Tàu cá Bình Định bị tàu Trung Quốc truy đuổi trong lãnh hãi VN thuộc khu vực Trường Sa - Tàu HD8 của TQ trở lại chiếm bãi Tư Chính CSVN im lặng!
14.08.2019 20:59
(Biển Đảo) - Tàu cá Bình Định có số hiệu BĐ 96813 TS bị tàu Trung Quốc số hiệu 46301 truy đuổi tại khu vực quần đảo Trường Sa.
Chiều 13.8, Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Định cho biết, vào trưa cùng ngày, tàu cá BĐ 96813 TS do ông Dương Ngọc Dõi (ở xã Tam Quan Nam, H.Hoài Nhơn, Bình Định) làm chủ tàu kiêm thuyền trưởng, đang hoạt động đánh bắt tại khu vực quần đảo Trường Sa thì bị tàu Trung Quốc số hiệu 46301 truy đuổi.
Tàu cá Bình Định bị tàu Trung Quốc truy đuổi tại Trường Sa (Ảnh minh họa)
Thuyền trưởng tàu cá BĐ 96813 TS đã liên lạc với Hải quân Vùng 2 đề nghị hỗ trợ. Tàu BĐ 96813 TS có công suất 710 CV, hiện trên tàu có 12 ngư dân.
Chiều 13.8, Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Định cho biết, vào trưa cùng ngày, tàu cá BĐ 96813 TS do ông Dương Ngọc Dõi (ở xã Tam Quan Nam, H.Hoài Nhơn, Bình Định) làm chủ tàu kiêm thuyền trưởng, đang hoạt động đánh bắt tại khu vực quần đảo Trường Sa thì bị tàu Trung Quốc số hiệu 46301 truy đuổi.
Thuyền trưởng tàu cá BĐ 96813 TS đã liên lạc với Hải quân Vùng 2 đề nghị hỗ trợ. Tàu BĐ 96813 TS có công suất 710 CV, hiện trên tàu có 12 ngư dân.
Hoàng Trọng/Thanh Niên
Tàu Hải Dương Địa Chất 8 của TQ trở lại, Việt Nam phải làm gì?
Trương Nhân TuấnGửi tới BBC News Tiếng Việt từ Marseille, Pháp
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionTàu Hải Dương 8 đã quay lại Bãi Tư Chính hôm 13/8
Sau vài ngày cập bến Đá Chữ Thập (Fierry Cross) và Đá Subi để lấy nhiên liệu và thay thủy thủ đoàn, hôm 13/8 tin tức nói tàu Hải Dương Địa Chất 8 và các tàu hải cảnh bảo vệ của Trung Quốc đã trở lại vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.
Tàu này đã có hơn một tháng hoạt động thăm dò địa chất thềm lục địa khu vực trầm tích Tư Chính trong suốt tháng Bảy.
Tàu Hải Dương Địa Chất 8 trở lại phải chăng sẽ tiếp tục thăm dò địa chất khu vực Bãi Tư Chính, hay mở rộng ra trên toàn bộ khu vực EEZ của VN? Mục đích có phải là xác định vị trí cùng trữ lượng những túi dầu khí hay Trung Quốc còn có ý đồ khác, như vẽ địa đồ thềm lục địa Việt Nam phục vụ cho quân sự?
Câu hỏi khó là nhà nước Việt Nam cần phải làm gì để đối phó với hành vi quấy nhiễu, thách thức quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên vùng biển và thềm lục địa hợp pháp của quốc gia mình.
Trên diễn đàn BBC trước đây hai tuần, tôi có bài viết nêu giả thuyết là ông Tập Cận Bình muốn chứng minh cho phe chống đối thấy sự hữu dụng của những đảo nhân tạo trong công cuộc bành trướng lãnh thổ và bảo vệ an ninh năng lượng.
Đã có những tiếng nói chỉ trích rằng giới khoa học gia Trung Quốc trước khi xây dựng các đảo đã không nghiên cứu kỹ về sự tàn phá của ánh nắng mặt trời (tia tử ngoại) đối với cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng nước biển làm rỉ sét nhanh chóng khí tài kim loại hiện tồn trữ ở các đảo. Việc bảo trì hàng năm rất tốn kém, trong khi hiệu quả của các đảo nhân tạo chưa được chứng minh.
Giả thuyết này đến nay cho thấy có phản ảnh được phần nào sự thật. Nhưng quyết tâm của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông đã là một thực tế.
Ta sẽ thấy rằng từ nay Trung Quốc thường xuyên đưa tàu bè quấy nhiễu hải phận EEZ và thềm lục địa các quốc gia Việt Nam, Philippines, Malaysia… với ba mục đích:
1/ Các đảo nhân tạo có vai trò quan trọng trong công cuộc bảo đảm nguồn năng lượng thay thế nếu an ninh năng lượng Trung Quốc bị đe dọa (như trường hợp các eo biển chiến lược Malacca, Hormuz… bị nghẽn). Với việc cùng lúc đưa hàng loạt tàu nghiên cứu địa chất xuất phát từ các đảo nhân tạo tới vùng biển EEZ của các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Trung Quốc dần dần sẽ nắm rõ những dữ kiện về vị trí và trữ lượng của các túi dầu khí trong toàn bộ Biển Đông.
2/ Các đảo nhân tạo có vai trò trung tâm trong việc khẳng định các quyền "lịch sử" của Trung Quốc qua bản đồ chữ U chín đoạn.
3/ Tiếp tục củng cố việc "quân sự hóa" các đảo nhân tạo nhằm thiết lập khu vực ADIZ (vùng nhận diện phòng không). Việc này thể hiện qua các việc tập trận bằng đạn thật, phối hợp pháo binh trên bờ và pháo binh trên các đảo, cùng với với lực lượng hải quân và không quân. Mục đích "chống hạm" và "chống tiếp cận" sao cho vùng không gian trên Biển Đông "bất khả xâm phạm". Các đảo nhân tạo là những điểm "cơ bản" từ đó tính bề rộng vùng nhận diện phòng không ADIZ.
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionCận cảnh thiết bị trên tàu Hải Dương 8
Việt Nam nên có những đối sách nào trước Trung Quốc?
Nhiều bài viết, bài phỏng vấn trên diễn đàn BBC có cùng nội dung đề nghị Việt Nam phải sử dụng biện pháp pháp lý, trong đó có việc đi kiện, để giải tỏa những áp lực đến từ Trung Quốc.
Hiển nhiên, việc Trung Quốc thường xuyên tập trận bằng đạn thật trên Biển Đông, quân sự hóa các đảo nhân tạo và sử dụng các đảo này để làm bàn đạp cho tàu hải cảnh và tàu khảo sát địa chất quấy nhiễu các nước chung ở Biển Đông… đã và đang là mối đe dọa thường trực không chỉ cho quyền tự do hàng hải của tàu bè các nước mà còn nguy hại đến sự ổn định và nền hòa bình của khu vực.
Đối với những hành vi của Trung Quốc liên quan tới quân sự như "quân sự hóa các đảo nhân tạo" hay "tập trận bằng đạn thật trên biển", Việt Nam khó tìm được giải pháp pháp lý phù hợp để giải quyết, bởi Trung Quốc đã giữ quyền "bảo lưu" đối với Điều 298 khoản (b) UNCLOS.
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionNgười dân Phillippines biểu tình trước cửa đại sứ quán Trung Quốc hôm 13/8, nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài của LHQ ra phán quyết về Biển Đông
Đó là những việc thuộc phạm trù quốc tế, và có thể có giải pháp đa phương mà Việt Nam là một bên có lợi.
Trung Quốc cho tập trận, cho phóng hỏa tiễn đất đối hạm từ đất liền và có thể từ các đảo, và nhằm chống tiếp cận nữa.
Để đối phó, các nước thân Mỹ có thể trang bị các loại hỏa tiễn tầm trung tương tự (có tầm hoạt động từ 500km đến 5.000km).
Việt Nam cũng có thể trang bị những thứ vũ khí này nếu điều kiện cho phép và nếu tình thế bị Trung Quốc bức hiếp thái quá.
Đối với quyền tự do hàng hải, các nước như Pháp, Anh, Nhật, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ... đều có kế hoạch riêng. Đặc biệt Hoa Kỳ, từ thời Obama với chương trình FONOP cho tàu bè đi qua Biển Đông, tất cả nhằm mục đích để bảo vệ quyền tự do hàng hải.
