việt Nam đang có nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình thấp và khó thoát ra khỏi tình trạng này nếu không có các giải pháp cải cách mạnh mẽ, quyết liệt”.
Liệu đây là lời cảnh báo cho ‘chiến lược’ phát triển mới của Việt Nam?
Tại sao Việt Nam lại là ‘đất nước không chịu phát triển’?
Có ba nhân tố cơ bản quyết định một quốc gia sẽ phát triển, giàu có: thể chế, vị trí địa lý và văn hóa. Nhân tố hàng đầu là thể chế. Nói chung, những nước phát triển có một thể tốt và những nước kém phát triển có một thể chế tồi.
Việt Nam ‘sa lầy’ trong tư duy giáo điều về chủ nghĩa Mác – Lê, chủ nghĩa xã hội trong thời gian dài, khiến cho cải cách thể chế không mang lại hiệu quả.
Đào tạo cho các lớp ‘cán bộ nguồn’, chương trình chính khóa về tư tưởng Mác – Lê Nin trong các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề chiếm dung lượng lớn đã làm kéo dài thời gian đào tạo, gây nên những phản ứng từ học sinh và đối với vấn đề cải cách giáo dục, đào tạo.
Nay sinh viên học trường đều phải đóng học phí, họ cần được biết các tư tưởng, triết lý khác ngoài hệ quy chiếu này.
Mâu thuẫn hai hệ thống
Bản quyền hình ảnhKHAM GETTY IMAGESImage captionViệt Nam đang trong quá trình chuyển giao quyền lực lãnh đạo kể từ sau Đại hội 12 của Đảng Cộng sản.
Mâu thuẫn giữa hai hệ thống giá trị và lợi ích của chủ nghĩa xã hội và thị trường tạo ra những khoảng trống quyền lực không kiểm soát, lợi ích nhóm và tham nhũng… trở thành quốc nạn và đang cản trở đổi mới.
Tập trung cao quyền lực trung ương, thiếu vắng hoặc mang tính hình thức cơ chế giám sát, phản biện, giải trình, công khai minh bạch của chính quyền, không công nhận tổ chức xã hội dân sự, thiếu thực chất sự tham gia của người dân trong quản lý nhà nước… đang làm cho thể chế méo mó, xã hội xuống cấp và người dân mất niềm tin.
Cải cách kinh tế tất yếu dẫn đến thay đổi thể chế chính trị, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, bảo thủ. Vấn đề là thời gian.
Quan sát các nước gần đây trong khu vực, bài học kinh nghiệm từ Indonesia có ích cho Việt Nam để tiếp tục đổi mới.
Tính phức tạp xã hội, nhân khẩu học, kinh tế liên tưởng tới thực trạng kinh tế xã hội Việt Nam, nhưng với những cải cách mạnh mẽ gần đây khiến chất lượng thể chế của Indonesia ổn định, ngày càng được cải thiện và được thế giới đánh giá cao.
Những tiến bộ thể hiện ở việc quyền hạn của Quốc hội và tư pháp được củng cố, thể chế tam quyền phân lập được xác lập từng bước. Năm 1999, lần đầu tiên Indonesia thực hiện tổng tuyển cử, năm năm sau, lần đầu tiên dân chúng được trực tiếp bầu tổng thống.
Về thể chế kinh tế, ngân hàng nhà nước được độc lập, chiến lược, chính sách phát triển kinh tế dài hạn được hoạch định công phu, với nội dung có sức thuyết phục và các cơ chế, biện pháp thực hiện chi tiết và có tính khả thi cao.
Những bài học sâu sắc nêu trên được trình bày trong cuốn "Indonesia: Cường quốc kinh tế."
Nhân tố thứ hai làm cho đất nước tụt hậu là văn hóa – những thứ đã in sâu vào tâm trí, quan điểm, niềm tin và định hướng hành vi.
Cơ sở văn hóa lúa nước, trọng tình, nước đôi… ảnh hưởng của Nho giáo, Khổng giáo… đã không hỗ trợ kinh tế thị trường. Năm 2015 có khoảng 9000 lễ hội, trong đó nhiều hình thức biến tướng, buôn thần bán thánh, kích thích lòng tham tiền và quyền lực, hủ tục lạc hậu.
'Cho tôi một thể chế'
Bản quyền hình ảnhAPImage captionV. I. Lê Nin, lãnh tụ cộng sản Nga đầu thế kỷ 20, từng nói ‘nếu cho tôi một thể chế tôi sẽ xoay chuyển nước Nga’, theo tác giả.
Cải cách văn hóa ở đây, một mặt phải kết hợp giữa niềm tin tôn giáo và sự tạo ra của cải nhiều hơn, mặt khác tạo cơ chế tự do cá nhân và dân chủ để con người tin tưởng mạnh mẽ vào khả năng để thay đổi số mệnh của họ thông qua việc nỗ lực và tài năng, chứ không phải thế lực siêu nhân, hay sự trông chờ vào đảng và nhà nước.
Vị trí địa lý là một nhân tố đặc biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam.
Trái với những bài học ca ngợi tổ quốc thời niên thiếu rằng nước ta ‘mưa thuận, gió hòa, rừng vàng, biển bạc…’, Việt Nam, không thực giàu có về trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, lại nằm ở vùng nhiệt đới khắc nghiệt chịu ảnh hưởng lớn từ biến đổi khí hậu, giông bão, hạn hán, ngập mặn do nước biển dâng, các dịch bệnh nhiệt đới đòi hỏi chi phí lớn để bảo vệ con người, súc vật và cây trồng…
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, yếu tố này trở thành ‘lời nguyền địa lý’ bởi sự chung biên giới và quan hệ truyền thống với Trung Quốc.
