Nho Giáo và văn minh phương Đông cùng âm mưu Hán hóa
Đã có rất nhiều sách vở và tài liệu viết về Khổng Tử và Nho giáo, tuy nhiên trong thời điểm mà Trung Quốc đang bành trướng thế lực trên toàn thế giới, người viết - một người Việt xa xứ - cũng muốn nêu lên nhận xét riêng của mình về Nho giáo và Khổng Tử, dù biết đây chỉ là "tiếng kêu trong sa mạc". Đây là một đề tài khá lớn, liên quan đến nhiều vấn đề như tôn giáo, tư tưởng, xã hội, văn hóa, chính trị, v.v..., vì thế người viết chỉ dám góp nhặt những tài liệu và tạm thời lạm bàn sơ lược trong khả năng hiểu biết hạn hẹp của mình.
Mới đây Trung Quốc đã thiết lập nhiều viện Khổng học trên thế giới để quảng bá về ngôn ngữ, văn hóa của Hán tộc. Tính tới tháng 7 năm 2010 đã có 316 viện Khổng học trên 94 quốc gia (nguồn: Wikipedia). Sự kiện này có mục đích gì? Âm mưu Hán Hóa toàn cầu?
Khổng Tử người khởi xướng Nho Giáo đã được người Trung Hoa xưng tụng là "Vạn thế sư biểu" (ông thầy của vạn đời) và là "Thánh nhân". Vậy xin thử phân tích để xem Khổng Tử có đúng như thế không? Học thuyết của ông ảnh hưởng như thế nào tới ngày nay? Có phải học thuyết này là nguyên nhân của nhiều vấn đề xã hội?
Như chúng ta đã biết, kể từ thời nhà Tiền Hán, về chính trị và xã hội, Nho giáo với học thuyết của Khổng Tử đã coi như là nền tảng của văn hoá Trung Hoa. Sau đó qua các thời Đường, Tống, Nguyên , Minh, Thanh, Nho giáo đã bị biến thái dần thành Đường Nho, Tống Nho, Minh Nho, v.v…Học thuyết của Khổng Tử đã bị thay đổi khá nhiều.Việt Nam đã bị ảnh hưởng một cách đặc biệt bởi Tống Nho từ khi có nền độc lập. Cả hai quốc gia Trung Hoa và Việt Nam đã đi sau nền văn minh Tây phương một bước khá xa , lịch sử trong hai ba thế kỷ trước đây đã minh chứng điều này. Trung Hoa thì bị lục cường xâu xé, rồi lại bị Nhật chiếm đóng, Việt Nam thì bị mất vào tay người Pháp. Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng bởi Nho Giáo, nhưng đã nhận ra những gì không hợp và đã sớm canh tân để đuổi kịp nền văn minh của phương tây; nên đã trở thành một quốc gia hùng cường từ thời vua Minh Trị.
Câu hỏi được đặt ra: Có phải Nho giáo và Khổng học là nguyên nhân cản trở sự tiến bộ và văn minh của phương đông?
Để trả lời câu hỏi này, trước hết xin có nhận xét qua về thời Khổng Tử sống (551 - 479 TCN):
Thời Xuân Thu của Trung Hoa (khoảng 770 - 476 TCN).
Tên này có nguồn từ sách Xuân Thu của Khổng Tử, trước giai đoạn này có khoảng 170 nước lớn nhỏ, nước lớn xâm chiếm các nước nhỏ hơn. Những nước này là nước chư hầu và phải nghe mệnh lệnh của nhà Tây Chu, kinh đô ở Tràng An tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Nhà Tây Chu bị các bộ lạc phía tây uy hiếp nên dời kinh đô về phía đông là Lạc Dương, từ đây gọi là nhà Đông Chu, khởi đầu thời Xuân Thu, thế lực nhà Chu lúc này rất yếu và cần các chư hầu bảo vệ. Sau đó các quí tộc nổi lên dành ngôi bá chủ để sai khiến các nước chư hầu nhỏ hơn. Chiến tranh xảy ra liên miên. Khởi đầu là Trịnh Trang Công (743 - 701 TCN) nước Trịnh, rồi:
Tề Hoàn Công (685 - 643 TCN) nước Tề,
Tống Tương Công (650 - 637 TCN) nước Tống,
Tấn Văn Công (636 - 628 TCN) nước Tấn,
Tần Mục Công (659 - 621 TCN) nước Tần,
Sở Trang Vương (613- 591 TCN) nước Sở,
Ngô vương Phù Sai (Cơ Phù Sai 495 - 473 TCN) nước Ngô,
Việt vương Câu Tiễn (496 - 465 TCN) nước Việt.
Thời Chiến Quốc (475 - 211 TCN)
Cuối thời Xuân Thu, các nước lớn thôn tính các nước nhỏ hơn, lập thành 7 nước là Yên, Hàn, Ngụy, Sở, Tần, Tề, Triệu và Yên. Chiến tranh xảy ra liên miên giữa các nước này- thời Chiến Quốc. Giai đoạn chót, nước Tần mạnh nhất, thôn tính 6 nước khác lập thành một nước Trung Hoa thống nhất với hoàng đế đầu tiên là Tần Thủy Hoàng.
Bách Gia chư tử (770 - 220 TCN)
Trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc, biên giới các nước không rõ rệt, binh lực đồn trú trong các thành trì để tránh bị tấn công bất ngờ, nhưng dân chúng từ nước này qua các nước khác khá dễ dàng. Những người du thuyết đi từ nước này qua nước khác để mong được trọng dụng, các tư tưởng gia và các môn đồ bôn ba các nước để truyền bá học thuyết của mình. Đây là thời mà "trăm nhà tranh tiếng", nhiều trường phái tư tưởng nở rộ, những học thuyết từ thời kỳ này đã ảnh hưởng nước Trung Hoa tới ngày nay. Có những trường phái nổi bật như:
- Khổng Tử và Mạnh Tử với tư tưởng "Khổng Giáo" hay "Nho Giáo", đề cao chữ "nhân", “ngũ thường", "đạo tại tâm", thuyết "chính danh", "trung dung", v.v...
- Hàn Phi Tử với tư tưởng "Pháp gia", dùng luật pháp để cai trị và mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
- Lão Tử và Trang Tử với tư tưởng "Đạo Giáo": sách "Đạo Đức kinh" và học thuyết "vô vi".
- Mặc Tử với tư tưởng "Mặc Học" và học thuyết "kiêm ái phi công": mọi người đều bình đẳng và phải thương yêu nhau, không chiến tranh, cũng như không làm thì không thể sung túc no đủ, v.v...
- Tuân Tử với tư tưởng về "trí thức và kinh nghiệm", "đạo ngoại tâm" và "nhân chi sơ tính bản ác"
Khi Trung Hoa thống nhất (221TCN), Tần Thủy Hoàng đã áp dụng tư tưởng “Pháp Gia” một cách triệt để, những học thuyết khác bị ông hoàng đế này gạt sang một bên, Khổng Giáo đang được phổ biến bị ngăn cấm với việc đốt sách và chôn sống học trò, các tư tưởng ngược với đường lối cai trị đều bị triệt để cấm đoán. Khi nhà Tần sụp đổ, nhà Hán dựng nghiệp thì tư tưởng của Khổng Giáo, sau khi đã được biến dạng thành Hán Nho, hợp với đường lối cai trị nên được các hoàng đế Trung Hoa cổ võ, Nho Giáo được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Bằng cách lèo lái bởi những kẻ cầm quyền, Nho Giáo đã là tư tưởng được truyền bá và ảnh hưởng đến ngày nay, trong khi các tư tưởng và học thuyết khác bị mai một vì không phù hợp với quan điểm của sự tập trung quyền lực.
A-Tiểu sử Khổng Tử
(Tóm tắt theo chương “Khổng Tử Thế Gia” trong sách Sử Ký (SK) của Tư Mã Thiên)
Khổng Tử sinh ở nước Lỗ, năm 552 TCN (trong thời Xuân Thu), tên là Khâu, tên tự là Trọng Ni. Tổ tiên trước kia là người nước Tống. Cha của ông là Thúc Lương Ngột, “Lương Ngột khi đã quá tuổi, lấy Nhan Thị, hai người cầu tự ở núi Ni Khâu sinh Khổng Tử. …Khi còn nhỏ, Khổng Tử thích chơi trò bày các khay để cúng và chơi trò tế lễ” (SK).
“Khổng Tử nghèo hèn, đến khi lớn lên làm lại cho họ Quý. Việc tính toán đo lường đứng đắn, nên được làm chức coi súc vật. Súc vật đông đúc sinh đẻ nhiều, nên được làm tư không. Được ít lâu, Khổng Tử rời khỏi nước Lỗ, bị ruồng bỏ ở nước Tề, bị đuổi ở nước Tống và nước Vệ, bị nguy khốn ở giữa miền nước Trần và nước Thái, cuối cùng lại trở về nước Lỗ.” (SK)
Khổng Tử trở về nước Lỗ khi đã 68 tuổi, tiếp tục dạy học và soạn kinh sách cho học thuyết của mình . Ông mất năm 479 TCN, thọ 73 tuổi.
Theo như truyền tụng, Khổng Tử soạn các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc và Xuân Thu. Sách Luận Ngữ là một kinh điển quan trọng của Nho học ghi lại các lời dạy của Khổng Tử , do học trò của ông chép lại.
Cuộc hành trình của Khổng Tử qua các nước thời Xuân Thu
(Ghi lại theo sách“Sử Ký, Khổng Tử Thế Gia” ):
Đến nước Chu: “Khổng Tử đến đất Chu hỏi về lễ. Khổng Tử yết kiến Lão Tử ở đấy.”
Về lại nước Lỗ: “Khi Khổng Tử ở Chu về nuớc Lỗ, học trò càng nhiều.”
Sang nước Tề: “Sau đó ít lâu nước Lỗ có loạn, Khổng Tử đến nước Tề làm tôi ở nhà họ Cao Chiêu tử để được yết kiến Tề Cảnh Công... Các quan đại phu nước Tề muốn giết Khổng Tử.... Khổng Tử bèn ra đi, trở về nước Lỗ. Bấy giờ Khổng Tử bốn mươi hai tuổi.”
Về lại nước Lỗ: “Lỗ Định công cho Khổng Tử làm quan cai trị thành Trung Đô. Được một năm, cả bốn phuơng đều noi theo xem là mẫu mực. Từ chức quan cai trị thành Trung Đô, Khổng Tử được thăng làm tư không, rồi được làm đại tư khấu... Khổng Tử 56 tuổi, rời chức tư khấu, quyền giữ chức tướng quốc... Quý Hoàn Tử nhận nữ nhạc của Tề, ba ngày không nghe việc chính sự... Khổng Tử bèn ra đi.”
Sang nước Vệ: “Khổng Tử bèn đến nước Vệ ở trọ tại nhà Nhan Trọc Trâu, anh vợ của Tử Lộ... Khổng Tử ở đấy mười tháng, đoạn rời khỏi đất Vệ, định đi qua đất Khuông, để đến nước Trần...”
Đến nước Trần: “Khổng Tử đi qua đất Bồ...”
Về lại nước Vệ: “Sau hơn một tháng lại trở về nước Vệ, ở trọ tại nhà Cừ Bá Ngọc.”
Sang nước Tào: “Rời khỏi nước Vệ, đi qua nước Tào.”
Sang nước Tống: “Khổng Tử rời khỏi nước Tào đến nước Tống, Quan tư mã của nước Tống tên là Hoàn Khôi muốn giết Khổng Tử.”
Đến nước Trịnh: “Khổng Tử đến nước Trịnh, thầy trò lạc nhau.”
Đến nước Trần: “Khổng Tử bèn đến nước Trần , ở trọ tại nhà viên quan giữ thành là Trịnh Tử hơn một năm... Khổng Tử ở Trần ba năm. Lúc bấy giờ, các nước Tần và Sở tranh cường với nhau và lần lượt đánh bại Trần; nước Ngô cũng đánh Trần. Trần luôn luôn bị đánh phá. Khổng Tử bèn rời khỏi đất Trần, đi qua đất Bồ.”
Sang nước Vệ: “Khổng Tử liền đến đất Vệ... Vệ Linh Công già, lười biếng việc chính sự, không dùng Khổng Tử.”
Đến nước Thái: “Năm sau, Khổng Tử từ đất Trần đến đất Thái... Năm sau, Khổng Tử từ đất Thái đi đến đất Diệp... Khổng Tử rời bỏ đất Diệp trở về đất Thái... Khổng Tử dời đến ở đất Thái ba năm.”
Đến đất Diệp: “Năm sau, Khổng Tử từ đất Thái đi đến đất Diệp.”