Việc quân sự hóa các đảo cũng là một vấn đề đa phương, vì nó đe dọa sự ổn định và nền hòa bình khu vực.
Một giải pháp đa phương, như việc tập trận của Hoa Kỳ với các nước đồng minh (như Philippines, Úc, Hàn Quốc), hoặc với Việt Nam, trên Biển Đông, nếu có, thì Việt Nam cũng là một bên có lợi.
Gần đây, có những tiếng nói từ các viên chức Hoa Kỳ, yêu cầu ông Tập Cận Bình giữ lời hứa với Tổng thống Obama năm 2015 về việc không "quân sự hóa các đảo".
Trở ngại là Tổng thống Trump hiện nay có khuynh hướng loại bỏ tất cả những "di sản" của ông Obama, ngay cả khi những chương trình này "có lợi" cho nước Mỹ (như hiệp ước TPP hay hiệp ước hạn chế nguyên tử với Iran).
Theo luật quốc tế, "tuyên bố đơn phương" từ một nguyên thủ quốc gia về một vấn đề mà trên đó thể hiện sự "tin tưởng chính đáng - confiance légitime" của đối tác, tuyên bố đó có hiệu lực ràng buộc. Nội các ông Trump có buộc ông Tập tuân thủ lời hứa hay không vẫn còn là ẩn số.
Nhưng việc Trung Quốc cho tàu bè nghiên cứu tới làm khảo sát địa chất trên thềm lục địa của Việt Nam là hành vi vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam, và việc các tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống là thể hiện hành vi thách thức các tàu chấp pháp của Việt Nam, hiển nhiên là việc thách thức quyền tài phán của Việt Nam trên vùng EEZ của Việt Nam.
Về pháp lý, Việt Nam có thể sử dụng các điều khoản thuộc Công ước liên quan đến Tự do Hàng hải và Hàng không để đưa Trung Quốc ra một tòa án quốc tế thích hợp (trong trường hợp Trung Quốc hạn chế quyền tự do hàng hải và Việt Nam đã sử dụng hết các biện pháp khác mà không đạt kết quả).
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionNgười dân Phillippines biểu tình trước cửa đại sứ quán Trung Quốc hôm 13/8, nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài của LHQ ra phán quyết về Biển Đông
Việt Nam tham gia tới mức nào trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ra PCA?
Có ý kiến cho rằng Việt Nam cần phải kiện Trung Quốc trước một "Hội đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS" bởi vì "Phán quyết (PCA 11-7-2016) chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc. Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc".
Để biết Việt Nam có bị ràng buộc đối với phán quyết ngày 11/7/2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) hay không, ta cần tìm hiểu Tòa có thẩm quyền phân xử về các việc gì và nội dung phán quyết gồm những điều gì.
Philippines đơn phương đệ đơn kiện Trung Quốc ra PCA ngày 22/1/2013. Tòa được thành lập theo Phụ lục VII, phần XV, Mục 2 của UNCLOS.
Tòa có thẩm quyền "giải thích và áp dụng công ước" (điều 286).
Đây là một phiên tòa với "thủ tục bắt buộc", các bên trong vụ kiện không có quyền từ khước tham gia. Tòa ra "những quyết định bắt buộc", các bên trong vụ kiện không thể khiếu nại lên bất cứ tòa nào. (Đúng như tiêu đề Mục 2). Điều này áp dụng ngay cả khi một bên đơn phương đi kiện.
Nội dung vụ kiện xoay chung quanh việc "giải thích và cách áp dụng công ước" trong phạm vi Biển Đông. Tòa đặc biệt khảo sát yêu sách "đường chữ U chín đoạn" của Trung Quốc có phù hợp với UNCLOS hay không. Tòa khảo sát "vùng nước quần đảo" cũng như tư cách pháp lý các đảo, đá, bãi chìm, bãi nổi… thuộc quần đảo Trường Sa.
Việt Nam là quốc gia nằm bên Biển Đông, có tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tuy không là "một bên" trong vụ kiện nhưng Việt Nam có đệ trình công hàm lên Tòa, một mặt để bảo vệ lợi ích của mình, mặt khác công nhận "thẩm quyền" của Tòa đối với các khiếu nại của Philippines. Việt Nam còn đề nghị Tòa bác bỏ yêu sách phi lý của Trung Quốc thể hiện theo bản đồ 9 đoạn đường chữ U.
Trung Quốc từ đầu đã tuyên bố không tham gia, không thừa nhận thẩm quyền của tòa, và cũng không thi hành phán quyết. Tổng thống Philippines Duterte thì không yêu cầu Trung Quốc thực thi phán quyết.
Trung Quốc toan tính gặm nhấm Biển Đông bằng tàu khảo cứu, hải cảnh
Việc điều tàu mang danh nghĩa nghiên cứu khoa học xâm phạm vùng biển các quốc gia khác dường như là chiến lược mới của Trung Quốc.
Tàu Địa chất Hải dương 8 hoạt động gần bờ biển Trung Quốc hồi năm 2018. Ảnh: Schottel.
Trung Quốc từ đầu tháng 7 triển khai tàu khảo sát Địa chất Hải dương 8 dưới sự hộ tống của nhiều tàu hải cảnh và dân binh có các hoạt động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông. Sau khi Việt Nam nhiều lần kiên quyết phản đối và lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế, nhóm tàu Trung Quốc đã dừng hoạt động khảo sát địa chấn và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam vào chiều 7/8.
Cũng trong thời gian đó, tàu khảo sát Trung Quốc Dong Fang Hong 3 xuất hiện ở phía bắc đảo Luzon, ngay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Từ đầu tháng này, tàu khảo sát Zhang Jian của Trung Quốc cũng bắt đầu hoạt động ở vùng biển Philippines, cách bờ biển phía đông Philippines 80 hải lý.
Hoạt động của hai tàu nghiên cứu Trung Quốc này được Ryan Martinson, phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc thuộc Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ, phát hiện thông qua dữ liệu theo dõi từ Marine Traffic.
Giới chuyên gia nhận định hành động điều tàu mang danh nghĩa nghiên cứu khoa học xâm phạm vùng biển các quốc gia khác dường như là chiến lược mới của Trung Quốc nhằm tuyên bố chủ quyền phi lý trên Biển Đông một cách âm thầm, ít gây chú ý.
Những động thái của Trung Quốc cũng vấp phải phản ứng quyết liệt từ phía Philippines. Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin hôm 9/8 tuyên bố sẽ trao công hàm phản đối ngoại giao, sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana đề nghị Bộ Ngoại giao tiếp tục phản đối sự hiện diện không báo trước của tàu khảo sát Trung Quốc trong EEZ nước này.
Bộ trưởng Lorenzana cho biết mỗi lần các quốc gia Mỹ, Nhật Bản, Pháp thực hiện khảo sát ở Biển Đông, họ đều thông báo trước và cho phép các nhà khoa học Philippines tiếp cận tàu khảo sát để nắm rõ hoạt động, trong khi Manila không biết gì về hoạt động của tàu nghiên cứu Trung Quốc trong EEZ của mình. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), bất kỳ hoạt động nghiên cứu, khảo sát nào trong EEZ đều phải được quốc gia ven biển cho phép.
Các nhà quan sát chỉ ra rằng tàu khảo sát Trung Quốc không hoạt động đơn độc trên Biển Đông, mà luôn có một đội tàu hải cảnh đi theo hộ tống. Giới phân tích nhận định với đội hình như vậy, Bắc Kinh có thể củng cố hiện diện bán quân sự ở Biển Đông, sử dụng lực lượng dân sự để tăng cường thực thi pháp luật và thậm chí ngăn chặn hoạt động trên biển của các quốc gia khác.
Adam Ni, nhà nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Macquarie ở Sydney, Australia, đánh giá tàu hải cảnh "đóng vai trò chủ chốt" giúp Trung Quốc đối phó với các tranh chấp chủ quyền trên biển thông qua hoạt động tuần tra tại những vùng biển tranh chấp nhằm áp đặt yêu sách chủ quyền. "Chúng giúp các tàu chiến của hải quân Trung Quốc rảnh tay để vươn tới những vùng biển ngày càng cách xa đại lục", ông cho hay.