Lịch sử chống xâm lăng hàng nghìn năm, chung ý thức hệ tư tưởng, đồng dạng thể chế chính trị, kinh tế và sự tranh chấp ngày càng căng thẳng trên biển đông và sự quan sự hóa quần đảo Trường Sa của Trung Quốc hiện nay, khiến cho Việt Nam trở ngại trong lựa chọn đường hướng cải cách, tác động đến thể chế, làm cho chi phí quân sự, an ninh gia tăng…
Nếu các nhà lãnh đạo thấy khó khăn, hãy để mọi người dân được lựa chọn cách thức trong đó họ toàn quyền quyết định vận mệnh dân tộc và của chính họ.
Để phát triển bền vững và thịnh vượng, cần có một thể chế phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại – kết tinh giá trị của sự phát triển nhân loại trong thời đại hiện nay, một thể chế cho phép Việt Nam khi đó không chỉ sẽ giảm thiểu khoảng cách tụt hậu kinh tế, mà còn hy vọng một tương lai tươi sáng.
V. I. Lê Nin, lãnh tụ giai cấp vô sản Nga đầu thế kỷ 20, đã từng nói, đại thể ‘nếu cho tôi một thể chế tôi sẽ xoay chuyển nước Nga’.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày học bên Mỹ, mấy người bạn mình thường tếu táo là ai giải thích được “kinh tế thị trường định hướng XHCN” là gì chắc sẽ được nửa giải Nobel, còn nửa giải còn lại là của Thống đốc Nguyễn Văn Bình vì giải quyết được bộ ba bất khả thi. Mục đích của bài viết này nhằm mục tiêu chia sẻ một chút thông tin về cái thể chế độc nhất vô nhị của kinh tế Việt Nam. Bài viết này thể hiện quan điểm cá nhân, có thể đúng, có thể sai. Bạn có thể đồng tình hay phản đối, việc tiếp nhận thông tin là quyền của bạn.
Nguồn gốc lịch sử
Trước năm 1975 thì miền Bắc xây dựng nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp theo mô hình Liên Xô, còn miền Nam thì theo mô hình kinh tế thị trường theo mô hình Mỹ. Sau khi “giải phóng”, giới chức lãnh đạo thời kỳ đó chủ trương “đánh tư sản”, cải tạo xã hội chủ nghĩa xóa bỏ toàn bộ nền kinh tế thị trường ở miền Nam để xây dựng kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trên toàn quốc. Sau một thời gian ngắn, kinh tế kiệt quệ vì mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ những điểm yếu cốt tử. Trước tình hình đó, đại hội VI của Đảng năm 1986 đã quyết định sửa sai nhưng vì sĩ diện nên gọi đó là “Đổi mới” nhưng thực tế chả có đổi mới cái gì mà quay lại cái cũ đã có từ trước năm 1975 vì thế mà trong rất nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế, người ta cứ để nguyên từ “Doi moi” trong ngoặc kép mà không thèm dịch ra tiếng Anh là innovation, renovation hay reform. Như vậy, về mặt lịch sử kinh tế thị trường định hướng XHCN là kết quả của “đổi mới”.
Một thỏa hiệp chính trị
Kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là kết quả của một quá trình nghiên cứu, phân tích, tìm tòi, phát minh gì trong tư duy phát triển kinh tế của Việt Nam mà thực ra là sự thỏa hiệp về mặt chính trị của các phe phái trong Đảng. Việt Nam tuy một Đảng nhưng trong Đảng luôn có 2 phe rõ nhất là: phe cấp tiến và phe bảo thủ. Khi đại hội VI của Đảng năm 1986 diễn ra, phe cấp tiến thì muốn xóa bỏ kinh tế tập trung quan liêu và xây dựng kinh tế thị trường triệt để, nhưng phe bảo thủ thì lại muốn giữ vững lập trường XHCN. Do vậy, sự thỏa hiệp giữa 2 phe là chấp nhận xây dựng Kinh tế thị trường, nhưng phải có thêm cái đuôi “định hướng XHCN” để tránh chệch hướng về tư tưởng mà Đảng đã trót chọn. Chính vì không dám vứt bỏ những gì thuộc về ý thức hệ XHCN nên mới quàng cái đuôi “định hướng XHCN” vào.
Cải cách nửa vời
Do thỏa hiệp chính trị ở trên, nên khi quyết định đổi mới mô hình kinh tế, thay vì vứt bỏ kinh tế XHCN chuyển hẳn sang kinh tế thị trường đích thực, chúng ta chỉ có thể chuyển đổi nửa vời. Tức là chọn một số cái của kinh tế thị trường, và giữ lại một số cái của kinh tế XHCN. Ví dụ, ta chủ trương một nền kinh tế nhiều thành phần, cho phép tư nhân kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nhưng lại vẫn duy trì công hữu về tư liệu sản xuất, duy trì hợp tác xã, duy trì vai trò chủ đạo của Doanh nghiệp nhà nước, và coi đó là công cụ để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Chính vì sự cải cách nửa vời này, mà nền kinh tế bị méo mó, biến dạng. Chính cái ý thức hệ XHCN như cái vòng kim cô đã kìm kẹp và làm méo mó cái tư duy kinh tế của Việt Nam. Trong khi Trung Quốc đi theo kinh tế thị trường thì thẳng toẹt tuyên bố “Mèo trắng hay mèo đen, miễn bắt được chuột là được” thì Việt Nam lại vất phải một hạn chế lịch sử của cải cách nửa vời, nên giữ vững lập trường XHCN. Do vậy, quá trình cải cách chả khác nào 1 bước tiến mà 2 bước lùi.