Đến nước Thái: “Khổng Tử rời bỏ đất Diệp trở về đất Thái... Khổng Tử dời đến ở đất Thái ba năm.”
Đến nước Sở: “Các quan đại phu đất Trần và đất Thái bàn nhau: ...Nếu ông ta được dùng ở nước Sở thì các quan đại phu đang được dùng ở đất Trần đất Thái sẽ nguy mất... Họ bèn bàn nhau cho bọn đày tớ vây Khổng tử ở ngoài đồng, không cho đi. Khổng Tử hết lương ăn, những người đi theo đều ốm không ai dậy được,... Khổng Tử sai Tử Cống sang Sở. Sở Chiêu Vương đem binh đón Khổng Tử, kết quả Khổng Tử mới được thoát.”
Sang nước Vệ: “Khổng Tử bèn rời nước Sở trở về nước Vệ. Năm ấy, Khổng Tử sáu mươi ba tuổi.”
Về lại nước Lỗ: “Khổng Tử trở về nước Lỗ. Khổng Tử đi đã 14 năm, bây giờ mới trở về nước Lỗ... nước Lỗ chung quy vẫn không dùng Khổng Tử. Khổng Tử cũng không xin làm quan.”
Khổng Tử và các học trò của ông du hành qua rất nhiều nước thời Xuân Thu , để truyền bá Nho học, mà các học trò của ông gọi là cái “Đạo” - Đạo của Nho Gia hay Nho Giáo.
Có lẽ vì Khổng Tử đi quá nhiều nơi đông dân cư để rao giảng học thuyết của ông, nên Nho học đã được phổ biến rộng rãi hơn hẳn những trường phái khác.
hxxp://wxw.china360online.org/teachers/wp-content/themes/china360online_/images/map1.jpg
Ghi chú: địa danh trên bản đồ với phiên âm tiếng Việt
Lỗ (Lu), Vệ (Wei), Tống (Song), Thái (Cai), Sở (Chu), Tào (Cao), Yên (Yan), Tề (Qi), Tần (Qin), Tấn (Jin), Ngô (Wu), Việt (Yue), Trần (Chen), Trịnh (Zheng)
Chiết Giang (Zhejiang), Hồ Bắc (Hubei), Hà Nam (Henan), Hà Bắc (Hebei), An Huy (Anhui), Giang Tô (Jiangsu), Sơn Đông (Shandong), Sơn Tây (Shanxi), Liêu Ninh (Liaoning), Cát Lâm (Jilin), Hắc Long Giang (Heilongjiang), Nội Mông (Inner Mongolia).
B. Kinh sách và học thuyết của Nho học
Chúng ta hậu thế thường được nghe nói tới “Tam tòng, tứ đức”, “Tam cương, ngũ thường” cũng như “Thi, thư, lễ, nhạc” khi được nghe nói về Nho Giáo. Ngoài ra còn những câu như “Quân sử thần tử, thần bất tử, bất trung ; phụ sử tử vong, tử bất vong, bất hiếu” v.v... Tuy nhiên, những gì thường nghe về “Nho” ngày nay đã bị biến đổi và thêm thắt, cũng như đã bị làm cho sai lạc so với triết thuyết nguyên thủy của Khổng Tử. Rồi từ “Nho học”; khi được đa số quần chúng tin theo con đường (“đạo”) này, đã biến đổi thành “Nho Đạo” hay "Nho Giáo”, vì thế “Nho Học” hay “Nho Giáo” đều đã được dùng một cách hoán chuyển, mặc dù không có thần thánh nào được tôn thờ trong “Nho Giáo”.
Để có thể biết được những gì do chính Khổng Tử dạy, chúng ta nên tìm hiểu những tài liệu sớm nhất viết về ông và những học thuyết cũng như sách của ông được ông và học trò của ông ghi lại.
Tư Mã Thiên (145 TCN - 86 TCN) ghi lại trong Sử Ký (SK), “Khổng Tử Thế Gia (KTTG)” như sau:
“Khổng Tử lấy thi, thư, lễ, nhạc dạy học trò. Số học trò đến ba ngàn người. Có 72 người thông thạo cả lục nghệ. Còn những người chỉ học một phần như Nhan Trọc Trâu thì rất nhiều. Khổng Tử dạy bốn điều: văn học, đức hạnh, trung thành, tín nghĩa; bỏ bốn điều: không có định kiến trước, không nhất thiết phải theo một mặt, không cố chấp, không chỉ thiên về mình. Khổng Tử cẩn thận trong việc trai giới, chiến trận, ốm đau: ít nói về lợi, mệnh và nhân. Khi người ta chưa cảm thấy tức tối muốn biết, thì Khổng Tử chưa giảng, khi nêu một góc mà người ta chưa thấy cả ba góc thì Khổng Tử chưa dạy”.
Học thuyết cũng như thân thế của Khổng Tử được ghi lại một phần trong “Khổng Tử Thế Gia” qua các câu nói của ông với các học trò. Những lời dạy bảo của ông cũng được ghi lại một cách đầy đủ hơn trong sách “Luận Ngữ”, sách này do các môn sinh biên soạn.
Viết về học thuyết của mình, Khổng Tử nói là ông chỉ thuật lại chứ không sáng tạo ra điều gì mới: “Thuật nhi bất tác...” (trong sách Luận Ngữ)
Các kinh sách căn bản của Nho học
Các kinh điển căn bản của Nho Giáo là “Ngũ Kinh” : Thi, Thư, Lễ, Nhạc Kinh Dịch và Xuân Thu.
“Trong thời Khổng Tử, nhà Chu đã suy, lễ nhạc bị bỏ, Kinh Thi, Kinh Thư thiếu sót. Khổng Tử theo dấu vết của lễ thời Tam đại, đề tựa Kinh Thư, kinh này chép sự việc tự thời Đường, Ngu cho đến thời Tần Mục Công” (SK, KTTG).
Kinh Thi: là sách sưu tập các câu ca dao, hay thi ca cổ của dân chúng thời Xuân Thu gồm 305 thiên.
“Ngày xưa Kinh thi có tất cả hơn ba ngàn thiên. Đến thời Khổng Tử, Khổng Tử bớt những thiên trùng điệp, lấy những thiên có thể có ích cho lễ, nghĩa. … Tất cả ba trăm linh năm thiên này đều được Khổng Tử đánh đàn và hát để làm cho nó hợp với điệu nhạc Thiều, Vũ, Nhã, Tụng.” (SK, KTTG)
Kinh Thư: cũng gọi là “Thượng Thư”, sách ghi lại các câu nói của các vua chúa cũng như các quan lại thời nhà Thương (thế kỷ 14 đến 11 TCN) và nhà Tây Chu (Thế kỷ 11 TCN đến 770 TCN). Nguyên bản đã bị Tần Thủy Hoàng đốt, một phần đã tìm được thời Hán Vũ Đế.
Kinh Lễ và Nhạc: cũng gọi là “Lễ Ký”, sách ghi lại các nghi lễ, tôn giáo, phong tục (quan, hôn, tang tế) từ thời Khổng Tử trở về trước. Ngoài ra kinh Lễ còn viết thêm về nhân nghĩa, đạo đức, cách cư xử. Tương truyền nguyên thủy là 130 thiên, một số lớn các thiên bị thất lạc, ngày nay còn 39 thiên. Kinh Nhạc bị Tần Thủy Hoàng tiêu hủy, ngày nay chỉ còn một thiên là “Nhạc Ký” trong kinh Lễ. Kinh Nhạc giúp cho lễ nghi thêm long trọng.
“Nhà Chu noi gương hai triều đại trước, lễ nghi nhà Chu rực rỡ làm sao! Ta theo nhà Chu”. Vì thế phần truyện trong Kinh Thư và Lễ ký là do Khổng Tử làm.” (SK, KTTG)
Kinh Dịch: cũng gọi là sách “Chu Dịch”, là một bộ sách nói về nhân sinh quan và triết lý cổ thời. Được dùng như một phương tiện để bói toán. Theo truyền thuyết thì sách này do vua Phục Hy (một ông vua trong huyền thoại của Trung Hoa, khoảng 28 thế kỷ TCN) làm ra. Khổng Tử không liên quan đến bất cứ sáng tác nào của sách này, ông chỉ viết thêm chú giải cho các quẻ. “Quan trọng nhất vẫn là chú giải đầu tiên, tức Thập Dực, cũng gọi là Thập Truyện. Đại đa số các học giả Trung Hoa thời xưa cho Thập Dực là công trình của Khổng tử” (Nguyễn Hiến Lê).
“Khổng Tử thích Kinh dịch, thích các phần tự, thoán, hệ, tượng, thuyết quái, văn ngôn. Khổng Tử đọc Kinh dịch làm cho cái dây da để buộc các thẻ tre đứt ba lần. Khổng Tử nói: -Nếu cho ta thêm vài năm nữa thì ta sẽ hiểu Kinh dịch một cách toàn vẹn”. (SK, KTTG)
Kinh Xuân Thu: cũng gọi là Lân Kinh, đây là một quyển sử sớm nhất của Trung Hoa được ghi lại theo lối “biên niên” từ năm 722 TCN đến 481 TCN - thời Xuân Thu - do Khổng Tử biên soạn.
“Khổng Tử nói: - Không, không! Người quân tử lo rằng mình chết rồi mà cái tên của mình không được nhắc đến, nếu đạo của ta không được dùng thì ta biết lấy gì để làm đời sau thấy ta. Bèn dựa vào Sử ký làm ra Kinh Xuân thu, chép từ thời Lỗ Ai Công (năm 722 - 712 trước công nguyên), đến năm thứ 14 đời Lỗ Ai công (năm 481 trước công nguyên), bao gồm 12 đời vua. Căn cứ vào chỗ vua Lỗ là họ với nhà Chu cho nên Khổng Tử đưa vào đấy những việc của thời Tam đại... Học trò học Xuân thu, Khổng Tử nói: - Đời sau biết Khâu là căn cứ vào Xuân thu, bắt tội Khâu cũng là căn cứ vào Xuân thu.” (SK, KTTG)
Ngoài “Ngũ Kinh” còn có “Tứ Thư” là các sách Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử.
Sách Luận Ngữ: là sách do các môn sinh của Khổng Tử ghi lại lời dạy của ông, cũng như những lời bàn luận với người cùng thời. Đây là quyển sách chủ yếu của Nho gia. Nội dung của sách này đề cập đến các vấn đề triết học, tôn giáo, chính trị, cách xử thế. Sách này nói về nhân sinh quan của Khổng Tử cũng như về sự phân loại con người ai là “Thánh Nhân”, “Quân Tử” và “Tiểu Nhân”.
Sách Đại Học: là sách dạy về luân lý dành cho những người được xếp vào hàng cao đẳng. Sách do Tăng Tử (Tăng Sâm) viết, gồm 11 chương. Tư tưởng của sách nói về cách trị quốc với hai phần: 3 điều chủ yếu và 8 điều chuyên tâm.
Ba điều chủ yếu: “minh đức”, “tân dân” và “chí ư chí thiện”.
Tám điều chuyên tâm: “cách vật”, “trí tri”, “thành ý”, “chính tâm”, “tu thân”, “tề gia”, “trị quốc”, “bình thiên hạ”.
Sách Trung Dung: là sách nói về thuyết Trung Dung do Khổng Tử đề ra, sách này do cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò của Tăng Sâm viết. Đại ý nói là ý nghĩ và hành động phải ở mức trung hoà, không cực đoan, không thái quá và bất cập, chủ yếu là sống theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để là một người “quân tử”.
Sách Mạnh Tử: là sách do Mạnh Tử, học trò của Khổng Tử viết. Đây là sách nói về học thuyết của Mạnh Tử, được triển khai từ tư tưởng của Khổng Tử . Gồm những điều như “nhân chi sơ tính bản thiện” , duy dân “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” và nhân trị.
Học thuyết của Nho học
“Khổng Tử dạy bốn điều: văn học, đức hạnh, trung thành, tín nghĩa; (SK, KTTG).
Sách Luận Ngữ, “Thuận nhi đệ thất (7-24)” viết: “Tử dĩ tứ giáo: văn, hạnh, trung, tín”.
Một cách đại cương thì học thuyết của Khổng Tử có mục đích giáo hoá con người để họ có lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Học thuyết này đưa ra mẫu người quân tử để noi theo: người quân tử phải là người có đủ “ngũ thường” là nhân, nghĩa, lễ trí, tín, ở thứ bậc nào thì sống cho đúng địa vị đó (“chính danh”) và sống thì không thái quá cũng không bất cập (“trung dung”).