Theo nghị sĩ Philippines Gary Alejano, trong nhiều trường hợp, hải cảnh và lực lượng dân binh được Trung Quốc sử dụng theo "chiến lược cải bắp" nhằm dần gặm nhấm Biển Đông bằng cách đe dọa, ngăn cản hải quân và ngư dân Philippines tại những vùng biển mà họ tuyên bố chủ quyền.
"Như một chiếc bắp cải, một số tàu Trung Quốc sẽ bao vây vùng biển của chúng tôi nhằm đe dọa binh sĩ, ngư dân và ngăn chúng tôi kiểm soát hiệu quả các đảo", Alejano nói.
Collin Koh, nhà nghiên cứu hàng hải tại Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, cho rằng việc duy trì đội hình tàu hải cảnh, tàu dân sự, tàu nghiên cứu, Trung Quốc có thể tạo ra ấn tượng rằng chúng ít gây bất ổn hơn so với lực lượng hải quân.
"Triển khai hải cảnh ở tuyến đầu dường như ít mang tính gây hấn hơn về mặt lý thuyết, dù hiện nay bắt đầu có những câu hỏi hay các mối ngờ vực được đặt ra rằng liệu điều này có luôn đúng hay không bởi việc sử dụng lực lượng hải cảnh có khả năng che đậy các hành động hung hăng hơn tại những điểm nóng tranh chấp", ông cho biết.
Tàu khảo sát Đại Dương Hiệu của Trung Quốc. Ảnh: CCTV.
Hồi cuối tháng 7, Trung Quốc thông báo hoàn thành tàu khảo sát Đại Dương Hiệu dài 98,5 mét, rộng 17 mét, trọng tải 4.600 tấn, tốc độ tối đa 16 hải lý/giờ và tầm hoạt động khoảng 14.000 hải lý. Đại Dương Hiệu được cho là có khả năng thăm dò tài nguyên ở sâu dưới đáy bất kỳ vùng biển nào trên thế giới, và các chuyên gia nhận định nó nhiều khả năng sẽ được triển khai tới Biển Đông.
Giới quan sát đánh giá với việc đưa tàu Đại Dương Hiệu vào hoạt động, ngoài hoạt động nghiên cứu, Trung Quốc có lẽ còn hướng tới mục tiêu khác cao hơn: Tiếp tục củng cố các yêu sách chủ quyền ở những vùng biển tranh chấp, đặc biệt là tại Biển Đông.
Theo Koh, nếu được triển khai tới Biển Đông, Đại Dương Hiệu sẽ tăng cường sự hiện diện trên biển của Trung Quốc trong khu vực. "Không chỉ vậy, con tàu còn có thể thu thập các thông tin và dữ liệu hải dương học quan trọng như điều kiện đáy biển hay mô hình sinh thái, giúp Bắc Kinh tăng cường hiểu biết về vùng biển, tối ưu hóa phạm vi hoạt động dân sự và quân sự, nhằm củng cố các yêu sách chủ quyền", ông nhận định.
Vũ Hoàng (Theo SCMP)
Phán quyết PCA có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam hay không?
Theo tôi, để làm sáng tỏ việc này Việt Nam có thể làm hai việc.
Thứ nhất, Việt Nam hợp tác cùng Malaysia khiếu nại lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa thuộc LHQ (Commission on the Limits of the Continental Shelf - CLCS) về hồ sơ "Ranh giới thềm lục địa mở rộng" (200+150 hải lý).
Hồ sơ chung của Việt Nam và Malaysia nộp văn phòng Tổng Thư ký LHQ ngày 6/5/ 2009 đã bị Trung Quốc phản bác với lý do trình bày trong công hàm ngày 7/5/2009.
Nội dung công hàm trên của Trung Quốc gồm các việc Trung Quốc có chủ quyền các đảo Trường Sa và "vùng nước liền kề". Tất cả được "minh họa" qua bản đồ 9 đoạn hình chữ U. Đây là lần đầu tiên bản đồ này xuất hiện trước LHQ.
Các yêu sách của Trung Quốc đã bị phán quyết PCA ngày 11/7/2016 bác bỏ. Vùng nước lịch sử theo bản đồ 9 đoạn thì không phù hợp với UNCLOS. Trong khi các đảo thuộc Trường Sa thì không có đảo nào được xem là "đảo" theo qui định tại Điều 121(3).
Khi mà toàn bộ nội dung công hàm phản đối của Trung Quốc đã bị PCA bác bỏ thì Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa không có lý do nào để từ chối, không nhìn nhận hồ sơ chung của Việt Nam và Malaysia là hợp cách, đáp ứng đúng như qui định của Luật Biển 1982.
Thứ hai,Việt Nam có thể làm thủ tục đệ đơn lên Tòa án công lý Quốc tế (ICJ) hay Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để thụ lý xem rằng phán quyết của PCA có thể áp dụng cho Việt Nam trong khu vực hải phận kinh tế độc quyền và thềm lục địa của Việt Nam hay không?
Thông thường các phán quyết của tòa án quốc tế sau đó trở thành "thông lệ", một hình thức "luật" hay "hệ qui chiếu", để các vụ án sau này làm cơ bản.
Phán quyết của PCA có mục đích "diễn giải luật và phương cách áp dụng luật", đặc biệt là cho Quần đảo Trường Sa và khu vực Biển Đông.
Nếu Việt Nam kiện Trung Quốc ra một tòa án về Luật Biển, (như Hội đồng Trọng tài theo ý kiến của bài viết trên diễn đàn BBC) thì những khiếu nại của Việt Nam không thể khác với khiếu nại của Philippines, nhất là về Đường 9 đoạn. Tòa không thể đưa ra một cách "diễn giải" khác hay một cách "áp dụng luật" khác với phán quyết PCA 11/7/2016.
Làm được một trong hai việc này Việt Nam đã "đi tắt" tới đích dễ dàng mà không cần phải đi kiện, vừa tốn kém vừa mất thời gian.
Bản quyền hình ảnhGOOGLE EARTH/PHAM VAN SONGImage captionTrung Quốc khảo sát và uy hiếp bên trong EEZ 200 hải lý của Việt Nam
Liệu Trung Quốc có rút khỏi UNCLOS, khiến Việt Nam mất cơ hội khởi kiện?
Bài viết trên diễn đàn BBC cũng có ý kiến cho rằng nếu Việt Nam không kiện Trung Quốc bây giờ thì e rằng Việt Nam sẽ không còn cơ hội, bởi Trung Quốc có thể tuyên bố rút khỏi Công ước Quốc tế về Luật biển (UNCLOS 1982) để không còn bị ràng buộc bới bộ luật này nữa.
Ý kiến này có đáng lo ngại hay không?
Theo tôi, sau phán quyết PCA ngày 11/7/2016, đến nay Trung Quốc không rút ra khỏi UNCLOS thì ít có khả năng Trung Quốc sẽ rút trong tương lai.
Ý kiến "Trung Quốc có thể rút khỏi UNCLOS" nguyên thủy là của luật gia Julian Ku viết trên Opinio Juris trong một bài viết ngày 4/11/2015.
Tác giả cho rằng Trung Quốc có thể rút khỏi UNCLOS (để tránh những ràng buộc trong vụ kiện) nhưng vẫn gia nhập các kết ước khác của LHQ về luật biển (thông luật quốc tế - droit international coutumier). Tác giả cho rằng việc này sẽ không tốt cho Trung Quốc nhưng chắc chắn nó không giúp cho Philippines.
Nếu Trung Quốc rút khỏi UNCLOS, lợi bất cập hại.
Cái "lợi" hiển nhiên là để tránh ràng buộc phán quyết của PCA.
Thực tế cho thấy Trung Quốc đã làm bằng cách khác, là tuyên bố không tham gia, không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa và dĩ nhiên không công nhận phán quyết của Tòa.
Cái hại thì có rất nhiều. Rút khỏi Luật Biển 1982, Trung Quốc sẽ trở lại tuyên bố 4/9/1958 về hải phận.
Thứ nhất, tất cả các đảo của Trung Quốc sẽ không còn hưởng vùng đặc quyène kinh tế (EEZ 200 hải lý) cũng như thềm lục địa. Qui ước "vùng đặc quyền kinh tế" và thềm lục địa chỉ đến từ UNCLOS 1982.
Thứ hai, tất cả các đảo của Trung Quốc chỉ có hiệu lực 12 hải lý. Công hàm 14/9/1958 của Việt Nam chỉ công nhận "hải phận 12 hải lý" mà thôi.