Hữu xạ tự nhiên hương
Các cụ đã nói “hữu xạ tự nhiên hương”. Nếu mà mình đẹp, chuẩn thì chả cần nói gì người ta cũng sẽ khen và công nhận mình đẹp và chuẩn. Nhưng điều nực cười vẫn đang diễn ra ở Nhà nước ta hiện nay là chúng ta phát triển một mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, chả có ở nơi nào trên thế giới nhưng đi ngoại giao ta với các nước ta cứ đặt vấn đề với bạn là “công nhận Việt Nam là thể chế kinh tế thị trường”. Việc này chả khác nào một cô gái xấu xí, không chuẩn, nhưng đi nài nỉ người khác công nhận mình là đẹp và chuẩn cả. Nếu thực sự anh là thể chế kinh tế thị trường thì việc gì anh phải van nài người ta công nhận. Ngay cái hành vi nực cười này cũng đã nói rõ bản chất của nền kinh tế nửa nạc, nửa mỡ mà cả thế giới chả ai công nhận. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, không có thể chế kinh tế thị trường chả ai chơi với anh. Thế nhưng thay vì cải cách triệt để, ta lại chơi bài van xin, nài nỉ người ta theo cách của mình.
Tác hại của kinh tế thị trường định XHCN
Kinh tế thị trường định hướng XHCN mang lại nhiều cái “hại” hơn là cái “lợi”. Doanh nghiệp nhà nước được coi là vai trò chủ đạo của nền kinh tế nên chúng được coi như là con đẻ của Nhà nước còn các thành phần kinh tế khác thì như con ghẻ vậy từ đó tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh ở môi trường kinh doanh. Tư doanh không thể nào cạnh tranh với quốc doanh được. Rồi vì nhiều lý do, Nhà nước tạo ra độc quyền nhiều lĩnh vực, chỉ có quốc doanh mới được làm, khiến cho người tiêu dùng phải trả giá cao mà không có lựa chọn nào khác. Viễn thông trước đây và bây giờ là điện lực là những ví dụ rõ nhất.
Mà kinh tế học là sự phân bổ các nguồn lực khan hiếm tới nơi sử dụng hiệu quả nhất, thì sự tồn tại của Doanh nghiệp nhà nước lại đảo ngược lại toàn bộ nguyên lý của kinh tế học. Cho dù khu vực Doanh nghiệp nhà nước hấp thụ rất nhiều nguồn lực xã hội, nhưng mang lại hiệu quả kinh tế thấp hơn nhiều so với khu vực kinh tế tư nhân, nhưng vì là “con đẻ” của Nhà nước, là công cụ của Nhà nước nhằm quản lý xã hội nên lại được ưu ái rất nhiều các nguồn lực từ đất đai, tới nguồn vốn, tới chính sách. Các DNNN này lại trực thuộc các Bộ nên chả khác nào “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, các DNNN như sân sau của Bộ, các chính sách được tạo ra nhằm phục vụ cho nhóm này. Dần dà, DNNN với giới chức chính quyền trở thành các nhóm lợi ích, liên minh cấu kết với nhau nhằm duy trì sự tồn tại của khối quốc doanh nhằm khai thác “bầu sữa” ngân sách.Từ đây mới nảy sinh tham nhũng, lãng phí vì người ta không quan tâm tới hiệu quả kinh tế mà chỉ quan tâm tới lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Và do đó, bất cứ đề xuất nào nhằm xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước cũng sẽ bị những nhóm lợi ích phản đối bằng lý do chính trị mang tính hù dọa những lãnh đạo kém hiểu biết nhưng thừa nhiệt tình cách mạng. Kết quả là hàng loạt tổng công ty, tập đoàn của Nhà nước làm ăn thua lỗ triền miên nhưng vẫn tồn tại qua nhiều năm, sống thoải mái bằng sự che chở của ngân sách nhà nước, gây thất thoát không biết bao nhiêu tiền của mà “đỉnh cao của thất bại” là sự sụp đổ của Vinashin, rồi tham nhũng ở Vinalines.
Đi tìm cái không có
Cuối năm ngoái, được mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho thính giả là các lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố, nhiều người hỏi bộ trưởng bộ Kế hoạch và đầu tư, thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”.
Có lẽ ông Vinh là quan chức cộng sản cao cấp đầu tiên nói thật với lòng mình, bởi lẽ từ khi khái niệm này ra đời đã có không biết bao nhiêu “ráo sư” và “tiến sỹ” quốc doanh thi nhau cắt nghĩa và tung hô mô hình này, khen nó ưu việt này để xu nịnh Đảng và bảo vệ quyền lợi của các nhóm lợi ích đang bòn rút ngân sách nhà nước bằng vỏ bọc chính trị. Thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một câu hỏi mà gần 30 năm qua vẫn chưa có câu trả lời. Nhưng không phải vì thế mà không ai dám tìm.