Ngoài “ngũ thường”, chúng ta còn nghe là người quân tử còn phải có đủ “tam cương”, là phải tuân giữ lễ “vua-tôi”, “cha-con”, “chồng-vợ”, rồi “tam tòng tứ đức” mà sau này được thêm vào và dành cho phụ nữ. Theo như học giả Phan Khôi - một người theo Khổng học từ nhỏ - thì nguyên thủy của Khổng học không có “tam cương”, trong bài “Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta” ông viết như sau: “Đức Khổng Tử chưa hề xướng ra cái thuyết tam cương. Và xét tra các sách từ đời ngài về trước cũng chưa hề có cái thuyết tam cương. Thuyết tam cương mới bắt đầu có từ nhà Hán, thấy ra trong sách Bạch hổ thông của Hán nho. Sách ấy có nói rằng: “Quân vi thần cương ; phụ vi tử cương ; phu vi thê cương”. Bởi đó người ta gọi là tam cương.” (nguyên văn là chữ “cang” thay cho chữ “cương”).
Khổng Tử chỉ nói trong sách Luận Ngữ, “Nhan Uyên đệ thập nhị (12-11)”: “Quân quân , thần thần , phụ phụ , tử tử” là làm vua thì ra vua, làm tôi ra tôi, con ra con, sống cho đúng danh phận. Đây là thuyết “Chính Danh” của Khổng học.
Khổng học hay Nho học chia xã hội ra làm ba hạng người: “Thánh nhân” là các bậc hiền giả, “Quân tử” là những người đức độ, chân chính, “Tiểu nhân” là những kẻ có hành động không hợp với “đạo đức”.
Trong bài “ "QUÂN TỬ-TIỂU NHÂN" THEO KHỔNG GIÁO” của học giả Trần Trọng Kim, ông đã viết về hai hạng người này như sau:
“Khổng Giáo chia người ở trong xã hội ra làm hai hạng là: Quân tử và tiểu nhân. Quân tử là quý là hay, tiểu nhân là tiện là dở. Vậy trước khi bàn đến các mục khác, thiết tưởng nên nói rõ tư cách của người Quân tử và kẻ tiểu nhân khác nhau thế nào thì sau xem mới rõ mọi ý nghĩa.
…
Con đường thẳng là con đường Đạo đức Nhân nghĩa; con đường cong queo là con đường gian ác quỷ quyệt. Trong hai con đường đó ta phải chọn lấy một con đường mà đi. Đi con đường thẳng là người Quân tử, có nhân cách hoàn toàn. Đi con đường cong là người tiểu nhân hèn hạ”.
Lúc đầu chữ Quân tử là nói người có địa vị tôn quý, mà chữ tiểu nhân là người thường nhân không có địa vị gì trong xã hội... Về sau dùng rộng nghĩa ra, gọi Quân tử là người có đức hạnh tôn quý và gọi tiểu nhân là người có chí khí hèn hạ.
Nhận định theo Hán tự thì:
“Quân” (君) : Vua, người làm chủ cả một nước.
Chữ “Tử”( 子) có khá nhiều nghĩa như là “con”, “thầy”, tước “tử”,...
Theo ý nghĩa của Hán tự thì “quân tử” là con vua.
Vậy lúc đầu theo như ông Trần Trọng Kim thì “Quân Tử”(con vua), là hạng người ở giữa “Thiên Tử” (con Trời) và “Tiểu nhân” (những người dân nhỏ bé), họ là những người ra làm quan, giúp vua cai trị đám “tiểu nhân”.
Khổng học với quan niệm về “Ngũ thường”: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
Quan niệm về chữ “nhân 仁”: Khổng Tử nói về chữ “nhân” khá nhiều trong sách Luận Ngữ (110 lần). Nói một cách tóm lược về chữ “nhân” là thương người, là cách cư xử giữa người với người.
Câu nói của Khổng tử thường được nhắc tới về việc này là “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”.
Nguyên văn theo sách Luận Ngữ, “Nhan Uyên đệ thập nhị (12-2): “Tử viết: xuất môn như kiến đại tân , sử dân như thừa đại tế , kỷ sở bất dục , vật thi ư nhân. Tại bang vô oán, tại gia vô oán” (khi ra ngoài làm việc phải như tiếp kiến khách quý và sai khiến dân phải như tiến hành việc tế lễ, đừng làm những gì mà mình không muốn điều người khác làm cho mình. Có thế người dân trong nước cũng như người thân trong gia đình mới khỏi oán hận”
Vài nét điển hình về chữ “Nhân” trong Luận Ngữ:
Sách Luận Ngữ, “Lý Nhân đệ tứ (4-3)”: “Tử viết: Duy nhân giả năng háo nhân, năng ố nhân” . (Khổng tử nói: Chỉ người có lòng nhân mới biết thương người ghét người đúng cách mà thôi).
Sách Luận Ngữ, “Lý Nhân đệ tứ (4-5)”: “Quân tử khứ nhân ô hồ thành danh? Quân tử vô chung thực chi gian vi nhân, tháo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị.” (Người quân tử phải nỗ lực làm điều nhân đức, nếu không có “nhân” sao có thể mang danh là người quân tử. Nhân cũng là điều cốt yếu của người quân tử, không thể trong bất cứ lúc nào mà xa điều nhân đức).
Quan niệm về chữ “nghĩa 義”: Khổng Tử nói về chữ “nghĩa” cũng khá nhiều (27 lần), tuy nhiên ông không có một sự xác định rõ ràng về “nghĩa” chính xác như thế nào. Đại cương là lấy “Lễ”, “Khiêm”, “Tín” để cư xử với mọi người theo công bình và lẽ phải, vì điều “nghĩa” thì ngược với điều “lợi”. Tuy nhiên câu hỏi sẽ được đặt ra: thế nào là công bình, thế nào là lẽ phải?
Vài nét điển hình về chữ “Nghĩa” trong Luận Ngữ:
Sách Luận Ngữ, “Lý Nhân đệ tứ (15-17): “Quân tử nghĩa dĩ vi chất: Lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi, Quân tử tai!”. (Quân tử lấy nghĩa làm cốt: lấy lễ mà làm, lấy khiêm tốn mà thi thố ra, lấy lòng tin mà thành tựu thật là quân tử vậy thay!)
Sách Luận Ngữ, “Lý Nhân đệ tứ (4-16): “Tử viết: “quân Tử dụ ư nghĩa , tiểu nhân dụ ư lợi.”
Quân tử hiểu rõ điều nghĩa, tiểu nhân hiểu rõ điều lợi.
Sách Luận Ngữ, “Dương Hóa thập thất (17-23): “Quân tử nghĩa dĩ vi thượng, Quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo”. (Quân tử chuộng nghĩa, quân tử có dũng mà không có nghĩa thì làm loạn. Tiểu nhân có dũng mà không cò nghĩa thì làm đứa ăn trộm).
Quan niệm về chữ “Lễ 禮”: Khổng Tử rất chú trọng về chữ “Lễ”, chữ này lập đi lập lại nhiều lần (79 lần) trong sách Luận Ngữ, chính ông đã soạn kinh Lễ và ông cũng là người chuyên việc tế lễ. Một cách tổng quát là chữ “Lễ” của Khổng học chỉ cách người đối xử với người (bàn rộng về chữ “nhân, nghĩa, trí, tín”) và với quỷ thần, trời đất. “Lễ” là kính người, kính trời đất. Vì thế chữ “Lễ” vừa có tính cách nghi thức và luật lệ,vừa có tính cách luân lý.
Vài nét điển hình về chữ “Lễ” trong Luận Ngữ:
Sách Luận Ngữ, “Học nhi đệ nhất (1-12): “Hữu tử viết: lễ chi dụng, hoà vi quí...” (Hữu tử viết: Trong việc giữ lễ, hòa thuận là điều quan trọng...)
Sách Luận Ngữ, “Học nhi đệ nhất (1-13): “Hữu tử viết: “tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã; cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã. Nhân bất thất kỳ thân, diệc khả tông dã”. (Hữu tử viết: hứa điều gì mà hợp nghĩa thì phải làm, cung kính hợp với lễ thì tránh được sỉ nhục. Đối với người thân không mất lòng thì mới xứng đáng với họ hàng).
Sách Luận Ngữ, “Bát dật đệ tam (3-3): “Tử viết: “nhân nhi bất nhân, như lễ hà?...” (Khổng tử nói: Người không có nhân thì sao có lễ được?...)
Sách Luận Ngữ, “Bát dật đệ tam (3-19): “Định Công vấn: “quân sử thần thần sự quân , như chi hà? Khổng Tử đối viết “quân sử thần dĩ lễ , thần sự quân dĩ trung”. ((Lỗ) Định Công hỏi: Vua quan đối với nhau như thế nào cho phải? Khổng tử đáp: Vua dùng lễ đối với các quan, các quan dùng lòng trung đối với vua).
Sách Luận Ngữ, “Lý nhân đệ tứ (4-9)”: “Tử viết: Năng dĩ lễ nhượng vi quốc hồ, hà hữu. Bất năng dữ lễ nhượng vi quốc, như lễ hà”. (Khổng Tử nói: Người cầm quyền cai trị dùng lễ khiêm tốn, thì trị quốc đâu khó. Cầm quyền mà không dùng lễ khiêm tốn, như vậy không có lễ”.
Sách Luận Ngữ, “Bát dật đệ tam (8-2): “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỷ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo...” (Cung kính mà thiếu lễ thì khổ, cẩn thận mà thiếu lễ thì nhút nhát, cương dũng mà thiếu lễ thì loạn, thẳng thắn mà thiếu lễ thì nóng nảy...”
Quan niệm về chữ “Trí 智”: Khổng Tử không nói nhiều về chữ “Trí” trong Luận Ngữ. “Trí” là sự sáng suốt để phán đoán đâu là những điều nhân, nghĩa, lễ và tín mà người quân tử nên noi theo.
Điển hình về chữ “Trí” trong Luận Ngữ:
Sách Luận Ngữ, “Lý Nhân đệ tứ (4-2)”: “Tử viết: “...Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân”. (...Người nhân an vui với lòng nhân. Người trí làm lợi ích cho lòng nhân).
Quan niệm về chữ “Tín 信”: Khổng Tử nói về chữ “tín” tương đối nhiều (37 lần). Tín là những điều đáng tin tưởng, như đã hứa thì phải làm, như đã thề thì phải tuân theo
Vài nét điển hình về chữ “Lễ” trong Luận Ngữ:
Sách Luận Ngữ, “Học nhi đệ nhất (1-4): “Tăng Tử viết: ngô nhật tam tỉnh ngô thân: vi nhân mưu, nhi bất trung hồ? Dữ bằng hữu giao, nhi bất tín hồ? Truyện , bất tập hồ?” (Mỗi ngày ta xét ba điều: Làm việc cho ai có hết lòng không? Đối với bạn có vẹn chử tín không? Đạo thầy truyền có học không?)
Sách Luận Ngữ, “Vi chính đệ nhị (2-21): “Tử viết: Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã, Đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kỳ hà dĩ hành chi tai?” (Khổng tử nói: Kẻ mà không đáng tin, không biết có làm được điều gì tốt. Như cái xe bò mà không có ngáng vai; như xe ngựa mà không có đà lôi, thì làm sao mà kéo xe đi được?)
Sách Luận Ngữ, “Thái bá đệ bát (8-16)”: “Tử viết: cuồng nhi bất trực, đồng nhi bất nguyện, không không nhi bất tín, ngô bất tri chi hỹ”. (Khổng tử nói: cuồng vọng mà không ngay thẳng, dốt mà không trung hậu, thực thà mà không thủ tín, ta chẳng biết hạng người đó như thế nào?)
Khổng học với học thuyết “Chính Danh” và “Trung Dung”
Học thuyết “Chính Danh”
Học thuyết “Chính danh” là một học thuyết chính của Khổng Tử. Thuyết này nói về vị trí cách hành xử của mỗi người trong xã hội, làm vua thì phải xứng đáng cho ra vua, bề tôi phải giữ đúng cương vị của bề tôi, người cha trong gia đình phải sống cho đúng nghĩa của người cha, phận làm con phải hành xử bổn phận của người con.
“Quân quân , thần thần , phụ phụ , tử tử” là làm vua thì ra vua, làm tôi ra tôi, con ra con, sống cho đúng danh phận.
Tư Mã Thiên đã viết về Khổng Tử và học thuyết này như sau:
“Học trò Khổng Tử giữ lại có nhiều người làm quan ở Vệ, nên vua Vệ muốn trao chính trị cho Khổng Tử. Tử Lộ nói:
- Nếu vua Vệ giao chính trị cho thầy thì thầy sẽ làm cái gì trước?
Khổng Tử nói:
- Chắc chắn phải chính danh trước!