Điều tệ hại là Trung Quốc không được hưởng luật về "thời hiệu" đến từ UNCLOS 1982.
Có nghĩa là trước kia, Trung Quốc tuyên bố lãnh thổ và các đảo chỉ có hiệu lực 12 hải lý lãnh hải. Sau khi UNCLOS 1982 được đưa vào áp dụng, hải phận lãnh thổ và các đảo của Trung Quốc vẫn chỉ có 12 hải lý lãnh hải mà thôi.
Hiển nhiên, phía Việt Nam có lợi.
Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc lúc đó sẽ trở thành việc áp đặt đơn phương "biển lịch sử" của Trung Quốc mà điều này án lệ 11/7/2016 đã bác bỏ.
Trung Quốc chỉ có thể áp đặt việc này qua một cuộc chiến tranh mà phía Trung Quốc giành chiến thắng toàn diện.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, nhà nghiên cứu và biên khảo hiện đang sống tại Marseille, Pháp.
Tàu chiến Mỹ sẽ tiếp tục duy trì hiện diện tại Biển Đông
Chuẩn đô đốc Karl Thomas hôm qua tuyên bố hải quân Mỹ sẽ tiếp tục hiện diện tại Biển Đông để đảm bảo an ninh và tự do hàng hải.
Tàu sân bay USS Ronald Reagan của Mỹ neo đậu tại cảng Manila hôm 7/8. Ảnh: AFP
Phát biểu được chuẩn đô đốc Thomas, chỉ huy nhóm tác chiến 70 của tàu sân bay USS Ronald Reagan, đưa ra khi đón các phóng viên trên siêu tàu sân bay đang neo đậu tại cảng Manila.
"Chúng tôi có hiệp ước phòng thủ chung với Philippines. Chúng tôi hiện diện ở khu vực để đảm bảo an ninh và ổn định. Con tàu này rất có năng lực và sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống liên quan đến an ninh từ khủng hoảng đến thảm họa nhân đạo. Chúng tôi sẵn sàng làm điều đó", chỉ huy hải quân Mỹ khẳng định.
Khi được hỏi về những thách thức trong việc đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông, Thomas cho biết có nhiều tàu chiến đang hoạt động trong vùng biển này. Dù chuẩn đô đốc Mỹ không đề cập cụ thể tàu của nước nào, một số thủy thủ trên USS Ronald Reagan khẳng định đó chủ yếu là chiến hạm Trung Quốc.
Theo Thomas, mục đích sự hiện diện của USS Ronald Reagan tại khu vực là nhằm thể hiện quyền tự do di chuyển và hoạt động tại bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép.
Tàu sân bay USS Ronald Reagan cùng hai tàu tuần dương mang tên lửa dẫn đường lớp Ticonderoga là USS Antietam và USS Chancellorsville ngày 7/8 ghé thăm cảng Manila của Philippines sau hành trình dài ngày trên Biển Đông. Trong quá trình di chuyển từ cảng Yokosuka, Nhật Bản tới Manila, các máy bay chiến đấu trên tàu Ronald Reagan đã tiến hành một số hoạt động huấn luyện trên Biển Đông.
Chuyến thăm của tàu Ronald Reagan diễn ra sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper lên tiếng chỉ trích hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông chủ Lầu Năm Góc cho rằng hành vi này cùng với chính sách kinh tế của Bắc Kinh đang gây bất ổn cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Tình hình Biển Đông gần đây trở nên căng thẳng sau khi nhóm tàu khảo sát Địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam ở phía Nam Biển Đông. Đến chiều 7/8, nhóm tàu này đã dừng hoạt động khảo sát địa chấn và rời khỏi EEZ Việt Nam.
Hai tàu khảo sát khác Trung Quốc hồi đầu tháng cũng tiến vào EEZ của Philippines khiến Bộ Ngoại giao nước này tuyên bố sẽ gửi công hàm ngoại giao phản đối.
Tại hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN vừa diễn ra ở Bangkok, Thái Lan, Việt Nam đã nêu rõ Trung Quốc là bên có hành vi gây hấn ở Biển Đông và nhận được sự ủng hộ của đông đảo đại diện các nước tham gia. Ngoại trưởng Mỹ, Nhật, Australia hôm 2/8 ra tuyên bố chung bày tỏ quan ngại về diễn biến tiêu cực và hoạt động triển khai vũ khí ở Biển Đông.
Bắc Kinh nói gì về Hà Nội trên truyền thông của họ?!
Trung Quốc đuổi tàu CS biển VN chạy "có cờ"!!!
Bảo Thiên - Như Trúc (Danlambao)- Trong tuần qua, các trang mạng xã hội Trung Quốc đã lần lượt xuất hiện nhiều bài mô tả chi tiết "đụng độ trên biển Hoa Nam" - sự kiện căng thằng khi tàu TQ hoạt động phi pháp trong vùng EEZ và thềm lục địa VN hơn 1 tháng tại bãi Tư Chính và gần 2 tháng tại bãi Nam Côn Sơn (lô 06.1).
Thông tin Trung Quốc đưa ra trùng khớp với những gì mà GS Thayer cho lên mạng cũng trong tuần qua. Hà Nội có khả năng thông qua ông Thayer đánh tiếng về việc sẽ cho công bố chi tiết hơn những gì đã và đang xảy ra thì lập tức Bắc Kinh cho công bố thông tin theo kiểu "báo cáo nội bộ" lên các trang mạng và cả các trang tin online thuộc các công ty sân sau và có hợp đồng với đội tác chiến mạng của Bắc Kinh (như trang Tây Lục với chi tiết vụ đụng độ tàu TQ và VN bên dưới link).
Có thể điểm lại các chi tiết chính:
- Số lượng tàu 30 chiếc hoặc hơn.
- Đã có tấn công vòi rồng
TQ đã cho điều 2 tàu chiến (warships) 10.000 tấn - khu trục hạm đến hổ trợ tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 và đuổi tàu CS biển VN chạy "có cờ".
Có thể dự báo Bắc Kinh đang dọn đường và sẽ cho công bố "bằng chứng VN xâm phạm chủ quyền của TQ khi cho tàu cảnh sát biết khiêu khích và đe dọa tàu cá, tàu thăm dò địa chất của TQ cũng như ngăn cản các hoạt động của tàu Hải Dương 8. và sau đó tàu hải quân PLA can thiệp thì tàu VN bỏ chạy".
Hãy chờ xem Bắc Kinh sẽ công bố chính thức chi tiết thế nào về cái mà họ đang dẫn dắt dư luận trong nước trước khi bộ ngoại giao TQ lên tiếng chính thức!?
*
Bài viết: Tàu Cảnh sát biển Việt Nam một lần nữa thách thức! Siêu cường quyết đoán ra quân xua đuổi!
Trong quãng thời gian gần đây, Việt Nam quốc gia nhỏ bé này có một chút không an phận, nhiều lần phái tàu cảnh sát biển thách thức điểm mấu chốt của siêu cường (nước lớn), vào tháng trước, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam (Trong bài gọi là Lực lượng bảo vệ bờ biển Việt Nam) đã phái nhiều tàu Cảnh sát biển ra tổ chức ngăn trở các tàu của ngư dân cường quốc (siêu cường) đánh bắt, những ngư dân này đang thực hiện việc đánh bắt bình thường, không hề xâm phạm lãnh hải của bất kỳ quốc gia này, nhưng chính quyền Việt Nam lại dùng từ chấp pháp, kiên định cho rằng cường quốc vi phạm Luật hải dương quốc tế, xâm phạm lãnh hải của Việt Nam, hơn nữa tiến hành xua đuổi đối với những ngư dân này, còn tiến hành bắt giữ, câu lưu một số tàu ngư dân. Dưới sự cảnh cáo nghiêm khắc của cường quốc, chính quyền Việt Nam không những không phóng thích những người này, ngược lại còn làm dữ hơn, tiến hành ngăn trở hoạt động thăm dò hải dương nước xa của cường quốc.