Những nỗ lực tìm kiếm
Trong những nỗ lực mà 30 năm qua chưa có kết quả, bộ trưởng bộ KHĐT Bùi Quang Vinh bảo nó không có mà tìm, nhưng chưa chắc Bộ trưởng Vinh đã đúng. Mới đây Tiến sỹ Harvard Huỳnh Thế Du – giảng viên chương trình kinh tế Fulbright (FETP) mới công bố một bài viết mang tên “Luận giải về kinh tế thị trường định hướng XHCN”, xem chi tiết tại đây http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai29/201329_HuynhTheDu.pdf
Trong bài viết khá dài của TS Huỳnh Thế Du cũng là một nỗ lực tìm kiếm mang tính học thuật nhằm tìm cách giải thích một cách rõ ràng cho khái niệm khá mơ hồ chỉ có ở Việt Nam này. Mặc dù bài viết rất dài, nhưng cấu trúc của bài viết dễ làm cho độc giả thấy tác giả lại đi sâu vào phân tích xu hướng phát triển của nhân loại, những mô hình phát triển khác nhau, tình hình thế giới hiện nay như sự trỗi dậy của Trung Quốc, thế giới phẳng, vai trò vị trí của Hoa Kỳ và con đường cho Việt Nam…vv Đọc đến phần kết luận của tác giả dường như độc giả sau khi đọc xong mấy chục trang tài liệu vẫn chưa tìm ra một câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi chính “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là gì?”.
Kết luận
Như vậy, sau hơn 30 năm nghiên cứu, tìm tòi, vẫn chưa một ai trả lời được câu hỏi chính “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là gì?”. Đây là cơ hội cho tất cả những ai muốn giành nửa giải Nobel cùng Thống đốc Bình có dịp phát huy tài năng và trí tuệ của mình. Cho dù là không được nửa giải Nobel của Ủy ban Nobel, thì tại sao Việt Nam lại không tổ chức 1 cuộc thi viết luận để tìm câu trả lời hay nhất cho câu hỏi trên nhỉ. Tôi hoàn toàn nghiêm túc về ý tưởng tổ chức cuộc thi nói trên cho tất cả công dân Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Đó là cơ hội rất tốt để tất cả những ai quan tâm tới chủ đề này có dịp chia sẻ những suy nghĩ, phân tích, tìm tòi về một chủ đề rất quan trọng trong kế hoạch phát triển đất nước trong tương lai. Có ai quan tâm tới việc tham gia tổ chức cuộc thi viết luận này không nhỉ?
Trần Ngọc Thịnh
Kinh tế thị trường XHCN: 'Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã'?
Cát Linh, RFA
Chọn quốc gia có cùng thể chế
Tiến sĩ, Luật sư Bùi Quang Tín, nhà sáng lập và CEO trường Doanh nhân BizLight nhận định nền kinh tế Việt Nam thực chất cũng theo mô hình kinh tế thị trường nhưng với định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Do đó, Việt Nam phải lựa chọn một trong những quốc gia cũng theo thể chế XHCN nhưng phát triển theo hướng kinh tế thị trường
Và quốc gia đó chính là Trung Quốc.
“Tức là một nền kinh tế mà nó vẫn là kinh tế thị trường của các nước phương Tây nhưng nó phải đặt trên nền tảng là định hướng của XHCN nghĩa là nó theo các thuyết của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu nói về mô hình này hiện nay thì Trung Quốc là đầu, về kinh tế thị trường, về vấn đề mở cửa, về hội nhập, hợp tác đa phương cũng như song phương với các nước phương Tây và các nước trong khu vực.”
Công ty Bia Sài Gòn của Việt Nam được tỷ phú Thái Lan mua lạiAFP
Theo một phân tích của Giáo sư Hoàng Ngọc Hoà – Học viện Chính trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đương đại, chia làm 3 nhóm tiêu biểu: Kinh tế thị trường tự do (tiêu biểu là nền kinh tế thị trường của Mỹ, Anh, Úc); Kinh tế thị trường xã hội (tiêu biểu là Đức, Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác); Kinh tế của mô hình nhà nước phát triển (tiêu biểu là nền kinh tế Pháp, Nhật Bản).
Tức là một nền kinh tế mà nó vẫn là kinh tế thị trường của các nước phương Tây nhưng nó phải đặt trên nền tảng là định hướng của XHCN nghĩa là nó theo các thuyết của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu nói về mô hình này hiện nay thì Trung Quốc là đầu, về kinh tế thị trường, về vấn đề mở cửa, về hội nhập, hợp tác đa phương cũng như song phương với các nước phương Tây và các nước trong khu vực. - Tiến sĩ, Luật sư Bùi Quang Tín
Tách hẳn 3 nhóm đó, từ sau Đại hội TW3 khoá XI đến Đại hội XIV, dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa nền kinh tế nước này đi theo con đường thương trường mới, đó là xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Về phía Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi một cơ chế quản lý kinh tế được Đảng Cộng sản Việt Nam tạo ra và triển khai tại Việt Nam từ sau Đại hội VI 1986 và liên tục được được hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng sau này.
Điều này được Tiến sĩ, Luật sư Bùi Quang Tín giải thích:
“Việt Nam cũng phải theo 1 mô hình của 1 quốc gia cũng theo XHCN nhưng phát triển theo định hướng kinh tế thị trường.”
Một bài viết của Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển viết vào năm 2015 có đề cập rằng: Định hướng XHCN trong việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế đó được xây dựng trên cơ sở một hệ tư tưởng nhằm xác định hướng đi bảo đảm mục tiêu tổng quát là: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Điều này được chính ông Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng nhắc lại trong buổi hội thảo ngày 6/7. Đáp lại, đại diện cho phía Trung Quốc, Trưởng ban Tuyên truyền Trung Quốc, Hoàng Khôn Minh cũng nhấn mạnh và chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN.
‘Thị trường định hướng XHCN’ là bất khả thi
Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhấn mạnh, nền kinh tế Trung Quốc không phải là nền kinh tế thị trường.