Tử Lộ nói:
- Sao thầy viển vông thế, chính danh để làm gì?
Khổng Tử nói:
- Anh rõ thực là quê mùa quá! Cái danh mà không chính thì lời nói không đúng với sự thực, lời nói không đúng với sự thực thì việc không thành, việc không thành thì không làm cho lễ, nhạc phồn thịnh, lễ nhạc không phồn thịnh thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu. Phàm người quân tử đã làm điều gì thì có thể nói tên việc đó, và nhất định làm được việc đó. Người quân tử chớ cẩu thả trong lời nói của mình.” (SK, KTTG)
Nhiều học giả cổ kim cho rằng học thuyết “Chính danh” của Khổng Tử đã giúp trật tự trong xã hội phong kiến xa xưa được ổn định.
Học thuyết “Trung Dung”
Học thuyết “Trung Dung” của Khổng Tử không thấy được đề cập đến trong sách Luận Ngữ. Thuyết này do Khổng Tử dạy cho các học trò sau này, được cháu nội của ông là Khổng Cấp, học trò của Tăng Tử viết lại. Đại cương là người quân tử phải hành xử “không thái quá, không bất cập”, đừng cực đoan. Trong sách này đưa ra những lời chỉ bảo của Khổng Tử như:
“Quân tử trung dung, tiểu nhân phản trung dung”. (Quân tử thì trung dung, tiểu nhân thì trái trung dung).
Đây là một học thuyết khó hiểu, theo học giả Phan Khôi: “Nhưng chính đức Khổng Tử lại nói rằng: “Lẽ trung dung thật là tột vậy thay, đã lâu rồi, người ta ít làm theo được!”.
Ông Phan Khôi là một môn sinh của “cửa Khổng sân Trình” viết: “...Theo người hiểu thì trung dung là thế nào không biết, chớ theo tôi, tôi không hiểu,... thì trung dung thật là một cái thuyết lôi thôi lắm, như tôi đã nói nẻ nóc ra trên kia. Rút lại nó là thế nào mặc lòng, tôi chỉ đánh cho một cái dấu hỏi lớn rằng: Tôi không biết một cái thuyết mà chính người lập ra nó đã trối rằng “gươm đao có thể xông vào, chớ không có thể làm theo nó được”, thì thôi, còn lập ra làm chi?”.
Sự biến thái của Nho giáo qua các triều đại
Khổng Tử xây dựng học thuyết Khổng; với mong muốn kiến tạo một xã hội theo kiểu mẫu nhà Tây Chu, ông đã qua đời với mộng ước không thành! Tuy nhiên các môn sinh theo Khổng học đã tiếp tục phổ biến học thuyết này một cách rộng rãi. Đáng kể nhất là Mạnh Tử (372–289 TCN), ông là học trò của Khổng Cấp, chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, khác với quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử được coi như ông tổ thứ hai của Nho giáo sau Khổng Tử.
Thời Xuân Thu (770 - 476 TCN) chuyển qua thời Chiến Quốc (475 - 211 TCN), dù tư tưởng Đạo gia (của Lão Tử) được truyền bá song hành với Khổng học, nhưng cũng đã có nhiều trường phái tư tưởng khác nổi lên (“Bách gia chư tử”), đáng kể là tư tưởng Pháp gia của Hàn Phi Tử; mà trường phái này đã ảnh hưởng đến xã hội Trung Hoa rất nhiều. Khi nhà Tần thống nhất, Tần Thủy Hoàng đã áp dụng tư tưởng của Pháp gia một cách gay gắt, các trường phái khác đều bị đàn áp, đặc biệt là Khổng học với sự kiện đốt sách và chôn học trò. Nhà Tần bị diệt vong, nhà Hán thống trị (206 TCN - 220), Khổng học thành Nho giáo, rồi trở thành quốc giáo từ thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt (156TCN - 87TCN, 54 năm làm vua), mà các học giả gọi thời này là Hán Nho. Sau đó đến các triều đại kế tiếp, Nho giáo đã biến thái khá nhiều, tuy nhiên vẫn trường tồn ở Trung Hoa qua 20 thế kỷ. Vài nét sơ lược về sự biến đổi của Nho Giáo qua thời gian:
Hán Nho
Tần Thủy Hoàng chết (210TCN), Hồ Hợi lên thay là Tần Nhị Thế. Nhà Tần suy vong, Trung Hoa lâm vào cảnh rối loạn, lúc này Nho học bớt bị đàn áp và tiếp tục được phổ biến. Lưu Bang và Hạng Vũ tranh hùng, Lưu Bang thắng thế thiết lập triều đại nhà Hán. Hán Cao Tổ Lưu Bang vốn là kẻ thô lỗ, coi thường các nhà Nho: “Bái Công không thích đạo Nho. Thấy những người khách nào đội mũi nhà Nho đến Bái Công liền giật mũ đái vào trong. Khi nói với người ta thường mắng nhiếc, không thể lấy tư cách nhà nho mà thuyết phục ông ta được”. (SK, Lịch Sinh, Lục Giả liệt truyện). Tuy nhiên khi lên làm hoàng đế, trong các bề tôi nhà Hán có một Nho gia là Thúc Tôn Tông (? - ~194 TCN). Ông này đã từng làm quan của nhà Tần, rồi theo Hạng Vũ sau đó lại theo nhà Hán. Khi cung Trường Lạc xây xong, ông và các đệ tử bày ra nghi thức cung đình, Hán Cao Tổ rất vui lòng vì thấy mình tỏ được cái oai và sự tôn quí của một vị hoàng đế qua những nghi thức này. Các đệ tử của ông đều được làm quan. Hán đế thấy có thể dùng Nho học để củng cố uy quyền, các Nho gia đã được trọng dụng.
Tới thời Hán Vũ Đế, một Nho gia đã từng làm “bác sĩ” dưới thời Hán Cảnh Đế là Đổng Trọng Thư (179 TCN - 104 TCN) đã đưa ra kiến nghị lấy Nho giáo làm quốc giáo, “bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho học”. Hán Vũ Đế chấp thuận và cho ông này làm tướng quốc. Kể từ đó chế độ thi cử để tuyển người ra làm quan đặt căn bản trên kinh điển của Nho Giáo. Đổng Trọng Thư cũng là một lý thuyết gia về Nho Giáo, ông đã pha trộn Nho học nguyên thủy với các học thuyết khác (Pháp gia, Âm Dương gia) để đưa ra chủ trương “Thiên Nhân cảm ứng", chủ trương dùng cả “nhân trị” và “pháp trị”. Bên ngoài thì giả nhân đức , mà ẩn tàng thì luật pháp gắt gao. Tất cả chỉ với mục đích thống trị và bảo vệ nền quân chủ chuyên chế.
Đổng Trọng Thư cũng là người đề ra “tam cương” (quân thần, phụ tử, phu phụ) và ông cũng đề cao chữ “tín” trong “ngũ thường”. Tác giả Trịnh Hiểu Giang (Zheng xiao Jiang) đã có nhận định khá chi tiết về Đổng Trọng Thư: “Ông mở ra một phương pháp bảo toàn tính mệnh cho những kẻ làm bầy tôi là phải tận tâm tận lực phục vụ cho ông vua... Từ cách đặt bày chính trị của Đổng Trọng Thư, người ta dễ dàng thấy tính tàn khốc của chính thể chuyên chế và cảnh bi thảm của các bầy tôi trong thời đại ông vua là đấng tối cao. Vì những cố gắng về học thuật và chính trị của Đổng Trọng Thư, Nho học trở thành học thuyết chính thống của xã hội thời xưa rộng ra ở Trung Quốc. Tư tưởng của Đổng Trọng Thư trong lịch sử Trung Quốc cũng sinh ra ảnh hưởng to lớn kéo dài mãi không dứt”.
Khổng học đã đi vào một khúc quanh chính trong lịch sử từ thời Tiền Hán (Tây Hán) bởi Thúc Tôn Thông - người đã đưa Nho học của Khổng Mạnh vào chính trị, và Đổng Trọng Thư - người đã biến cải và đã nâng địa vị của Nho học lên hàng độc tôn. Nho học trở thành Nho giáo và là quốc giáo, qua quyết định của Hán Vũ Đế với mục đích phục vụ cho quân quyền.
Đường Nho
Nho giáo giữ địa vị độc tôn, người dân muốn tiến thân phải học kinh điển của Nho giáo để có thể thi đậu làm quan. Tuy nhiên khá đông dân chúng vẫn theo các tôn giáo khác. Phật giáo du nhập vào Trung Quốc khoảng từ thế kỷ thứ hai sau Công nguyên. Đời nhà Đường, Phật giáo được phát triển vì có sự cổ võ của triều đình. Lão giáo cũng được phục hồi và biến thái thành Đạo giáo có tính cách tu luyện huyền hoặc. Thời Đường là một thời nổi bật của văn hóa Trung Hoa, Nho học được coi như là nền móng của chế độ. Đường Thái Tông Lý Thế Dân (599 - 649) dùng các nhà Nho để soạn lại bộ sách “Ngũ kinh chính nghĩa” do Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648) làm chủ biên. Đây là bộ sách tiêu chuẩn cho khoa cử của Nho giáo đời Đường và các triều đại sau này.
Tống Nho
Nho giáo từ thời Hán qua thời Đường đã không có những thay đổi nhiều. Đến thời nhà Tống, Nho giáo tại Trung Hoa trong thế kỷ 11 đã có những thay đổi đáng kể. Nho giáo tuy gọi là “giáo” nhưng chú trọng nặng về xã hội. Lão giáo hay Đạo giáo chú trọng nhiều về triết lý của đời sống, một phần đã biến dạng thành những niềm tin có tính cách huyền bí, như “tu tiên”, luyện đan, v.v... và các tu sĩ theo Đạo giáo được gọi là những đạo sĩ. Quần chúng đã biến tư tưởng của Đạo giáo thành những hình thức có tính cách mê tín. Phật giáo chú trọng đến duy tâm và hầu như không trực tiếp liên quan đến vấn đề chính trị (dù đã có vài hoàng đế say mê Phật pháp), tuy nhiên cũng đã có những ảnh hưởng lớn đến xã hội Trung Hoa.
Các Nho gia thời Tống - những người làm quan, trực diện với xã hội - một số cũng đã bị ảnh hưởng khá nhiều bởi tư tưởng của Đạo gia, những người này đã làm thay đổi quan niệm về Nho khá nhiều, họ pha trộn Nho giáo với quan niệm về siêu hình học của Đạo giáo. Thời Bắc Tống (960 - 1127), điển hình là Trương Tái (1020-1077), Chu Ðôn Di (1017-1073) và học trò của ông là hai anh em Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107). Trình Di với chủ trương phân biệt giai cấp giữa nam và nữ, ông này đưa ra chủ trương “phu xướng phụ tùy” và nêu lên tiết hạnh của người phụ nữ: “Có người hỏi ông, “Gái góa nghèo bơ vơ, có thể tái giá không?” Ông nghiêm chỉnh trả lời rằng, “Chết là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn”. Rồi câu thành ngữ “Cửa Khổng sân Trình” - “ sân Trình” ở đây chỉ Trình Tử (Trình Di).
Bắc Tống đã bị người Kim diệt năm 1127, một hoàng thân của triều Tống là Triệu Cấu (Tống Cao Tông) chạy về phía nam dựng nên nhà Nam Tống. Dù có chiến tranh liên tục với quân Kim phía bắc, nhưng Nho học trong thời này đã có một thay đổi lớn.
Người tạo nên khúc quanh này là Chu Hi (1130-1200), ông là người phát triển tư tưởng của Trình Hạo và Trình Di cộng thêm với tư tưởng của Phật giáo, đưa ra một học thuyết có tính cách vừa duy lý vừa duy tâm, dù quan niệm chủ yếu vẫn là Nho giáo. Các học giả gọi học thuyết của ông là “Tân Nho giáo”. Ông chủ trương “cách vật trí tri” (đối với sự vật, phải biết rõ nguyên lý, để có thể hiểu thấu đáo sự vật), đây là “Lý học” của Chu Hi. Ông cũng đề ra chủ thuyết an phận “Tồn thiên lí, khắc nhân dục” (muốn giữ cái “lí” của trời thì phải chế ngự cái “muốn” của người), thuyết này được ảnh hưởng bởi quan niệm “diệt dục” của Phật giáo. Chu Hi là người viết sách chú giải Tứ Thư (Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử) cũng như kinh Thi và kinh Dịch. Học thuyết của Chu Hi trở thành một học phái chính trong các triều đại kế tiếp (Nguyên, Minh, Thanh) và ảnh hưởng đến các nước chung quanh, đặc biệt là Việt Nam.