Theo như đưa tin từ truyền thông, trong những ngày gần đây, cường quốc đã phái ra hai tàu thăm dò cùng các tàu bảo vệ đã tiến vào khu vực lãnh hải thuộc quyền tài phán để tiến hành hoạt động thăm dò bình thường, nhưng phía Cảnh sát biển Việt Nam đột ngột phái ra 4 tàu cảnh sát biển tiến hành ngăn trở, không cho phép tàu thăm dò của cường quốc tiến vào khu vực biển liên quan tiến hành tác nghiệp, trong quá trình đối đầu giữa hai bên, Cảnh sát biển Việt Nam gọi tới nhiều tàu cảnh sát biển cỡ nhỏ ở khu vực đó, đạt tới 30 tàu, tiến hành đối đầu với các tàu thăm dò của cường quốc, trong quá trình này, tàu Cảnh sát biển Việt Nam nhiều lần sử dụng vòi rồng phun nước tấn công tàu thăm dò của cường quốc, hơn nữa đưa ra lời cảnh cáo, yêu cầu tàu thăm dò của cường quốc lập tức rút khỏi khu vực trên, nhưng tàu thăm dò của cường quốc vẫn không nao núng, tiến hành triển khai đối đầu với cách tàu Cảnh sát biển Việt Nam.
Bởi vì phía Việt Nam đã điều động 2 tàu Cảnh sát biển 4000 tấn với trang bị pháo 30mm, hai tàu thăm dò của cường quốc hiển nhiên ở điều kiện bất lợi, tình hình hết sức căng thẳng, bất đắc dĩ, hai tàu thăm dò này phát tín hiệu cầu cứu, sau đó tàu quân sự đang thực thi nhiệm vụ ở khu vực gần đó đã xuất kích, sau đó hai tàu quân sự của cường quốc đã khẩn cấp đến khu vực vùng biển đó. Theo tin được biết, sau khi hai tàu quân sự 10 nghìn tấn của cường quốc đi tới vùng biển đó, thông qua radar đã phát ra cảnh cáo cứng rắn đối với phía tàu Cảnh sát biển Việt Nam, yêu cầu tàu Cảnh sát biển Việt Nam lập tức rút khỏi vùng biển trên, nhưng tàu Cảnh sát biển Việt Nam vẫn tiếp tục mạo hiểm, không những không rời khỏi đó, mà còn bắn lên trời nhiều phát đạn pháo.
Dưới tình hình như vậy, tàu quân sự của cường quốc không thể nào nhẫn nhịn được nữa, sử dụng pháo phụ (cỡ nòng nhỏ hơn) phóng hơn một trăm quả đạn thật cùng đạn gây nhiễu, những quả đạn này đều rơi vào khu vực gần tàu Việt Nam, tàu Cảnh sát biển Việt Nam nhìn thấy tình hình không ổn, rằng tàu quân sự của cường quốc muốn ra tay thật, liền ngay lập tức né tránh chạy trốn. Sau đó, hai tàu thăm dò của cường quốc tiến hành tác nghiệp bình thường, còn hai tàu quân sự thì không rời khỏi khu vực đó, một mực đi tuần tra ở xung quanh, ngăn ngừa tàu Cảnh sát biển Việt Nam một lần nữa thách thức.
Đây không phải là lần đầu tiên tàu Cảnh sát biển Việt Nam uy hiếp các tàu cá cường quốc cùng các hoạt động bình thường, vào tháng trước, hai bên còn có xung đột căng thẳng, tàu Cảnh sát biển Việt Nam ngăn trở dàn khoan khí thiên nhiên của của cường quốc.
Trong mấy năm gần đây, cùng với sự phát triển và vươn lên của ngành du lịch Việt Nam, doanh thu tài chính của chính quyền địa phương không ngừng gia tăng, nhằm để làm lớn mạnh lực lượng Cảnh sát biển, chính quyền đương cục Việt Nam đầu tư một lượng lớn tiền bạc mua tàu Cảnh sát biển có trọng lượng lớn từ Hòa Lan, hơn nữa lắp đặt vũ khí tiên tiến, thường xuyên được phái đi ức hiếp (bắt nạt) các tàu cảnh sát biển quốc gia láng giềng. Vào năm ngoái, tàu Cảnh sát biển Việt Nam từng đối đầu với các tàu quân sự của Indonesia, hơn nữa tấn công vô lý các tàu quân sự của Indonesia, tạo thành sự cố với thương vong nghiêm trọng.
Trong khi đó ở hiện tại, Việt Nam đang là người đại diện (tay sai) cho Hoa Kỳ ở khu vực Nam Á, không ngừng gửi các tàu Cảnh sát biển thách thức điểm mấu chốt của cường quốc, dưới sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Việt Nam mười phần tự tin, thật sự là không nhìn thấy quan tài thì không đổ lệ.
Nhưng thông qua những tình hình sự việc gần đây, dưới sự cảnh cáo của cường quốc, chính quyền đương cục Việt Nam cũng không thể không thành thật trở lại, nếu như tiếp tục thách thức điểm mấu chốt (giới hạn đỏ) của cường quốc, thì sẽ có thể là không còn cảnh cáo đơn giản như vậy nữa.
Đối với sự kiện tàu Cảnh sát biển Việt Nam đâm tàu hộ vệ Indonesia, phía Indonesia đưa ra câu trả lời. Phía Indonesia nói rằng, sự kiện lần này xảy ra trong vùng đặc quyền kinh tế Indonesia. Trước khi xảy ra va chạm, tàu hộ vệ Indonesia chặn lại một tàu bắt cá của Việt Nam, tàu cá này vào thời điểm đó đang thực hiện đánh bắt cá phi pháp, sau đó tàu này liền gặp phải va chạm từ phía tàu của Cảnh sát biển Việt Nam. Lần va chạm này khiến cho tàu cá bị chìm, phía Indonesia câu lưu 12 thuyền viên đánh cá, nói rằng bọn họ trước mắt bị giam giữ ở một căn cứ hải quân, "chờ đợi trình tự pháp luật tiếp theo".
Hai thành viên của tàu cá thì nhảy xuống biển và được tàu Cảnh sát biển Việt Nam cứu.
Điều đáng chú ý là, đoạn phim về vụ va chạm giữa hai bên đã được lưu truyền lên mạng xã hội.
Video cho thấy, tàu Cảnh sát biển Việt Nam chủ động va chạm vào tàu hộ vệ Indonesia. Sau đó, binh sĩ Indonesia cầm súng đối đầu với thuyền viên Việt Nam, hơn nữa sử dụng que gỗ và các dụng cụ khác đánh nhau với phía Việt Nam. Binh sĩ hải quân Indonesia còn chửi câu tục tĩu đối với phía Việt Nam.
Hãng tin AP dẫn lời tư lệnh Hạm đội thứ nhất Hải quân Indonesia là Yudo Margono nói rằng, địa điểm xảy ra sự việc là khu vực biển Bắc Natuna (từ năm 2017 trở đi Indonesia đổi tên khu vực biển cực nam biển Nam Trung Quốc với tên riêng). Ông ta đồng thời nói, Việt Nam cũng đưa ra yêu cầu chủ quyền với vùng biển trên.
Theo tin từ Tân Hoa Xã, từ năm 2014 tới nay, Indonesia đã liên tục dùng phương pháp dọn dẹp sạch sau đó kích nổ cho chìm các tàu đánh bắt cá phi pháp. Trong mấy tháng gần đây, cách làm này bịdừng lại. Nhưng Bộ trưởng Bộ ngư nghiệp Indonesia ngày 29 tuyên bố, quốc gia này sẽ nối lại cách làm này, kế hoạch cụ thể là ngày 4 tháng 5 đánh chìm 51 tàu đánh bắt cá phi pháp, trong đó phần nhiều là các tàu cá của Việt Nam.
Nhà cầm quyền VN vi hiến khi đàn áp biểu tình chống Trung Cộng xâm lược
Anh Trần Bang (Sài Gòn) bị đánh khi anh tham gia biểu tình ngày 5/11/2015 phản đối trùm xâm lược Tập Cận Bình sang Việt Nam (ảnh cắt từ clip)
Nguyễn Tường Thụy
Những cuộc biểu tình nhỏ lẻ nhưng ngoan cường
Như vậy là trong hơn 1 tháng Trung Cộng xâm phạm và quấy nhiễu tại khu bực Bãi Tư Chính, có thể nói nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã kiểm soát được biểu tình. Nếu như vụ tàu HD 981 xâm phạm vùng biển của Việt Nam tháng 5/2014, biểu tình đã nổ ra khắp nơi với hàng chục nghìn người tham gia, áp sát được tận đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội thì vụ TC xâm phạm Bãi Tư Chính chỉ là vài cuộc “tập kích” nhỏ lẻ.