“Cái mô hình kinh tế nào có gì ưu việt thì mình học, không bắt buộc phải đi theo anh cả Trung Quốc, tuy là Trung Quốc cũng có rất nhiều cái để học chứ không phải không. Nhưng gọi là mô hình Trung Quốc thì học cái đó làm gì? Mô hình Trung Quốc đâu phải là kinh tế thị trường.”
Đây là chi tiết đáng chú ý. Tháng 12/2017, tờ Financial Times đưa tin về một tuyên bố của chính phủ Tổng thống Donald Trump nói rằng đã gửi hồ sơ cho Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong đó nêu rõ không công nhận nền kinh tế của Trung Quốc là “kinh tế thị trường” như yêu cầu của Bắc Kinh.
Cũng theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, nếu hiểu đúng với định nghĩa của cụm từ “kinh tế thị trường” thì Trung Quốc càng không phải.
“Mô hình kinh tế thị trường trong đấy nhân dân là chủ đạo. Dân doanh chứ không phải quốc doanh.Việc gì nhân dân không làm được hay tạm thời chưa làm được thì quốc doanh làm. Mô hình Trung Quốc đâu phải là mô hình kinh tế thị trường?”
Nghịch lý
Theo dòng thời sự gần đây cho thấy những quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á như Malaysia, Australia đang dần thể hiện rõ đường lối kinh tế dứt khoát với Trung Quốc. Cụ thể, đầu tháng 7/2018, chính phủ Malaysia đã gửi thư đến 3 nhà thầu Trung Quốc để thông báo việc đình chỉ các dự án có vốn Trung Quốc lớn nhất ở quốc gia này, ước tính khoảng 22 tỷ USD.
Mô hình kinh tế thị trường trong đấy nhân dân là chủ đạo. Nhân doanh chứ không phải quốc doanh.Việc gì nhân dân không làm được hay tạm thời chưa làm được thì quốc doanh làm. Mô hình Trung Quốc đâu phải là mô hình kinh tế thị trường? - Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành
Một diễn biến khác, vào năm 2017, Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull đã tuyên bố thẳng thắn rằng “Bắc Kinh đừng dùng tiền thao túng chính trị Úc.”
Như thế, rõ ràng các quốc gia có nền kinh tế thị trường tự do đều không chọn sự hợp tác với Trung Quốc, dù rằng nước này được dữ liệu của Bloomberg đánh giá là có GDP dự báo vượt 19 nước Châu Âu trong năm 2018 (đạt khoảng 13,2 nghìn tỷ USD).
Vậy thì khi lựa chọn 1 quốc gia có cùng thể chế là Trung Quốc để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế như ông Võ Văn Thưởng đã phát biểu thì liệu Việt Nam có đang tách mình ra khỏi vòng quỹ đạo của sự phát triển kinh tế thế giới hay không?
Để trả lời câu hỏi này, Tiến sĩ, Luật sư Bùi Quang Tín vẫn giữ quan điểm xem Trung Quốc là “1 mô hình tham khảo và nghiên cứu.”
“Trung Quốc có thể nói là 1 quốc gia mà hướng mở cửa rất mạnh. Đặc biệt nó phát triển về kinh tế thị trường rất mạnh, là 1 mô hình để mình nghiên cứu, tham khảo đưa ra định hướng, chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam hơn là xem đó là 1 hình mẫu duy nhất, 1 sự kết nối duy nhất, vì sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là đa phương và độ mở của kinh tế Việt Nam là mạnh mẽ nhất từ trước đến nay.”
Do đó, theo ông, không chỉ Trung Quốc mà Mỹ và các nước Châu Âu cũng là những bài học, mô hình để Việt Nam có thể học hỏi.
Theo quan điểm của Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, Việt Nam không nên tách ra, đi theo Trung Quốc để làm những việc đối chọi lại với nền kinh tế thị trường khác trên thế giới.
Trong thực tế chính phủ Hà Nội đã và đang ký rất nhiều những Hiệp định kinh tế thương mại với thế giới. Và điều này được cho là Việt Nam đang gia nhập song phương, đa phương với thế giới để được công nhận nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thể chế chính trị độc đảng vẫn duy trì đường lối kinh tế quốc doanh là chủ đạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phải chăng đây cũng là lý do mà Chủ tịch Bắc Hàn, Kim Jong Un gần đây được tiết lộ là ông ta muốn áp dụng đường lối cải cách kinh tế của Việt Nam cho Bắc Hàn, một quốc gia cộng sản còn khép kín hiện nay?
Sau 45 năm độc quyền lãnh đạo: Đảng CSVN đạt được gì, mất gì và cần phải làm gì cho đất nước?
RFA
Người dân Việt Nam biểu tình phản đối hai dự Luật An ninh mạng và Luật Đặc khu. Hình chụp ngày 10/6/18 tại Sài Gòn.
AFP
Sau 45 năm độc quyền lãnh đạo: Đảng CSVN đạt được gì, mất gì và cần phải làm gì cho đất nước?
00:00/14:44
Thành quả sau 45 năm
Kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30/4/1975 và sau hơn 4 thập niên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kinh tế Việt Nam được thế giới công nhận là có sự phát triển vượt bậc và ổn định qua các chỉ số Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng vượt ngưỡng trong hai năm liền 7% (2018) và 7,2% (2019). Chỉ số lạm phát ở mức 2,76%; xuất siêu đạt 9 tỷ đô la Mỹ (USD); lượng kiều hối chảy vào Việt Nam lên đến gần 17 tỷ USD trong năm 2019, được xếp là năm thứ 3 liên tiếp thuộc nhóm 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới.