Minh Nho
Nhà Nam Tống bị nhà Nguyên (Mông Cổ) diệt năm 1279, sau gần một thế kỷ ngự trị Trung Hoa, nhà Nguyên bị nhà Minh (1368-1644) nổi lên đánh đuổi. Để thiết lập nền quân chủ chuyên chế, nhà Minh cũng giống như các triều đại trước, đã dùng Nho gia trong việc cai trị, vì thế Nho giáo vẫn vững mạnh. Tuy nhiên vì ảnh hưởng Tống Nho, nền giáo dục có tính cách từ chương vẫn được áp dụng.
Thời điểm này xuất hiện một nhà tư tưởng là Vương Dương Minh (1472-1528). Ông có tên thật là Vương Thủ Nhân, có tài cả văn lẫn võ, đã từng làm tướng đi dẹp loạn nhiều lần, tổ chức quân đội rất có qui củ. Ông phê bình “Lý học” của Chu Hi, cho là khó mà có thể tìm ra “đạo lí” từ sự vật (sau 7 ngày nghĩ về “lý” của cây trúc, ông đã không tìm ra được “đạo lý” gì!). Sau một thời gian dài suy nghĩ, ông cho là không thể tìm ra “đạo” từ sự vật, mà “đạo” từ trong tâm, tu tâm dưỡng tánh, làm lành, lánh ác mới biết được cái đạo của Trời. Ông đề ra học thuyết “Tâm học” là “trí lương tri” (cố gắng để biết thế nào là những điều tốt) và “tri hành hợp nhất” (biết được điều tốt lành thì phải lập tức thi hành, biết và làm phải đi đôi với nhau). Học thuyết của ông có tính cách thực dụng và bớt tính cách từ chương, dù cốt lõi vẫn là Nho giáo, được các học giả gọi là “Nho Giáo cải cách”. Học thuyết của Vương Dương Minh được phát triển khá rộng từ cuối thời Minh sang đến thời nhà Thanh. Tuy nhiên tư tưởng này vẫn bị lấn áp bởi tính cách từ chương và khoa cử của Tống Nho.
Vài nét sơ lược và tóm tắt về tiến trình của Nho giáo với những nhà tư tưởng tiêu biểu:
- Khổng Tử với Khổng học nguyên thủy.
- Mạnh Tử với nhận định “nhân chi sơ tính bản thiện” chủ trương “vương đạo” và “dân vi qúi...”.
- Đổng Trọng Thư với “Tam Cương” và “độc tôn Nho học” để phục vụ nền quân chủ chuyên chế.
- Trình Hạo, Trình Di hội nhập quan niệm siêu hình của Đạo học vào Nho giáo
- Chu Hi với “Lý học” và sự hội nhập quan niệm Đạo học cũng như tư tưởng Phật giáo vào Nho Giáo.
- Vương Dương Minh với “Tâm học” và “tri hành hợp nhất”.
Còn tiếp (C. Mặc học với sự phê bình về Nho học)
From : Trần Việt Bắc (Danlambao,.....
- “Người Trung Quốc xấu xí” của Bá Dương, nguồn tại: http://ttvnol.com/f_484/322358
- “Tìm hiểu cuộc đời” của Trịnh Hiểu Giang (Zheng xiao Jiang), dịch giả Nguyễn An, nguồn tại: http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=297542&mpage=1
- “Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức” của Lưu Á Châu.
- “Tướng Lưu Á Châu bàn về văn hóa” của Lưu Á Châu, bản dịch của Nguyễn Hải Hoành, nguồn tại: http://boxitvn.wordpress.com/2010/09/03/t%c6%b0%e1%bb%9bng-l%c6%b0u-chu-bn-v%e1%bb%81-van-ha/
Bá quyền văn hóa đe dọa Việt Nam
Nhìn vào độ chiếm sóng của phim Trung Quốc trên các đài truyền hình ở Việt Nam, nhiều người lo ngại về khả năng Việt Nam bị “đồng hóa” bởi anh bạn láng giềng. Khả năng đó có thật, và nó là biểu hiện của một hình thức bá quyền tinh vi: bá quyền văn hóa - một phần quan trọng trong chính sách bá quyền của nước lớn, một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ.
Giai điệu chủ
Câu chuyện bắt đầu từ năm 1987...
Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh - Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị gồm đại diện của tất cả các đơn vị sản xuất truyền hình khắp cả nước. Tại đây, Bộ cảnh báo về xu hướng "giải trí hóa" phim ảnh trên sóng truyền hình, đồng thời đưa ra chính sách mới: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim "giai điệu chủ" nhằm mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới.
Chính sách này phân loại phim truyền hình thành một số thể loại chính, nằm trong một khái niệm chung mà Chủ tịch Giang Trạch Dân gọi là "giai điệu chủ":
• Dòng phim về những đề tài mang tính thực tiễn, ca ngợi người tốt việc tốt - gọi chung là phim "thần tượng tuổi trẻ";
• Dòng phim cổ trang, gồm phim lịch sử ("Tam Quốc Diễn Nghĩa", "Vương triều Ung Chính", "Khang Hy", "Thái Bình Thiên Quốc"…), dã sử ("Tể tướng Lưu Gù", "Hoàn Châu Cách Cách"...)
• Dòng phim gia tộc luân lý ("Mùa quít chín", "Gia tộc Kim Phần"…)
• Dòng phim cách mạng, dựng lại ngữ cảnh thời xưa ("Khát vọng", "Câu chuyện Thượng Hải"…) hoặc tái hiện chân dung những nhân vật nổi tiếng (Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…)
• Dòng phim hình sự, chống tham nhũng ("Xứng danh anh hùng", "Khống chế tuyệt đối"…)
Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng.
Đặc biệt, chúng nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Nhà nước: Tất cả các phim, chỉ trừ dòng hình sự, chống tham nhũng, đều được hỗ trợ xuất khẩu, nhằm mục đích cao nhất là phổ biến "giá trị Trung Hoa" tới các quốc gia trong khu vực.
Trong số những nước mà Trung Quốc hướng tới, Việt Nam nổi lên như một tiền đồn, bởi "đây là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thay vì văn hóa Ấn Độ", như lời tác giả Hạo Kiện viết trong cuốn "Phim truyền hình Trung Quốc - nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu loại hình" (NXB Điện ảnh Trung Quốc, 2008).
Phần lớn các phim "giai điệu chủ" đã được giới thiệu ở Việt Nam, khán giả nước ta chẳng xa lạ gì với chúng. Các phim đều được xuất khấu với giá hết sức ưu đãi sang Việt Nam, thậm chí một số phim cho không (như "Khát vọng", "Tây du ký", "Vương triều Ung Chính") theo thỏa thuận hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước.
Ồ ạt "xâm lăng văn hóa"
Song song với việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, nhất là phim truyền hình, sang các nước trong khu vực mà đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc cũng tiến hành "Trung Hoa hóa" các sản phẩm của những nước này.
Bất chấp việc giới truyền thông Việt Nam đưa tin đậm về những phim hợp tác giữa hai nước như "Hà Nội Hà Nội" hay "Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong", các bộ phim này chưa bao giờ được ưu tiên chiếu giờ vàng trên sóng truyền hình của bất cứ đài nào ở Trung Quốc. Ví dụ, "Hà Nội Hà Nội" chỉ được phát trên đài tỉnh Quảng Tây, Nam Ninh vào lúc… đêm khuya thanh vắng.
Với nhiều tác phẩm điện ảnh và truyền hình nổi tiếng đến từ các nước khác, Trung Quốc thực hiện làm mờ tính nước ngoài của chúng. "Vua Kungfu" (Forbidden Kingdom) dù là phim của Mỹ và từ đạo diễn đến quay phim, phục trang đều là người Mỹ, nhưng khi đến đại lục, phim mặc nhiên được giới truyền thông nhào nặn thành sản phẩm Trung Hoa.
Các ngôi sao châu Á của Hollywood cũng bị "Trung Hoa hóa" tương tự. Khán giả Trung Quốc nói riêng và châu Á nói chung dễ lầm tưởng rằng Dương Tử Quỳnh, Maggie Q. (Lý Mỹ Kỳ - mẹ là người Việt Nam) là người đại lục.
Trung Quốc cũng khéo léo lờ đi chuyện quốc tịch của nhiều diễn viên nổi tiếng trong nước họ: Hầu như rất ít người biết rằng ngôi sao Trương Thiết Lâm mang quốc tịch Anh, Tư Cầm Cao Oa là người Thụy Sĩ, Ninh Tĩnh là người Pháp, còn mỹ nhân Chương Tử Di gốc gác Hong Kong.
Lý Mỹ Kỳ (Maggie Q.), mẹ là người Việt, cha quốc tịch Mỹ,
sinh tại Hawaii, nhưng vẫn bị đa số khán giả Trung Quốc nghĩ là người Hoa.
Đằng sau chiến lược xuất khẩu văn hóa của Trung Quốc
Một nước lớn với dân số hùng hậu như Trung Quốc khó mà chấp nhận tầm ảnh hưởng ít ỏi ở thế giới. Và trên con đường "trỗi dậy hòa bình" để trở thành bá quyền ít nhất là trong khu vực, Trung Quốc mau chóng nhận thấy sức mạnh của văn hóa - thứ "quyền lực mềm" đầy quyến rũ.
Chẳng riêng Trung Quốc biết điều đó. Như một nhà nghiên cứu người Hungary, Márkus Péter, đã viết: Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thoạt tiên, khi không có sự khác biệt đáng kể trong kỹ thuật, sức mạnh chân tay - quân sự thô kệch còn chiếm vai trò chế ngự. Thế kỷ 16-19, những mối quan hệ kỹ thuật - kinh tế từng bước chiếm ưu thế. Từ thế kỷ 20, văn hóa và truyền thông bắt đầu lên ngôi.
Bên cạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia sẽ thực hiện cả tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Sau Chiến tranh Lạnh, ở châu Âu, bên cạnh ngoại giao về chính trị và kinh tế, thì ngoại giao văn hóa ngày càng nở rộ, và dần dần sẽ trở thành hình thức bá quyền chủ yếu.
Pháp và Đức là hai quốc gia rất chú trọng tới vấn đề "bá quyền văn hóa" này. Các hoạt động “xuất khẩu văn hóa” của họ được tiến hành mạnh mẽ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó ngay tại Việt Nam: Chương trình hoạt động thường niên của Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace) và Viện Goethe sôi nổi hơn hẳn so với Hội đồng Anh (British Council) hay Viện Cervantes của Tây Ban Nha.
Và đến đây thì chúng ta cũng có thể nhận thấy những hình thức ngoại giao văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành đối với Việt Nam, trong nhiều ví dụ thực tế. Phim truyền hình Trung Quốc chiếm sóng các đài ở Việt Nam, cả trung ương lẫn địa phương. Khán giả thuộc sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam. Các ca sĩ thời thượng rành rẽ về trang phục của đời Thanh và chắc chắn là sẽ không trả lời được câu hỏi vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa ăn mặc như thế nào.
Ngay trong giới trí thức, tâm lý sùng bái văn hóa Trung Hoa đã rất nặng. Một số đông trí thức Việt Nam có thể dễ dàng trích dẫn các điển tích, điển cố của Trung Hoa thay vì của phương Tây hay thậm chí của chính nước mình. Nói tới văn hóa Trung Hoa là nói tới một nền văn học với những tác phẩm vĩ đại, tới triết học thâm sâu, tới sân khấu kinh kịch có sức sống trường tồn, tới điện ảnh với những nhân tài mà ngay cả Hollywood cũng phải kiêng nể.
Điều này không sai, tuy nhiên, cái đáng nói ở đây là nhiều trí thức Việt Nam luôn vị nể quá mức thay vì đặt văn hóa Trung Hoa vào tương quan đúng mực với các nền văn hóa khác trên thế giới - cũng rực rỡ và vĩ đại như thế.
Khái niệm bá quyền văn hóa - tư tưởng mãi tới thập niên 30 của thế kỷ 20 mới ra đời. Trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện bá quyền văn hóa - tư tưởng với láng giềng Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua. Ngày nay, với sự phát triển của truyền thông, dường như cuộc "xâm lăng văn hóa" này diễn ra một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn bao giờ hết.
Hai thủ tướng chứng kiến lễ ký các văn kiện quan trọng, gồm cả thỏa thuận thành lập Học viện Khổng Tử tại Việt Nam.
Vấn đề đến từ phía những kẻ bị “xâm lăng”
Bá quyền không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được bá quyền, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần của những kẻ bị bá quyền.