Có thể kể ra: cuộc biểu tình trước đại sứ quán TC ngày 6/8/2019 với chừng 10 người tham gia, cuộc biểu tình của Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng ngày 8/8/2019 trước lãnh sự quán TC tại Sài Gòn cũng chỉ khoảng gần 10 người.
Một cuộc biểu tình khác ở khu công nghiệp Tân Tạo, cùng ngày với cuộc biểu tình trước đại sứ quan TC ở HN, có chừng 4 – 5 người tham gia.
Có cả “cuộc” biểu tình đơn độc. Anh Vũ Hệ từ Nghệ An đưa con ra Hà Nội chữa bệnh. Ngày 8/8/2019 anh ra ngã tư vòng xuyến Nguyễn Chí Thanh giương biểu ngữ “Đả đảo Trung Quốc xâm lược Bãi Tư Chính của Việt Nam! China get out of Vietnam.”
Có lẽ những cuộc biểu tình nhỏ lẻ như vậy không đủ để cho nhà cầm quyền huy động quân đến đàn áp. Ngoài ra, còn có yếu tố bí mật, bất ngờ và giải tán sớm. Tuy nhiên, sau đó cũng có những người bị sách nhiễu do đi biểu tình hoặc viết bài trên mạng: Bác Lê Gia Khánh (Hà Nội) bị yêu cầu lên quận để cam kết không được bén mảng đến đại sứ quán TC và không biểu tình nữa; Vũ Hệ bị đưa về đồn tra vấn trong nhiều giờ; Lê Thị Thanh Thúy (Sài Gòn) bị phạt 750 nghìn đồng; Facebooker Phạm Hiền (Kiên Giang) bị tịch thu máy tính và điện thoại…
Tôi phải kể cụ thể như vậy để thấy rằng, đợt biểu tình phản đối TC xâm phạm Bãi Tư Chính chỉ thu hút được chừng 25 người tham gia. Trước hết, phải khẳng định, đó là những con người can đảm, ngoan cường và vô cùng lo lắng cho vận mệnh của đất nước. Nhưng con số đó cũng nói lên nhà cầm quyền cộng sản cơ bản đã thành công trong việc đàn áp biểu tình chống Trung Cộng xâm lược.
Đàn áp biểu tình là vi hiến
Trước hết, cần khẳng định, nhà cầm quyền đàn áp biểu tình là vi hiến.
Điều 25 Hiến pháp xác nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”.
Như vậy, không ai có thể tước đi quyền biểu tình của công dân. Nhà cầm quyền chỉ có thể ngăn chặn những hành vi quá khích như bạo loạn, đập phá. Những hành vi này sẽ bị điều chỉnh bởi các luật khác ví dụ Bộ luật hình sự chứ không phải bị xử vì tội biểu tình hay kêu gọi biểu tình. Biểu tình và kêu gọi biểu tình là những hành vi không bị cấm.
Tuy nhiên điều 25 thòng một câu: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Vậy hoạt động biểu tình do luật nào qui định? Đó là Luật biểu tình mà quốc hội chây ỳ, không chịu ban hành. Mặc dù vậy, chưa có luật biểu tình không có nghĩa là người dân không được biểu tình. Người dân vẫn có quyền thực hiện quyền biểu tình theo cách hiểu của họ, tức là thể hiện thái độ đối với một vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội bức xúc nào đó trong trật tự và ôn hòa.
Ngăn chặn, đàn áp biểu tình ôn hòa bằng cách rình rập tận nhà từng người, bắt bớ, đánh đập người tham gia biểu tình ôn hòa là hoàn toàn vi phạm pháp luật. Thậm chí, cả những người bị nghi ngờ có ý định biểu tình cũng bị bắt bớ và đánh đập vô cùng dã man. Cuộc bố ráp bắt bớ ở Sài Gòn ngày 17/6/2018 là một ví dụ. Không chỉ vi hiến mà đó còn là tội ác.
Vì vậy khi nói: “nhà cầm quyền cộng sản cơ bản đã thành công trong việc đàn áp biểu tình chống Trung Cộng xâm lược” là nói họ đã thành công bằng các biện pháp vi hiến.
Trong các cuộc đối thoại giữa người biểu tình bị bắt về đồn với an ninh, phía an ninh (đại diện cho nhà cầm quyền) không thể trả lời được những câu hỏi của người biểu tình do tính phi lý, phi pháp của họ.
Câu hỏi dành cho Nguyễn Phú Trọng
Cuối cùng, chỉ xin hỏi ông Nguyễn Phú Trọng một câu, nếu ông trả lời được thì tôi sẽ không đòi biểu tình nữa.
Trong tư duy pháp luật của Quốc hội (mà thực chất là của đảng CSVN) thì khi các ông chưa ra luật biểu tình thì đương nhiên quyền biểu tình trong Hiến pháp bị cắt!? Tôi cứ tạm cho là như vậy đi, tức là tôi đặt ra một giả thiết chứ không thừa nhận.
Điều 4 Hiến pháp ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Tương tự điều 25, điều 4 cũng thòng một câu: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Vậy cái khuôn khổ ấy là gì thưa ông? Có phải đó là luật về sự lãnh đạo của đảng CSVN. Nhưng luật này, cũng giống như luật biểu tình đều chưa có, đúng không?
Dân biểu tình thì các ông bảo là chưa có Luật biểu tình nên không được phép biểu tình.
Vậy khi chưa có luật về sự lãnh đạo của đảng CSVN thì tại sao các ông không ngồi đợi? Nếu chưa có luật biểu tình mà biểu tình là phi pháp thì khi chưa có Luật về sự lãnh đạo của đảng CSVN mà đảng CSVN cứ lãnh đạo cũng là phi pháp.
Nói như thế mới thể hiện tinh thần bình đẳng. Không thể để cho 5 triệu người được bình đẳng hơn 90 triệu người còn lại.
Trên thực tế, mặc dù không có luật về sự lãnh đạo của đảng CSVN nhưng các ông vẫn cứ hoạt động suốt 89 năm nay. Chính vì hoạt động lung tung, tùy thích không theo khuôn khổ nào cho nên đất nước mới ra nông nỗi này. Đó là mất lãnh thổ, chiến tranh, nghèo đói, lầm than, bất công và tụt hậu.
Tại sao CSVN quá khiếp sợ TQ đến nỗi bất động!
Biển Đông, kiện hay không kiện?
Tiến Sĩ Đinh Xuân Quân (Nguồn: VOA)
Người dân Hà Nội xuống đường biểu tình chống Trung Quốc hồi năm 2014. (Hình: Getty Images)
Ngày 7 Tháng Tám, 2019, theo chuyên gia phân tích Devin Thorne, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Phòng (Center for Advanced Defense Studies C4ADS), các dữ kiện cho thấy tàu “Hải Dương Địa Chất 8” của Trung Quốc đã rời vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) nhưng hai tàu hộ tống Trung Quốc còn lảng vảng trong khu vực.
Từ Tháng Bảy, có tranh chấp giữa tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc làm việc trong khu vực độc quyền kinh tế Việt Nam. Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc đã nổi lên khi chuyên gia Hoa Kỳ nói nhiều tàu Trung Quốc quấy nhiễu các tàu Nga và giàn khoan Hakuryu của Nhật do hãng dầu khí Nga (Rosneft) mướn.
Theo Twitter của Ryan Martison (Đại Học Quân Sự Hải Quân Hoa Kỳ – US Naval War College) được nhiều báo chí trích dẫn, có hai diễn biến mới khác nhau đáng chú ý liên quan đến hoạt động của các tàu Trung Quốc và phản ứng của Việt Nam.
Từ ngày 3 Tháng Bảy đến 17 Tháng Bảy, 2019 tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc đi vào vùng biển gần với khu vực Bãi Tư Chính-Vũng Mây. Đi theo bảo vệ tàu này còn nhiều tàu Trung Quốc trong đó là tàu hải giám trên 10.000 tấn, số hiệu 3901, và tàu dân quân biển Qiong Sansah Yu0014. Cùng lúc có nhiều tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam.
Dữ kiện thứ hai, theo Ryan Martinson, thì từ ngày 18 Tháng Sáu tàu Cảnh Sát Biển Trung Quốc trang bị vũ khí hạng nặng số hiệu 35111 của Trung Quốc neo đậu cách Bãi Tư Chính 40 dặm về phía Tây (hôm 12 Tháng Bảy tàu này di chuyển đến Bãi Chữ Thập và đã quay trở lại khu vực Bãi Tư Chính). Tàu này luẩn quẩn quanh giàn khoan Hakuryu-5, ở lô 06-01 thuộc dự án Nam Côn Sơn, liên doanh của Việt Nam với Nga.