Với những thành quả đạt được như vừa nêu, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương vào sáng ngày 30/12/19 phát biểu rằng “Ngân hàng Thế giới-World Bank đã nhận định, mây đen phủ lên toàn cầu nhưng mặt trời vẫn đang tỏa sáng ở Việt Nam.”
Luật sư Nguyễn Văn Đài, thuộc Hội Anh Em Dân Chủ, một tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam và bị Hà Nội tống xuất đến Đức năm 2018 trong lúc thụ án 15 năm tù giam, lên tiếng với RFA về ghi nhận của ông đối với những thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam sau 45 năm lãnh đạo toàn thể đất nước Việt Nam:
“Sau năm 1975, Cộng sản Việt Nam đã bị Mỹ và nhiều nước trên thế giới áp đặt cấm vận nhưng họ đã thành công trong việc gỡ bỏ lệnh cấm vận đó. Đồng thời trong năm vừa qua, họ cũng đã xây dựng được mối quan hệ đối tác chiến lược với 4/5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ là nước thứ 5 thì họ xây dựng được quan hệ đối tác toàn diện. Ngoài ra họ còn xây dựng được quan hệ đối tác chiến lược với rất nhiều các cường quốc khác như Nhật Bản, Đức, Australia…Trong kinh tế thì họ cũng hội nhập vào quốc tế khá sâu rộng như là đã tham gia khối AFTA cũng như ký các hiệp định tự do thương mại với Nhật Bản, Australia và Ấn Độ. Về an ninh quốc phòng thì tiềm lực được xây dựng khá tốt dù vị thế bị xuống thấp do không tương xứng với mức độ đầu tư quốc phòng và rất yếu kém trong vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Điều thành công lớn nhất đối với Đảng CSVN là họ đã tạo ra một tầng lớp tư sản đỏ ở trong nước, thuộc dòng dõi con ông cháu cha của họ hay chính bản thân các quan chức cộng sản rất giàu có, thậm chí giàu hơn những người thuộc giới tư bản được gọi là ‘tư bản dân tộc’ ở trong nước -Luật sư Nguyễn Văn Đài
Điều thành công lớn nhất đối với Đảng CSVN là họ đã tạo ra một tầng lớp tư sản đỏ ở trong nước, thuộc dòng dõi con ông cháu cha của họ hay chính bản thân các quan chức cộng sản rất giàu có, thậm chí giàu hơn những người thuộc giới tư bản được gọi là ‘tư bản dân tộc’ ở trong nước.”
Từ Paris, Pháp, ông Nguyễn Gia Kiểng, một sáng lập viên Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhận xét về tình hình Việt Nam sau 45 năm kể từ ngày đất nước không còn tiếng súng của chiến tranh:
“Theo tôi nếu so sánh Việt Nam năm 2020 với Việt Nam năm 1975 thì phải nói rằng có rất nhiều tiến bộ. Tiến bộ lớn nhất là ở miền Bắc Việt Nam. Trước đây là vùng đất của sự nghèo khổ và dơ bẩn, áp bức, dối trá và ngày hôm nay chúng ta có thể thấy chế độ đó bị hoàn cảnh đưa đẩy và họ đã cố gắng làm cho miền Bắc được thay đổi đáng kể. Nếu chúng ta được gặp gỡ những người dân ở miền Bắc thì đều nhìn nhận rằng đời sống thực chất được cải thiện rất nhiều và mức độ phóng khoáng, tự do cũng tăng lên. Còn ở miền Nam thì phải nói là sau 45 năm và sau một thời gian bị tàn phá thì các vấn đề về kinh tế, xã hội cũng đã có tiến triển nhiều.”
Tuy nhiên, ông Nguyễn Gia Kiểng nhấn mạnh rằng dù Việt Nam có sự phát triển trong hơn 4 thập niên qua như thế nhưng trong bối cảnh tất cả các quốc gia trên thế giới đều bắt buộc phải phát triển thì cần phải nhìn nhận ở góc độ đáng lưu tâm là sự tiến bộ đó có ngang tầm hay bị tụt hậu so với thế giới?
Đảng CSVN mất gì qua hơn 4 thập niên?
Trong khi đó, với cương vị là người lãnh đạo cao nhất trong Đảng cũng như của quốc gia, ông Nguyễn Phú Trọng có thể nói rất hãnh diện và tự tin qua một tuyên bố rằng mặc dù tệ nạn tham nhũng và cán bộ hư hỏng đều có cả nhưng nhìn tổng quát thì đất nước chưa bao giờ được như thế này.
Từ Hoa Kỳ, Trưởng ban Thường vụ Đảng Dân Chủ Việt Nam, ông Võ Tấn Huân đánh giá về quá trình lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN trong hơn 4 thập niên:
“Bên cạnh những tăng trưởng kinh tế thì Việt Nam vẫn còn nhiều sự bất cập và lãnh đạo Đảng CSVN cầm quyền cần phải thay đổi và điều chỉnh nhanh hơn nữa cho xã hội phát triển một cách toàn diện và mạnh mẽ hơn. Và một trong những điểm chính là thiếu vắng cơ chế kiểm soát quyền lực dẫn đến sự độc quyền và lạm quyền, tuyên truyền sai sự thật cũng như nạn tham nhũng mà chúng ta đã thấy như ngày hôm nay. Như chúng tôi đã nêu rõ trong năm 2020 thì Việt Nam cần sớm tách biệt sự ảnh hưởng của đảng chính trị ra khỏi lĩnh vực kinh tế để xã hội có thể phát triển một cách công bằng và hiệu quả. Bên cạnh đó chúng tôi nghĩ rằng Việt Nam luôn mong muốn được thế giới công nhận là một nước có nền kinh tế thị trường tự do. Do đó chúng tôi cho rằng mong muốn đó hoàn toàn đúng đắn và cần sớm trở nên hiện thực.”