Riêng trên địa hạt văn hóa - tư tưởng, các học giả nghiên cứu về bá quyền văn hóa đều cho rằng bá quyền văn hóa, nếu được thực hiện, không thể thiếu sự đồng thuận một phần hoặc toàn thể của kẻ bị bá quyền.
Như thế, việc Trung Quốc tiến hành bá quyền văn hóa thành công còn phụ thuộc cả vào cách cư xử của nước bị bá quyền, ở đây là Việt Nam.
Điều đó nghĩa là Việt Nam cần có thái độ và ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, nên có sự trao đổi văn hóa song phương với Trung Quốc một cách tương xứng.
Việt Nam có thể thỏa thuận các chương trình trao đổi văn hóa với Trung Quốc, theo đó, đồng thời với việc nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của nước láng giềng, Việt Nam sẽ xuất khẩu văn hóa theo hướng ngược lại, xuất bản sách, tổ chức những ngày văn hóa, tuần văn hóa Việt Nam... tại Trung Quốc.
Theo một thống kê được công bố trên tờ "China Daily", năm 2004, Trung Quốc nhập khẩu 4.000 đầu sách từ Mỹ, nhưng chỉ xuất khẩu 14 đầu sách sang nước này; nhập 2.000 đầu sách từ Anh, nhưng chỉ xuất sang đây 16 đầu sách.
Từ năm 1999 đến năm 2002, hơn 280 đoàn nghệ thuật Nga biểu diễn ở Trung Quốc, trong khi chỉ có 30 đoàn nghệ thuật Trung Quốc sang biểu diễn tại Nga. Giai đoạn 2000-2004, Trung Quốc nhập khẩu trên 4.000 phim và chương trình truyền hình, nhưng xuất khẩu không đáng kể. Dòng phim "giai điệu chủ" hầu hết chỉ tiêu thụ được ở khu vực Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là "tiền đồn".
Đã đành Nga, Mỹ và Anh là ba nước lớn nên Trung Quốc không dễ tiến hành bá quyền văn hóa như với Việt Nam. Nhưng ngay cả một quốc gia nhỏ bé ở Đông Âu là Hungary - diện tích chỉ bằng một phần ba Việt Nam, dân số 10 triệu - thì cũng từng tổ chức Năm Văn hóa Hungary tại Trung Quốc (2007-2008), và dựng tượng đại thi hào dân tộc Petőfi Sándor ở Thượng Hải.
From :Đoan Trang (phamdoantrang.com/2013/10/ba-quyen-van-hoa-e-doa-viet-nam.html )
Học viện Khổng Tử và âm mưu quảng bá sức mạnh mềm của TQ
Trong những năm gần đây, Chính quyền Trung Quốc đẩy mạnh hậu thuẫn mở rộng các Học viện Khổng Tử trên thế giới nhằm quảng bá sức mạnh mềm của Bắc Kinh, cũng như làm cơ sở để tiến hành các hoạt động tình báo trái phép tại nước ngoài.
Học viện Khổng Tử là gì
Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc thì Viện Khổng Tử là cơ quan giáo dục phi lợi nhuận thuộc Văn phòng lãnh đạo quảng bá Hán ngữ ra quốc tế (gọi tắt là “Hán Biện”) trực thuộc Bộ Giáo dục, trụ sở chính đặt ở Bắc Kinh, được thành lập ở các quốc gia với nhiệm vụ “quảng bá Hán ngữ, giúp các nước hiểu biết thêm về Trung Quốc”. Công việc quan trọng của nó là cung cấp tài chính (Theo Giáo sư Cát Kiếm Hùng ở Đại học Phục Đán, mỗi Viện Khổng Tử thành lập được Hán Biện tài trợ ban đầu từ 500 ngàn USD, hàng năm còn cấp thêm kinh phí hoạt động từ vài chục ngàn tới cả triệu USD; cử giảng viên, biên soạn và đảm bảo tài liệu học Hán ngữ, tạo lập con đường học Hán ngữ chính quy cho những người muốn học thứ tiếng này trên khắp thế giới.
Người Trung Quốc so sánh Viện Khổng Tử với những tổ chức xúc tiến ngôn ngữ và văn hóa như Viện trao đổi văn hóa Pháp, Viện Goethe của Đức hay Hội đồng Anh. Tuy nhiên, khác biệt căn bản trong tôn chỉ mục đích và hoạt động của Viện Khổng Tử so với các cơ quan văn hóa phương Tây dần bộc lộ: ba cơ quan nêu trên của Anh, Pháp và Đức đều không được đặt trong các trường đại học trên toàn cầu mà hoạt động độc lập, công khai tôn chỉ và định hướng tại các nước đối tác. Trong khi đó, các Viện Khổng Tử đặt trong khuôn viên các trường đại học của nước sở tại nhưng giảng dạy theo “đúng định hướng” chính sách của Bắc Kinh.
Các Viện Khổng Tử hoạt động thông qua hợp tác với các trường đại học liên kết trên toàn thế giới. Kể từ khi Viện Khổng Tử đầu tiên được mở tại Seoul ngày 21/11/2004, theo “Hán Biện” thì tính tới đầu năm 2018, theo con số thống kê của Trung Quốc, trên thế giới có 525 viện và 1.113 lớp học Khổng Tử. Tính theo châu lục, cho thấy: châu Mỹ có 161 viện và 574 lớp học Khổng Tử (161/774); châu Âu: 173/307; châu Á: 118/101; châu Phi: 54/30; châu Nam Cực: 19/101. Tính theo nước (có từ 5 viện trở lên): Mỹ 93, Anh 24, Hà Quốc 19, Nga 17, Pháp 15, Nhật Bản 14, Đức 14, Canada 13, Thái Lan 12, Ý 11, Úc 11, Brazil 8, Ấn Độ 6, Tây Ban Nha 6, Indonesia 6, Mexico 5, Ukraina 5. Các con số trên chưa được xem là đầy đủ. Một số nguồn tin cho thấy ở Mỹ có 200 viện Khổng Tử.
Theo một đánh giá, năm 2015, Trung Quốc chi 311 triệu USD cho việc giảng dạy và các chương trình văn hóa ở nước ngoài; chi phí từ năm 2004-2015 lên tới 2 tỷ USD. Tính đến năm 2015, có 5.000 giáo viên tiếng Trung tại các viện, đào tạo 1,4 triệu người trên khắp thế giới. Trung Quốc có thể đã chi khoảng 10 tỷ USD mỗi năm để thúc đẩy sức mạnh mềm.
Mục đích của Học viện Khổng Tử
Mặc dù Bắc Kinh ra sức tuyên truyền mục tiêu của các Viện Khổng Tử là giảng dạy, đào tạo giáo viên tiếng Trung, tổ chức thi trình độ Hán ngữ, chiếu phim Trung Quốc, tư vấn du học, tổ chức các hoạt động trao đổi văn hóa, hữu nghị... nhằm đưa văn hóa Trung Hoa ra thế giới; nhưng có vẻ mục đích chính của nó không hoàn toàn như thế.
Chính ông Lý Trường Xuân, nguyên Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc đã không giấu diếm: “Viện Khổng Tử là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tuyên truyền ở nước ngoài của Trung Quốc”. Nhiều học giả quốc tế đã nhìn nhận “các Viện Khổng Tử là một hạm đội đấu tranh tư tưởng toàn cầu nhằm đạt tới mục tiêu chiến lược “nhược Tây cường Trung”.
Hiệp hội Giáo sư Đại học Hoa kỳ (AAUP) đã hối thúc các trường đại học phương Tây cắt đứt quan hệ với Viện Khổng Tử và ra một thông cáo chỉ trích Viện Khổng Tử: “Viện Khổng Tử hoạt động như một công cụ của nhà nước Trung Quốc và được phép không tôn trọng tự do học thuật”, “hầu hết các thỏa thuận về việc thành lập Viện Khổng Tử bao gồm những điều khoản không được tiết lộ và những sự nhượng bộ không thể chấp nhận đối với các mục tiêu chính trị và cách làm việc của chính phủ Trung Quốc”.
Quốc hội Thụy Điển nhận định: Viện Khổng Tử là nơi để chính phủ Trung Quốc tuyên truyền chính trị; còn cơ quan an ninh quốc gia Canada thì cho rằng: Viện Khổng Tử là bước đầu tiên để Trung Quốc thực hiện ý đồ xâm nhập, thẩm thấu vào quốc gia sở tại. Các quan chức Ấn Độ và Nhật Bản cũng hoài nghi các Viện Khổng Tử không chỉ truyền thụ Hán ngữ, mà còn truyền bá ý thức hệ, quan niệm giá trị của Trung Quốc, là công cụ để tác động, gây ảnh hưởng đến dân chúng và chính quyền nước sở tại.
Trong một thời gian dài sau khi được thành lập, các Viện Khổng Tử do chính phủ Trung Quốc tài trợ thành lập đã gây nên tranh cãi ở các nước. Nhiều người lo ngại Viện Khổng Tử sẽ gây hại đến tự do học thuật của giáo dục phương Tây. Cuối năm 2014, trả lời phỏng vấn của đài BBC, ông Hứa Lâm, Chủ nhiệm Hán Biện khi đó thẳng thắn không giấu diếm: “Viện Khổng Tử là cơ cấu học thuật, nơi truyền bá quan niệm giá trị của Trung Quốc ra nước ngoài, bất kể đó là các trường đại học lớn như Columbia, Stanfort hay các trường tiểu học ở khu phố nhỏ”.
Chính những người trong cuộc cũng không tán thành với kiểu hoạt động của Viện Khổng Tử. Khổng Kiện (tên trong gia phả là Khổng Tường Lâm), hậu duệ đời thứ 75 của Khổng Tử, tháng 12/2014 đã thành lập một cơ sở dạy Luận Ngữ tại Tokyo. Mặc dù là cố vấn của Viện Khổng Tử ở Nhật, song Khổng Kiện đã thẳng thừng chỉ trích các Viện Khổng Tử do chính phủ Trung Quốc mở khắp nơi trên thế giới “đều là treo đầu dê bán thịt chó, chả liên quan gì đến Nho học cả”.
Đáng chú ý, theo ông Michel Juneau Katsuya, cựu Vụ trưởng Châu Á-Thái Bình Dương thuộc Cục Tình báo Canada cho biết nhiều năm qua, các Viện Khổng Tử thường sử dụng một sách lược chung ở nhiều quốc gia là thông qua thẩm thấu chính trị để khống chế quan điểm chính trị và ngôn luận. Viện Khổng Tử là một cơ quan gián điệp, được Trung Quốc thao túng và lợi dụng. Hiện cơ quan tình báo Canada vẫn đang điều tra việc các nhân viên của Viện Khổng Tử có ý định tìm kiếm các văn kiện cơ mật, tài khoản và hộp thư điện tử của chính phủ, yêu cầu cho họ sử dụng hộp thư tên miền chính phủ…những hành vi đó đều là hoạt động gián điệp. Lý Phụng Trí, một cựu quan chức tình báo của Trung Quốc cũng nói: “Khi Trung Quốc lập ra Viện Khổng Tử là có xem xét về chiến lược. Bản thân tôi cho rằng đó là con đường tốt, rất tốt để cài cắm các nhân viên tình báo”.
Theo báo Pioneer, các cơ quan tình báo Ấn Độ cũng nghi ngờ Viện Khổng Tử đang phục vụ cho mục đích thu thập tình báo và lôi kéo các chuyên gia đầu ngành thế giới làm việc cho Trung Quốc. Việc thành lập Viện Khổng Tử tại Đại học Mumbai và nỗ lực mở các trung tâm tương tự ở Vellore, Sulur, Coimbatore và Kolkata đang gây hồi chuông báo động trong cộng đồng tình báo ở đây. Một quan chức tình báo cấp cao tại New Delhi cho hay, có một mối lo ngại khác là việc các cơ quan Trung Quốc cũng đang thông qua các doanh nghiệp Trung Quốc để tiếp cận những người ra quyết định trong các tổ chức của Ấn Độ. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng thể hiện tham vọng địa chính trị, các cơ quan tình báo Ấn Độ thấy rõ Bắc Kinh tích cực thu thập thông tin tình báo. Các cơ quan này đang theo dõi các Bản Ghi nhớ (MoU) mà Trung Quốc ký kết với các trường đại học/cao đẳng của Ấn Độ, các chương trình trao đổi sinh viên và nỗ lực để vận động tình hình hậu Đạt Lai Lạt Ma theo hướng có lợi cho mình. Bộ Nội vụ nắm rõ các mối đe dọa phát sinh từ sự xâm nhập của Trung Quốc vào các cơ sở giáo dục Ấn Độ và đang tìm kiếm chiến lược để giải quyết thách thức. Cách thức hoạt động của bộ máy thu thập thông tin tình báo của Trung Quốc trên toàn cầu là sử dụng những người nghiệp dư và cộng đồng người Hoa định cư trên toàn thế giới. Các cơ quan tình báo Trung Quốc khác với các cơ quan Mỹ và Nga là Bắc Kinh khai thác quyền lực mềm cho các hoạt động gián điệp dưới sự che chở của các hoạt động hợp pháp. Đáng chú ý là Trung Quốc đã thu thập thông tin thông qua các học giả, doanh nhân và nhân viên tình báo hoạt động dưới vỏ bọc chính thức của nhà ngoại giao, tùy viên quốc phòng, nhà báo và các Viện Không Tử.