Mãi đến ngày 19 Tháng Bảy thì các thông tin này mới được phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam khẳng định. Như vậy, sau một thời gian, Biển Đông lại trở nên dậy sóng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các chính sách trấn an của Việt Nam đối với Trung Quốc không làm giảm tranh chấp, không làm bớt lòng tham của Trung Quốc. Vậy Việt Nam phải làm gì để giải quyết tình trạng bất ổn này?
Các dữ kiện về tranh chấp dầu khí
Trái với vụ tàu Hải Dương 981 năm 2014, đây là một khu rõ ràng trong vùng 200 hải lý đặc quyền kinh tế của Việt Nam nơi có dự án liên doanh giữa Tập Ðoàn Rosneft của Nga với VietsoPetro của Việt Nam. Tại đây, Rosneft của Nga đã mướn một công ty Nhật thực hiện hợp đồng khoan dầu khí ở vùng biển phía Đông Nam Việt Nam.
Vụ Bãi Tư Chính bùng nổ từ đầu Tháng Bảy, năm 2019, cho thấy một vụ khác xảy ra ngay trước đó: Từ đầu Tháng Sáu, Trung Quốc bắt đầu có động thái cản trở việc hãng Rosneft của Nga, và hành vi đó kéo dài từ đó đến nay.
Cũng nên nhớ trước đây, vào Tháng Bảy, năm 2017, và Tháng Ba, năm 2018, các tàu Trung Quốc bao vây Bãi Tư Chính để gây sức ép buộc Repsol – công ty Tây Ban Nha liên doanh với Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam phải rút khỏi mỏ dầu khí nhưng chưa đụng chạm trực tiếp đến mỏ dầu khí của Rosneft. Việc này làm cho công ty Repsol của Tây Ba Nha phải rút lui. Sau vụ Hải Dương 981, Nga chưa liên tiếng về vụ tàu Trung Quốc xâm nhập Bãi Tư Chính.
Sự kiện thứ hai là Tàu Hải Dương 8, được hỗ trợ bởi từ vài ba chục đến mức cao điểm là 80 tàu hải cảnh và tàu dân quân biển xâm phạm vào khu vực Bãi Tư Chính – gấp nhiều lần so với tàu hải cảnh của Việt Nam trong cùng khu vực.
Chính sách Việt Nam và thế giới về Biển Đông
Chính sách Hoa Kỳ: Sau 1972, Kissinger đã cho Trung Quốc thấy các ảnh vệ tinh về việc Liên Xô sẽ dùng hạt nhân vũ khí nguyên tử nếu có chiến tranh với Trung Quốc. Hoa Kỳ lôi kéo Trung Quốc về phía họ chống Nga. Hậu quả là khi có Hoàng Sa, hạm đội Mỹ làm ngơ khi Hải Quân Trung Quốc đánh Việt Nam Cộng Hòa.
Sau 1975, Việt Nam rêu rao “đỉnh cao trí tuệ loài người,…” Thủ Tướng Phạm văn Đồng đi khắp Đông Nam Á như một nước đã thắng Hoa Kỳ làm nhiều nước sợ Việt Nam và càng bị cấm vận.
Trước khi “dạy Việt Nam một bài học,” Đặng Tiểu Bình đàm phán với Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter và Hoa Kỳ cũng cho Trung Quốc cũng biết là Liên Xô không động binh. Từ 1981, Việt Nam rút quân khỏi Cambodia và làm hòa với các nước láng giềng và gia nhập ASEAN. Từ 2005, Việt Nam tiến gần Hoa Kỳ và lập lại bang giao. Năm 2016, Tổng Thống Obama cho phía Việt Nam thấy là họ sẽ không can thiệp lật đổ chế độ – công nhận ĐCS Việt Nam.
Trong suốt thời gian 1979-1991, Việt Nam còn tiếp tục đụng độ với Trung Quốc, trong đó 1988, Trung Quốc chiếm thêm một hòn đảo tại Trường Sa (bãi Johnson reef). Từ đó tới giờ Trung Quốc từ từ xây các đảo nhân tạo và tiếp tục ăn hiếp Việt Nam bằng cách đánh chìm các tàu đánh cá Việt Nam (mà phía Việt Nam gọi là “tàu lạ”), cấm đánh cá tại Biển Đông,…. Trong những năm đó tới nay, Trung Quốc có chính sách “lấy thịt đè người,” ăn hiếp láng giềng, tìm cách lấn lướt và ăn cướp quyền lợi chính đáng của các nước láng giềng. Điều này ngày càng lộ rõ.
Từ Hội Nghị Thành Đô vào Tháng Chín, 1990, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam là chịu phục Trung Quốc. Việt Nam bỏ Liên Xô nghiêng hẳn về Trung Quốc. Họ quan tâm đến việc giữ chế độ – giữ quyền lợi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hậu quả là quyền lợi của Việt Nam bị xem nhẹ.
Cuộc tranh chấp Hoa Kỳ-Trung Quốc thay đổi hẳn mọi việc. Việc Ngoại Trưởng H. Clinton viếng Hà Nội năm 2010, Việt Nam có xích gần Hoa Kỳ hơn. Việt Nam có phần “mở hơn về quan điểm,” có những bước “thay đổi quan trọng” trong mối quan hệ Việt-Mỹ” nhưng vẫn tiếp tục đánh đu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Việc xích lại Mỹ, Việt Nam chậm chạp và đòi hỏi thời gian vì chính sách của ĐCS Việt Nam sau Thành Đô.
Từ 2010 đã có chính sách “xoay trục” của Hoa kỳ và sự hiện diện của sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam. Chính sách tự do đi lại theo luật quốc tế theo luật biển UNCLOS cũng thay đổi phần nào. Đến nay Hoa Kỳ đã lên tiếng thêm là Trung Quốc không nên dùng sức mạnh “ăn hiếp các nước trong vùng.”
Năm 2014, sau sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào Biển Đông, đã có những bước tiến quan trọng. Trong nhiều năm, cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ lên tiếng và Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng chống Trung Quốc.
Từ 2018-2019 đã có sự thay đổi trong quan hệ Mỹ-Trung. Hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan đến Biển Đông chỉ vài ngày sau khi bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ lên tiếng chỉ trích thẳng thừng Trung Quốc “gây bất ổn” trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Chính sách Trung Quốc: Trong một thời gian rất lâu, Trung Quốc dùng chính sách thân thiện với Hoa Kỳ để tranh thủ dùng thời gian xây các đảo nhân tạo, dùng “chính sách tầm ăn dâu” chiếm Biển Đông. Họ không khi nào gây quá khó khăn để các nước bên ngoài Biển Đông phải can thiệp.
Tập Cận Bình và các quan chức phủ nhận việc họ “có gene đế quốc” hay theo bộ trưởng Quốc Phòng là chưa bao giờ Trung Quốc xâm lược một quốc gia nào từ trước tới đây. Người Việt Nam thì ai cũng hiểu Trung Quốc “nói một đằng làm một nẻo.”
Hết việc cấm đánh cá tới việc xây dựng đảo nhân tạo đến việc cho dân quân dọa nạt, đánh, phá rối Philippines, hay các quốc gia ASEAN khác như Malaysia và Indonesia.
Ngoài ra họ còn dùng tiền mua nhiều quốc gia trong ASEAN (Lào, Cambodia) gây chia rẽ và khó khăn trong việc thống nhất tiếng nói của tổ chức này trong việc thương thuyết về Biển Đông. Trung Quốc bị Philippines kiện vào 2016 và Trung Quốc đã thua. Tòa Trọng Tài Quốc Tế không công nhận chủ quyền “theo lịch sử” và dĩ nhiên đường “lưỡi bò.” Họ dùng tiền để bịt miệng Philippnes.
Chính sách “tầm ăn dâu” của Trung Quốc càng ngày càng dồn Việt Nam vào chân tường. Nói tóm, chính sách của Trung Quốc là dùng mọi thủ đoạn để chiếm tài nguyên dầu khí vùng Biển Đông từ một nơi không có tranh cãi đền chỗ tranh cãi qua mọi thủ đoạn.