Giáo sư Phạm Minh Hoàng, một thành viên của Đảng Việt Tân và từng trở về Việt Nam sinh sống và làm việc trong 20 năm, vào ngày 10/1 lên tiếng chia sẻ với RFA về những gì mà ông quan sát được:
“Trong thời gian 20 năm tôi ở Việt Nam, tôi đã có nhiều cơ hội tiếp xúc đặc biệt với giới trẻ và người dân. Theo đánh giá cảm quan của tôi thì tôi nghĩ rằng càng lúc người ta càng nhìn thấy xã hội Việt Nam có rất nhiều vấn đề. Ngay ngày hôm nay, chắc mọi người cũng thấy một vấn đề rất lớn là vấn đề đất đai ở Đông Tâm. Chúng ta cũng không quên là chỉ có Đồng Tâm thôi mà còn có Dương Nội, Lộc Hưng và còn nhiều điểm nóng về đất đai nữa. Vấn đề đất đai chỉ là một vấn đề gây ra bức xúc trong người dân và sự bất mãn của người dân còn từ rất nhiều vấn đề nữa như vấn đề kinh tế, vấn đề tự do, vấn đề chênh lệch xã hội giàu nghèo…
Số người tạm gọi là bất mãn với chế độ thì họ không có dịp để bày tỏ, không có cơ hội để nói ra và không có điều kiện để liên kết lại với nhau. Nếu tất cả những việc này xảy ra ở nước ngoài, chắc chắn chúng ta sẽ thấy được sự phẫn nộ của người dân rất lớn chứ không phải như những gì chúng ta đang thấy ở Việt Nam đâu.”
Báo cáo của tổ chức Minh bạch Quốc tế về Chỉ số Nhận thức Tham nhũng toàn cầu năm 2018, xếp Việt Nam hạng 117, xuống 10 hạng so với năm 2017.Screen capture
Vào đầu tháng 2 năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu Thanh tra Chính phủ tiếp tục tập trung kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ việc đông người, phức tạp, kéo dài. Vào giữa năm 2018, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh TP.HCM) cũng cho biết có đến 75% khiếu nại ở thành phố này liên quan nhà đất. Điển hình là vụ việc người dân ở Thủ Thiêm, quận 2 TP.HCM đã khiếu kiện trong hơn 2 thập niên mà vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, dù giới chức lãnh đạo TP.HCM hứa hẹn giải quyết trong năm 2019. Hay mới đây nhất, vụ việc “Khủng hoảng Đồng Tâm” đã kéo dài hơn 2 năm qua và người dân Đồng Tâm đã gửi đơn khiếu nại lên cấp Trung ương nhưng kết quả là một cuộc đụng độ vũ lực giữa lực lượng vũ trang với dân chúng xã Đồng Tâm vào đêm rạng sáng 9/1, khiến ít nhất 4 người thiệt mạng theo thông báo từ Bộ Công an.
Theo đánh giá cảm quan của tôi thì tôi nghĩ rằng càng lúc người ta càng nhìn thấy xã hội Việt Nam có rất nhiều vấn đề. Ngay ngày hôm nay, chắc mọi người cũng thấy một vấn đề rất lớn là vấn đề đất đai ở Đông Tâm. Chúng ta cũng không quên là chỉ có Đồng Tâm thôi mà còn có Dương Nội, Lộc Hưng và còn nhiều điểm nóng về đất đai nữa. Vấn đề đất đai chỉ là một vấn đề gây ra bức xúc trong người dân và sự bất mãn của người dân còn từ rất nhiều vấn đề nữa như vấn đề kinh tế, vấn đề tự do, vấn đề chênh lệch xã hội giàu nghèo… -Giáo sư Phạm Minh Hoàng
Luật sư Nguyễn Văn Đài, một nhà hoạt động dân chủ nhiều năm ở trong nước nhận định điều mất mát lớn nhất của Đảng CSVN sau 45 năm độc quyền lãnh đạo là:
“Đảng CSVN bị mất lớn nhất là mất lòng dân. Điều này đã được xác định rất rõ ràng qua cuộc thăm dò dư luận hồi năm 2012 do ông Nguyễn Phú Trọng tiến hành. Qua bản thăm dò do Ban Tuyên giáo thực hiện thì có đến 85% số người được hỏi đều bày tỏ bất bình và mất niềm tin vào Đảng CSVN do vấn đề tham nhũng và vấn đề đạo đức xã hội xuống cấp. Đấy là cái mất lớn nhất đối với họ.”
Một báo cáo của tổ chức Minh bạch Quốc tế về Chỉ số Nhận thức Tham nhũng toàn cầu năm 2018, công bố hôm 29/1/19, đã xếp Việt Nam hạng 117, xuống 10 hạng so với năm trước đó.
Mới đây nhất, Ủy viên Bộ Chính trị- Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2019, diễn ra vào ngày 10/1/2020 cho biết đã thi hành kỷ luật hàng ngàn tổ chức đảng, hàng vạn cấp ủy viên các cấp và xấp xỉ 55 ngàn đảng viên, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.
Đảng CSVN phải thay đổi?
Đài RFA ghi nhận hồi tháng 5/2019, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đặt ra 3 câu hỏi quan trọng ở Hội nghị Trung ương 10 của ĐCSVN gồm:
1 - Có nên xóa bỏ thành phần kinh tế nhà nước không?