Bộ giáo dục bang New South Wales của Australia cũng đã xem xét lại chương trình dạy tiếng Trung và văn hóa Trung Quốc vốn được áp dụng tại các trường công lập trên khắp nước Australia. Các trường được phía Trung Quốc cấp kinh phí 10.000 USD. Giáo viên do phía Trung Quốc bổ nhiệm. Giáo sư Clive Hamilton, thuộc Đại học Chales Sturt (Úc), kêu gọi các trường đại học của Úc có dính líu với viện Khổng Tử xem xét lại quan điểm cuả họ về vai trò của viện tại cấp đại học của nước Úc. Ông này nói: “Mỹ và Canada đã loại bỏ các viện Khổng Tử ra khỏi một số trường đại học vì họ hiểu đó không phải là các trung tâm văn hóa vô hại như đã từng tuyên bố. Đã đến lúc các trường đại học của Úc cũng cần nhận thức được vấn đề này và đóng cửa các viện Khổng Tử càng sớm càng tốt”.
Một trí thức Trung Quốc là Giáo sư Tôn Quảng Văn ở Đại học Sơn Đông cũng phát biểu: “Trung Quốc cho đặt nhiều Viện Khổng Tử ở khắp nơi trên thế giới, lúc đầu ngọn cờ (tôn chỉ) của Viện Khổng Tử là giới thiệu văn hóa truyền thống Trung Quốc ra thế giới; thực tế là thao túng, lợi dụng Viện Khổng Tử để truyền bá quan niệm giá trị, tuyên truyền phiến diện và che đậy những vấn đề chính trị của chính phủ Trung Quốc”.
Dư luận trong nước Trung Quốc cũng đã xuất hiện các ý kiến cho rằng các Viện Khổng Tử cũng là nơi để các quan tham kiếm chác bằng cách xin kinh phí mở trường, đưa con cái, người thân sang làm giáo viên rồi dần dần tìm cách nhập cư các nước phương Tây sở tại và đã xuất hiện ý kiến đòi đóng cửa nó.
Cách thức hoạt động của Học viện Khổng Tử
Văn phòng “Hán Bản” tại Bắc Kinh giữ quyền chỉ định một trường đại học Trung Quốc có thứ hạng tương ứng làm đối tác và cử một giám đốc người Trung Quốc của đại học này trực tiếp chỉ đạo. Các đồng giám đốc người địa phương do Hán Bản mời tham gia chỉ là đại diện có tính hình thức mà không trực tiếp chỉ đạo các hoạt động thường xuyên. Mỗi năm họ được mời dự họp hai lần để nghe báo cáo về tình hình và giải quyết những sự vụ phát sinh. Về giáo viên, đối tác Trung Quốc có nhiệm vụ tìm kiếm giáo viên người bản ngữ là cán bộ của trường để cử sang các nước giảng dạy theo chế độ tình nguyện. Nhiệm kỳ của giáo viên tình nguyện từ 6 tháng đến một năm, và cũng do trường đối tác bên Trung Quốc trả lương. Trên thực tế, do những khó khăn về lương bổng và nhân lực nên số giáo viên tình nguyện người Trung Quốc không nhiều. Học viện Khổng Tử thường khắc phục bằng cách đào tạo những hạt nhân xuất sắc là sinh viên người bản địa, cấp học bổng cho sang Trung Quốc nâng cao trình độ rồi sau đó tuyển dụng làm giáo viên. Mặc dù các Học viện Khổng Tử không tham gia trực tiếp vào hoạt động đào tạo của các trường địa phương nhưng về hình thức, học sinh và sinh viên thường có cảm giác Học viện Khổng Tử chính là một phần của nhà trường.
Về giáo trình, các Học viện Khổng Tử sử dụng giáo trình riêng do học viện biên soạn và cung cấp. Tuy nhiên, một số học viện ở Thái Lan cũng được phép biên soạn giáo trình riêng để thích hợp với hoàn cảnh và văn hóa địa phương với điều kiện phải được Hán Bản phê duyệt. Các giáo viên tình nguyện Trung Quốc ở Thái Lan cho biết trước khi khởi hành sang Thái Lan, họ được tập huấn về tầm quan trọng của công việc, và được yêu cầu phải nhanh chóng thích ứng với văn hóa và tập tục địa phương, xem công việc dạy Hán ngữ ở nước ngoài như một sứ mạng quốc gia đại diện cho văn hóa Trung Hoa. Họ được khuyên phải thích ứng với các nghi lễ của người Thái như chắp tay trước ngực khi chào hỏi và quỳ gối khi tiếp xúc các nhân vật của hoàng gia trong những nghi lễ trang trọng.
Hoạt động của các Học viện Khổng Tử tại Thái lan, Việt Nam và các nước trong khu vực tương đối giống nhau, bao gồm một số mảng chính:
(1) Tổ chức các khóa đào tạo Hán ngữ ngắn hạn (từ 3 đến 6 tháng) cho các đối tượng công chức viên chức, giáo viên và người có nhu cầu. Ở Campuchia, một chương trình đào tạo Hán ngữ riêng được biên soạn dành cho sỹ quan quân đội với thời gian đào tạo lâu hơn.
(2) Tổ chức các hoạt động văn hóa khoa học như hội thảo, triển lãm, giới thiệu văn hóa đặc sắc Trung Hoa, võ thuật, âm nhạc, hội họa, và các cuộc thi Hán ngữ quy mô quốc gia.
(3) Tổ chức các cuộc thi đánh giá năng lực Hán ngữ và cấp bằng (Chinese Language Proficiency tests (HSK)) cho công dân địa phương.
(4) Cung cấp thông tin về học bổng, giáo dục, du lịch và văn hóa Trung Quốc
(5) Quảng bá văn hóa ngôn ngữ Trung Hoa, cung cấp giáo trình, giáo viên tình nguyện và hợp tác với các cơ sở dạy Hán ngữ địa phương trong việc biên soạn chương trình giảng dạy và học liệu.
Thái độ của các nước trong khu vực
Vào năm 2005, Trung Quốc bắt đầu đàm phán với các nước trong khu vực Mê Kông về việc thành lập chương trình truyền bá Hán ngữ. Năm 2006 “Hán Bản” đã ký một hiệp định với Bộ Giáo dục Thái Lan cho phép thành lập Học viện Khổng Tử và Lớp học Khổng Tử tại tất cả các bậc học từ tiểu học, trung học đến đại học của Thái Lan. Hiệp định này cũng mở đường cho các HọC VIệN KHổNG Tử tại Thái Lan tiếp nhận tài trợ, chương trình giảng dạy và giáo viên tình nguyện từ TRUNG QUốC. Việc thành lập các Học viện Khổng Tử ở Thái Lan được cho là kết quả của hợp tác kinh tế đang tăng nhanh giữa hai nước, nhằm đáp ứng nhu cầu về ngôn ngữ, văn hóa Trung Quốc và cải thiện quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước và đặc biệt là để tạo dựng nguồn nhân lực mới trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế (Kriengsak 2008). Ba năm sau, một hiệp định tương tự cũng được ký kết giữa Chính phủ Trung Quốc và Campuchia. Chỉ từ năm 2006 đến 2009, Trung Quốc đã thành lập được 12 Học viện Khổng Tử ở các trường đại học và 11 Học viện Khổng Tử ở các trường tiểu học và trung học của Thái Lan. Ở Campuchia, Học viện Khổng Tử được chào đón nhiệt tình, đặt tại Viện Hàn lâm Hoàng Gia Campuchia tại Phnom-Pênh và có tới 4 chi nhánh mở rộng ở các vùng khác nhau.
Trong khi đó, ở ba nước còn lại, việc thành lập các Học viện Khổng Tử không hẳn diễn ra thuận lợi. Ở Myanmar, các cuộc đàm phán giữa “Hán Bản” và Chính phủ Myanmar không hề dễ dàng, bất chấp thực tế là từ 1990 đến 2000, Chính phủ quân sự Myanmar có xu hướng thân Trung Quốc. Chỉ đến 2008, Myanmar cho phép lập một Học viện Khổng Tử, nhưng không phải ở một trường đại học danh tiếng như Trung Quốc mong đợi, mà là tại một trường dạy nghề và ngôn ngữ ở Yangoon có tên gọi Fuxing Language and Computer School, một chi nhánh khác của viện này đặt tại Trường Ngôn ngữ và Máy tính Fuquing (Fuquing Language and Computer School) thuộc tỉnh Mandalay, miền trung Myanmar.
Tại Lào, tháng 3/2010 Đại học Quốc gia Lào đã cho phép Học viện Khổng Tử đặt một cơ sở tại trường này. “Hán Bản” đã phân công Đại học Dân tộc Quảng Tây trực tiếp tổ chức các chương trình hoạt động tại đây. Theo báo cáo, năm đầu tiên đã có 200 học viên tham gia học tại các chương trình Hán ngữ do cơ sở này tổ chức, chủ yếu là các công chức chính phủ và người dân.
Việt Nam là nước cuối cùng ở khu vực Mê Kông có Học viện Khổng Tử. Tháng 4/2008, Đại học Sư phạm Quảng Tây đã thỏa thuận với Đại học Hà Nội về việc thành lập một Học viện Khổng Tử tại trường này. Thỏa thuận này đã được Việt Nam chấp nhận bằng một thông báo của Thủ tướng Chính phủ năm 2009 cho phép thành lập thí điểm một Học viện Khổng Tử. Tuy nhiên, cho đến tận tháng 12/ 2011, Tập Cận Bình, trong chuyến thăm Việt Nam với tư cách là Phó Chủ tịch Trung Quốc, vẫn phải “mong mỏi Chính phủ Việt Nam sớm tạo điều kiện để thành lập Học viện Khổng Tử tại Việt Nam”. Đến 2 năm sau, tháng 12/2013, Văn phòng Hán Bản tại Bắc Kinh mới phát đi thông báo chính thức được phép mở Học viện Khổng Tử tại Việt Nam và một năm nữa, tháng 12/ 2014, Văn phòng Học viện Khổng Tử đặt tại Đại học Hà Nội mới được khai trương.
Nhiều nơi trên thế giới bắt đầu cấm Học viện Khổng Tử
Ngày 6/6/2018, Ủy ban Tiểu tổ Thượng nghị viện Mỹ đã tổ chức buổi điều trần về vấn đề Trung Quốc lợi dụng các du học sinh để thu thập tình báo. Tại đây, có ý kiến đề nghị chính phủ hãy đóng cửa ngay tất cả các Viện Khổng Tử trong các trường đại học Mỹ. Buổi điều trần này lúc đầu có tên “A Thousand Talents: China’s Campaign to Infiltrate and Exploit U.S. Academia” (Kế hoạch Ngàn người – trào lưu Trung Quốc thâm nhập và lợi dụng giới học thuật Mỹ); nhưng sau đó được đổi tên thành “Student Visa Integrity: Protecting Educational Opportunity and National Security” (Siết chặt cấp visa sinh viên để bảo vệ cơ hội giáo dục và an ninh quốc gia).
Được biết, hiện nay lưu học sinh Trung Quốc ở Mỹ có tới 350 ngàn, chiếm 1/3 tổng số lưu học sinh nước ngoài ở nước này. Các cơ quan tình báo và an ninh Mỹ đã bày tỏ lo ngại các sinh viên và học giả Trung Quốc bị chính phủ nước họ lợi dụng để thu thập tình báo và các tài liệu nghiên cứu nhạy cảm trong các trường đại học Mỹ, gây nên mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ.
Ngoài ra, các thượng nghj sĩ Mỹ cũng rất quan ngại trước sự có mặt và hoạt động của các Viện Khổng Tử được chính phủ Trung Quốc tài trợ. Theo số liệu chính thức của Mỹ, hiện nay trên toàn thế giới có ít nhất 500 Viện Khổng Tử và 1000 Khóa đường Khổng Tử; riêng ở Mỹ hiện đang có 103 Viện Khổng Tử và 501 Khóa đường Khổng Tử đang hoạt động. Các thượng nghị sĩ cho rằng cần phải tăng cường giám sát và tốt nhất là đóng cửa luôn các Viện Khổng Tử này.