Hiện nay Trung Quốc đang gặp một số khó khăn:
-Khó khăn tại Hồng Kông. Dân Hồng Kông không tin vào lời hứa để cho khu này tự trị. Việc này đang gây sóng gió cho nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc;
-Khó khăn tại Đài Loan. Hình ảnh Hồng Kông cho thấy mô hình Trung Quốc dụ Đài Loan không mấy khả thi;
-Khó khăn tại Tân Cương. Bị quốc tế tố là giam giữ người Ngô Duy Nhĩ trong nhà tù khổng lồ;
-Khó khăn tại Biển Đông về chủ quyền. Tòa Trọng Tài Quốc Tế không công nhận chủ quyền dựa trên lịch sử và hình lưỡi bò. Trung Quốc không công nhận phán quyết tòa trọng tài (vì tòa không có các thi hành án nhưng phán quyết sẽ vĩnh viễn). Trung Quốc đành dùng các tàu khảo sát để cho thấy là họ có chủ quyền trong vùng lưỡi bò (tàu khảo sát tại Philippines, tại bãi Tư Chính và tại Malaysia).
Khó khăn với tranh chấp thương mại Mỹ-Trung mà cả thế giới chú ý. Ngoài ra tổng thư ký Khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nêu đích danh Trung Quốc khi thăm Sydney hôm 7 Tháng Tám, 2019. Ông Jens Stoltenberg đến Úc để họp với Thủ Tướng Scott Morrisson cùng hai bộ trưởng Quốc Phòng và Ngoại Giao về các vấn đề Trung Quốc, cuộc chiến ở Afghanistan, khủng bố và an ninh mạng. Theo ông Stoltenberg, khối NATO phải đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách hợp tác chặt chẽ với các đối tác trong khu vực, như Úc, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Khó khăn với Nhật, Triều Tiên và Ấn Độ.
Chính sách Việt Nam:
Từ Hội Nghị Thành Đô vào Tháng Chín, 1990, Đảng Cộng Sản Việt Nam chịu phục tùng Trung Quốc. Việt Nam bỏ Liên Xô nghiêng hẳn về Trung Quốc. Họ quan tâm đến việc giữ chế độ – giữ quyền lợi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hậu quả là quyền lợi của tổ quốc bị xem nhẹ.
Trong nhiều năm, Việt Nam đã bị “4 tốt và 16 chữ vàng” ảnh hưởng. Chính sách của Việt Nam là phản ứng yếu ớt; “giữ gìn tình hữu nghị anh em XHCN”; đàn áp dân chúng biểu tình; nhận viện trợ và ưu đãi từ Trung Quốc, v.v.., tìm chữ “bình an tạm thời.” Với thời gian, việc mở ra phía ngoài, chính sách lấy thịt đè người của Trung Quốc đã làm một số người suy nghĩ về việc “thoát Trung.”
Dần dần Việt Nam xích lại gần lập trường quốc tế, lên tiếng nhiều hơn về chủ quyền quốc gia. Giờ lãnh đạo Việt Nam mở ra ngoài và có nhiều quan hệ quốc phòng với nhiều nước. Năm 2015, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã gặp TT Obama và nghĩ đến việc xích lại Hoa Kỳ. Hà Nội còn muốn trở thành “đối tác chiến lược” với Washington.
Nay Việt Nam phản kháng về việc cấm đánh cá tại Biển Đông, không còn tàu lạ đâm hay cướp ngư dân Việt Nam, mà nói thẳng là Trung Quốc đã gây những sự kiện này.
Hôm 7 Tháng Tám, Việt Nam lên án Trung Quốc xâm phạm chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa sau khi Bắc Kinh thông báo tập trận bắn đạn thật ở khu vực này trong hai ngày. Báo chí Việt Nam hôm Thứ Tư đưa tin tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Việt Nam cho rằng hoạt động này “xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam” đối với Hoàng Sa, quần đảo mà Trung Quốc đã chiếm từ Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974 và vẫn duy trì quyền kiểm soát tới nay.
Từ 2014 với vụ giàn khoan HQ 981 và nay vụ tàu Hải Dương 8, thì chính quyền vẫn không cho người dân lên tiếng, muốn “ỉm chuyện” Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam vẫn không dám tin tức cho dân chúng, sợ dân xuống đường.
Việt Nam chưa dứt khoát về việc đánh đu, vẫn còn sợ Trung Quốc.
Giải pháp cho Việt Nam – Kiện hay không kiện?
Việt Nam không có mấy giải pháp đối với Trung Quốc. 1) Quân sự; 2) Chính trị; 3) Luật Pháp.
Giải pháp số 1: về quân sự không mấy khả thi. Hải Quân Việt Nam còn thua xa Hải Quân Trung Quốc. Giải pháp thứ 2 có nhiều thay đổi đi từ chỗ 90% theo Trung Quốc nay may ra còn 40%. Giải pháp chính trị chưa đủ vì ASEAN bị mua chuộc và “Trung Quốc vẫn lấy thịt đè người.” Nay còn giải pháp thứ 3 về luật pháp mà cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và trên thế giới đề nghị. Với luật pháp thì mỗi nước lớn nhỏ đều có một lá phiếu ngang nhau.
Philippines đã thắng Trung Quốc vào 2016. Việt Nam đã bỏ cơ hội cùng kiện với Philippines.
Các chuyên gia quốc tế cũng như người Việt trên thế giới đã đề nghị Việt Nam kiện Trung Quốc từ lâu, trước cả Philippines. Nay các chuyên viên nghiên cứu luật quốc tế tại Việt Nam cũng cho là đến lúc kiện Trung Quốc, mặc dù là phản ứng chậm trễ cho vụ bãi Tư Chính.
Trả lời phỏng vấn đài VOA (Tiếng Nói Hoa Kỳ) James Kraska, chủ tịch Trung Tâm Stockton về Luật Hàng Hải Quốc Tế thuộc Trường Hải Chiến của Mỹ, cho rằng Trung Quốc có hành động “bất hợp pháp” trên Biển Đông và vi phạm “nghiêm trọng” công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên. Ông James Kraska cũng cho rằng Việt Nam “nên kiện” Trung Quốc ra tòa quốc tế, và nhận định “Việt Nam hầu như là sẽ thắng.”
Ông Jonathan Odom – giáo sư luật quốc tế của Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Marshall của Mỹ thì viết trên Twitter nhận định rằng Hà Nội “có thể dùng hầu hết phần biện hộ” của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế năm 2016 là có khả năng giành chiến thắng về mặt pháp lý.
Câu hỏi chính là liệu sẽ có chiến tranh Việt-Trung nếu Việt Nam kiện Trung Quốc? Tôi tin là căng thẳng ở Biển Đông sẽ không dẫn đến chiến tranh Việt-Trung vì Trung Quốc cũng sẽ mất nhiều hơn Việt Nam. Họ có thể làm khó như việc không cho xả nước gây hạn hán tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, gây khó khăn kinh tế cho Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam sẽ còn được nhiều nước giúp, kể cả ASEAN sát Biển Đông vì các hành động của Trung Quốc ngày càng trắng trợn. Việt Nam không còn gì để mất và với việc kiện Trung Quốc, Việt Nam cho thấy quyền lợi quốc gia trên hết.
Việt Nam cần lập tức kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế. Việc Tòa Trọng Tài PCA năm 2016 tuyên bố Philippines thắng trong vụ nước này đơn phương kiện Trung Quốc, đúng là David chống Goliath. Việc này đã tạo thuận lợi lớn cho Việt Nam để khởi kiện Trung Quốc. Nay coi bộ việc đã chín mùi và có hoàn cảnh thuận lợi.
Kết luận
Những gì đã xảy ra tại bãi Tư Chính trên Biển Đông chỉ là chính sách của Trung Quốc từ năm 1974 hay thậm chí sớm hơn nữa. Mặc dù tàu Hải Dương đã rời vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, nhưng chúng ta có thể đoán được là con tàu có thể trở lại, không những để khảo sát mà là để khoan và khai thác dầu khí.
Vấn đề là liệu lãnh đạo có tinh thần dân tộc, tầm nhìn xa, để kiện Trung Quốc vào lúc này, và khả năng tạo ra thay đổi bước ngoặt. Liệu các lãnh đạo Việt Nam có thể vùng lên? Vận nước đã đến hồi thoát Trung.
Việt Nam chỉ còn con đường là đưa Trung Quốc ra tòa, ngay bây giờ.