2 - Đổi mới chính trị có phải là đổi mới chế độ chính trị không?
3 - Có cần phải sửa đổi điều lệ của Đảng CSVN không?
Trước những câu hỏi của ông Nguyễn Phú Trọng đưa ra, giới quan sát tình hình Việt Nam cho rằng Đảng CSVN lãnh đạo đã nhìn nhận được vai trò lãnh đạo đất nước của họ cần phải cấp thiết điều chỉnh vì sự tồn vong của chế độ.
Trưởng ban Thường vụ Đảng Dân Chủ Việt Nam, ông Võ Tấn Huân khẳng định với RFA rằng “Đảng CSVN cần phải bắt đầu ngay và bắt đầu từ điều chỉnh tư duy và theo đó từng bước điều chỉnh cơ chế chính trị”. Ông Võ Tấn Huân nhấn mạnh mặc dù bước đầu là sẽ khó, nhưng nếu không thực hiện thì sẽ không có những bước tiếp theo.
Ông Nguyễn Gia Kiểng tiên liệu rằng năm 2020 là một năm rất lúng túng cho Đảng CSVN vì phải chuẩn bị cho Đại hội Đảng XIII trong những điều kiện khó khăn, không loại trừ khả năng hỗn loạn nội bộ trước tình thế diễn biến phức tạp trong khu vực và thế giới. Ông Nguyễn Gia Kiểng lý giải:
“Năm 2020 là năm rất bặc biệt do sự chuyển trục, nói nôm na là thoát Trung theo Mỹ và các nước dân chủ. Đầu tư nước ngoài đổ xô vào Việt Nam. Sự chú ý của quốc tế tập trung vào Việt Nam ở Biển Đông vì tầm quan trọng đặc biệt của khu vực biển này. Và do đó Việt Nam có thể có một ‘ánh sáng cuối đường hầm’ khi xã hội Việt Nam cho là Hoa Kỳ và các nước dân chủ vì quyền lợi chiến lược ở Biển Đông mà sẽ giúp đỡ cho Việt Nam. Và cuộc tranh hùng giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ và các nước dân chủ sẽ càng ngày càng trở nên rõ rệt và căng thẳng hơn vì thế giới nhận ra rằng một khi Trung Quốc mạnh lên, tăng cường về quân sự và vẫn giữ nguyên chế độ độc tài thì sẽ là mối đe dọa cho hòa bình thế giới. Việt Nam ở trong vị trí địa lý chiến lược rất đặc biệt nên sẽ được hưởng sự trợ giúp của thế giới cho nên nhìn về tương lai thì Việt Nam có một cơ hội không thể để mất được. Đó là cơ hội thiết lập dân chủ bởi vì chọn lựa đi với các nước dân chủ cũng là chọn lựa từ bỏ chế độ cộng sản.”
Người sáng lập Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nói rằng Đảng CSVN nên cân nhắc kỹ lưỡng về cơ hội không những thiết lập dân chủ cho đất nước mà còn có điều kiện để phát triển đất nước được giàu mạnh; đồng thời Đảng CSVN cũng cần lưu tâm về thiện chí của tất cả các cá nhân, tổ chức, đảng phái chính trị…vì mục tiêu chung cho việc phát triển đất nước Việt Nam hùng cường.
Mô hình nhà nước chính danh, minh bạch hiệu quả là điều đất nước đang cần. Cho nên chúng ta cần phải xem con người là tài sản quý giá của quốc gia và xem trọng đoàn kết quốc gia với pháp luật chuẩn mực thì mới xem trọng tình đồng bào tình tự dân tộc và từ cách nhìn như vậy thì mới có thể điều chỉnh tư duy và những giải pháp đưa ra cho phù hợp để xã hội và đất nước cùng đi tới mới là dấu ấn để lại cho đảng cầm quyền cũng như để lại cho tương lai của thế hệ trẻ Việt Nam -Ông Võ Tấn Huân
Trong Thông điệp 2020 của Đảng Dân Chủ Việt Nam phổ biến hôm 3/1, Đảng Dân Chủ Việt Nam cho biết sẵn sàng hợp tác với Đảng CSVN trong tinh thần xây dựng quốc gia. Ông Võ Tấn Huân diễn giải:
“Mô hình nhà nước chính danh, minh bạch hiệu quả là điều đất nước đang cần. Cho nên chúng ta cần phải xem con người là tài sản quý giá của quốc gia và xem trọng đoàn kết quốc gia với pháp luật chuẩn mực thì mới xem trọng tình đồng bào tình tự dân tộc và từ cách nhìn như vậy thì mới có thể điều chỉnh tư duy và những giải pháp đưa ra cho phù hợp để xã hội và đất nước cùng đi tới mới là dấu ấn để lại cho đảng cầm quyền cũng như để lại cho tương lai của thế hệ trẻ Việt Nam.”
Để kết thúc bài ghi nhận hạn hẹp này, chúng tôi xin mượn lời nhận định của nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan-Tiến sĩ Đinh Hòang Thắng rằng năm 2020, một năm đánh dấu cột mốc lịch sử 45 năm Đảng CSVN lãnh đạo đất nước Việt Nam thống nhất và là năm với nhiều thách thức khi Việt Nam đứng ở vị thế trong mối quan hệ tay ba với Trung Quốc và Mỹ; do đó Việt Nam sẽ có cơ hội để chọn lựa và đưa ra quyết sách lãnh đạo quốc gia một cách hữu hiệu nhất tại Đại hội Đảng XIII.