Phát biểu tại buổi điều trần, Thượng nghị sĩ Cộng hòa Marco Rubio nói: các Viện Khổng Tử dưới sự chỉ đạo của chính phủ Trung Quốc lâu nay được sử dụng như một phương thức áp chế tự do học thuật trong nhà trường; Bắc Kinh lợi dụng các viện này để lôi kéo các sinh viên làm gián điệp cho họ, thậm chí có ý đồ đào tạo những chính khách thân Trung Quốc; là một bộ phận trong chính sách vượt qua nước Mỹ của Trung Quốc. Ông kêu gọi các trường đại học Mỹ hãy đóng cửa tất cả các cơ cấu này. Ngoài ra, Joseph Morosco – quan chức Cục Tình báo quốc gia phụ trách hoạt động phản gián cũng bày tỏ quan ngại trước hoạt động thâm nhập của người Trung Quốc bởi “Trung Quốc là đối thủ kinh tế đáng sợ của Mỹ và có ý đồ giành được các kỹ thuật quan trọng và các kiến thức chuyên môn để giúp họ phát triển khoa học và cải cách quân sự”.
Trước đó, từ ngày 20/2/2018 đã xuất hiện phong trào dân chúng Mỹ ký tên vào Thỉnh nguyện thư gửi Nhà Trắng yêu cầu đóng cửa các Viện Khổng Tử ở Mỹ. Lý do mà họ nêu lên là: Trung Quốc lợi dụng các viện này để giám sát học sinh, gây tổn hại đến tự do ngôn luận của Mỹ và đe dọa những lưu học sinh Trung Quốc cùng người nhà ở Trung Quốc nếu có ý kiến bất đồng với chính phủ của họ. Mới đây đã có thêm 3 trường đại học ở các bang Texas và Florida tuyên bố đóng cửa các Viện Khổng Tử đặt tại nhà trường.
Giám đốc Cục Điều tra Liên bang (FBI) Christopher Wray hôm 13/2/2018 khi điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng nghị viện về vấn đề của Viện Khổng tử ở Mỹ cũng đã chỉ trích việc chính phủ Trung Quốc sử dụng các giáo sư, nhà khoa học, sinh viên vào việc thu thập tình báo. Ông cho biết FBI đang điều tra một số Viện Khổng Tử và phê phán giới học thuật Mỹ “quá ngây thơ và ấu trĩ” khiến vấn đề tồi tệ thêm.
Trước đó, ngày 30/6/2015, Đại học Stockholm (Thụy Điển) cũng chính thức đóng cửa Viện Khổng Tử sau khi tuyên bố không kéo dài Hiệp định hợp tác 10 năm ký giữa nhà trường với phía Trung Quốc hết hạn vào cuối năm 2014, đây là Viện Khổng Tử đầu tiên được mở ở châu Âu.
Ngày 7/2/2013, các trường đại học nổi tiếng của Canada là McMaster University và University of Sherbrooke cũng đã tuyên bố đóng cửa Viện Khổng Tử trong khuôn viên các trường này từ mùa Hè cùng năm. Ngày 29/10/2014, Cục giáo dục công lập Toronto Canada (Toronto District School Board,TDSB) bỏ phiếu với đa số áp đảo (20/2) hủy bỏ kế hoạch hợp tác với Bộ giáo dục Trung Quốc về hoạt động của các Viện Khổng Tử, Khóa đường Khổng Tử. Các đây mấy năm, ngày 4/12/2014, Hạ nghị viện Mỹ cũng đã tổ chức cuộc điều trần, yêu cầu chính phủ điều tra việc cho lập các Viện Khổng Tử…
Nhìn chung, các nước đều biết Trung Quốc sử dụng Học viện Khổng Tử làm công cụ quảng bá sức mạnh mềm, chi phối ảnh hưởng trong lĩnh vực văn hóa và tạo dựng cơ sở để hoạt động tình báo trái phép ở nước ngoài. Do đó, thời gian tới, xu hướng Học viện Khổng Tử sẽ từng bước giảm dần ở châu Mỹ, châu Âu, song sẽ tiếp tục gia tăng đối với các nước châu Phi.
Làm gì với Viện Khổng Tử ở Hà Nội?
BBC WORLD SERVICECuối năm 2014, ngày 27 tháng 12 một Viện Khổng Tử đã chính thức được đặt trong đại học Hà Nội. Mục đích được nêu ra là “thúc đẩy việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Trung Quốc, góp phần củng cố và phát triển quan hệ Việt-Trung ...”
Nhưng giới trí thức Việt Nam không ai tin.
Người Việt và người Trung Hoa đều nghi ngờ vai trò của Viện Khổng Tử.
Thí dụ, ông Ngô Đức Thọ, thuộc Viện Hán Nôm Hà Nội, lo rằng Trung Cộng đang “mang ngay tư tưởng bành trướng Đại Hán cắm giữa thủ đô Hà Nội!”
Bên Trung Quốc, nhà tranh đấu Lưu Hiểu Ba, giải Nobel Hòa Bình, cho rằng hàng động này nằm trong kế hoạch thúc đẩy đầu óc dân tộc cực đoan trong nước Tàu; để dân quên cảnh chính quyền độc tài đàn áp; và cũng vì đầu óc muốn làm bá chủ thiên hạ của đám lãnh đạo Bắc Kinh.
Có thể nói ở nước ta từ đời Lý, Trần đã lập các Viện Khổng Tử, mà các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng vậy. Bởi vì từ thế kỷ 19 về trước các dân tộc Á Đông này đều học kinh điển Khổng, Mạnh, dùng làm nền tảng giáo dục.
Vì sao lo ngại?
Nhưng tại sao bây giờ người Việt phải lo ngại về một Viện Khổng Tử?
Hơn nữa, hiện nay nhiều nước chung quanh vẫn chấp nhận các Viện Khổng Tử do Trung Cộng đài thọ, như tại Nam Hàn đã lập 17 viện, tại Nhật Bản có 13, Thái Lan 12, Indonesia có 7 viện.
Tại sao người Việt Nam chúng ta lại chống? Lý do chính là vì không người Việt nào tin Cộng Sản Trung Quốc. Chính tuần báo Anh quốc The Economist cũng nhận xét rằng Viện Khổng Tử là một “cơ quan nhà nước” cho nên nó sẽ đóng vai thi hành các chủ trương của Cộng Sản Trung Quốc.
Từ năm 1950 đến nay, chủ trương của Trung Cộng vẫn là muốn Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc Bắc Kinh; mở đầu bằng viện trợ quân sự, sau là dậy đấu tố, chỉnh huấn, tạo ra một đảng cộng sản người Việt nằm trong tay Trung Cộng.
Cho nên ông Vũ Cao Phan, người từng giữ vai Phó chủ tịch hội Hữu nghị Việt Trung, tỏ ý nghi ngờ mục tiêu của Trung Cộng: “Viện Khổng Tử tại đại học Hà Nội ... sẽ tuyên truyền những cái khác ngoài văn hóa!”
Ông Nguyễn Văn Tuấn nhìn ra, “Viện Khổng Tử ... mở thêm một cánh cửa để Việt Nam lọt vào quĩ đạo [của Trung Quốc] lệ thuộc hơn nữa vào Tàu.”
Những phản ứng hoài nghi và chống đối của giới trí thức thủ đô Hà Nội và trên toàn quốc chắc sẽ không ngăn cản được quyết định thành lập Viện Khổng Tử. Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không dám ngăn cản nếu hoạt động của viện này là tuyên truyền cho “tư tưởng bành trướng Đại Hán.”
Nếu Trung Cộng đem sang những bản đồ vẽ cả vùng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Đường Chín Đoạn của Trung Quốc lưu giữ trong cái viện này, thì chắc các ông lãnh đạo đại học Hà Nội cũng đành chịu! Giả thử có cán bộ Trung Cộng sang dậy học tại Viện Khổng Tử giảng rằng đời xưa ông Mã Viện đã sang Giao Chỉ tiêu diệt bọn địa chủ Trưng Trắc, Thi Sách, để “giải phóng” dân Lạc Việt.
Nếu các bloggers trong nước lên tiếng phản đối thì họ có bị các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng bắt giam hay không? Chắc phải bắt hết, bởi vì trong thế kỷ 20 Việt Cộng đã học tập Trung Cộng theo đúng bài bản đấu tranh giai cấp đó.
AFPVậy chúng ta phải làm gì để ngăn chặn âm mưu tuyên truyền chủ trương Đại Hán?
Tự bàn về Khổng tử
Có một cách, là dùng gậy ông đập lưng ông.
Giới trí thức Hà Nội, như quý ông Ngô Đức Thọ, Vũ Cao Phan, Nguyễn Văn Tuấn nên phản công bằng cách mở ra những cuộc hội thảo, nghiên cứu khoa học về Khổng Tử, Mạnh Tử, theo tinh thần phê phán khách quan, phương pháp sử học và xã hội học.
Chúng ta có thể đề nghị tổ chức các cuộc thảo luận đó ngay trong Viện Khổng Tử! Nếu họ từ chối thì cứ tổ chức tại địa điểm khác, trong các đại học tư, các trường trung học, mượn các khách sạn, hay ngay tại tư gia. Mời mọi người tới tham dự, miễn phí, và bảo đảm được phát biểu tự do!
Nếu đại học Hà Nội sợ không dám cho giới trí thức Việt Nam công khai nghiên cứu Khổng Tử, Mạnh Tử trong viện, thì chúng ta cứ lập một Hội Nghiên cứu Khổng Mạnh, một hội tư, ai cũng được tự do tham dự.
Nên nghiên cứu cả Mạnh Tử, vì sách Luận Ngữ thuật lời Khổng Tử chú trọng đến tu thân nhiều hơn, còn sách Mạnh Tử đặc biệt bàn nhiều vấn đề chính trị học.
Ở nước ta, trước đây đã nhiều nhà nghiên cứu viết về Khổng Tử, Mạnh Tử. Như Phan Bội Châu (Khổng Học Đăng), hay Trần Trọng Kim (Nho Giáo). Nhưng các học giả trên nhìn Khổng Mạnh từ bên trong, với tư cách là những người học theo Khổng, Mạnh.
Nhìn từ bên ngoài, thì chỉ có các học giả Trung Hoa phê bình Khổng, Mạnh, phần lớn là đả kích hệ thống chính trị cổ truyền của nước họ, trong đó các vua quan nhân danh hai ông Khổng, Mạnh thiết lập những chế độ tập trung quyền hành và khinh thường dân chúng. Nhưng thực sự hai ông Khổng, Mạnh có chủ trương như vậy hay không?
Trong cuốn Đứng Vững Ngàn Năm, chúng tôi đã trình bày đường lối bóp méo Khổng giáo của các vua chúa bên Tàu nhằm phục vụ chế độ chuyên chế của họ, mà chế độ đó theo mô hình Pháp gia chứ không phải Nho gia. Từ thế kỷ 15 vua quan nước ta mới bắt chước mô hình cai trị đó.
Các hoàng đế Trung Hoa đã xuyên tạc Nho Giáo vì nhu cầu chính trị vua, vua quan nước ta cứ thế đi lạc theo.
Nếu hiểu đúng hai ông Khổng, Mạnh thì chúng ta biết rằng họ không hề chủ trương tôn quân tuyệt đối như các ông vua đời Tống, đời Thanh bên Tàu, hay vua Gia Long, Minh Mạng ở nước ta. Hội Nghiên cứu Khổng Mạnh có thể mời Viện Khổng Tử hợp tác tham gia một cuộc hội thảo về Khổng Tử hay Mạnh Tử.
BBC CHINESEThí dụ, một đề tài đáng thảo luận là: Ai có quyền cai trị dân? Xin trích dẫn một đoạn trong Lương Huệ Vương, Thượng, chương 6, như sau:
Mạnh Tử kể chuyện lúc gặp vua Lương, ông vua hỏi, “Khi nào thiên hạ định?” (Thiên hạ ô hồ định?) Mạnh Tử đáp rằng, “Khi có một người nắm quyền thì định” (Định vu nhất). “Ai có khả năng gom vào làm một?” (Thục năng nhất chi?) Trả lời, “Kẻ không thích giết người thì có thể thống nhất thiên hạ” (Bất thị sát nhân giả, năng nhất chi). Ông vua lại hỏi, “Ai ban quyền (thống nhất) cho người đó?” (Thục năng dữ chi?) Trả lời, “Tất cả thiên hạ không ai là không có cái quyền (ban cho) này” (Thiên hạ mạc bất dữ dã).
Qua đoạn văn trên chúng ta biết Mạnh Tử quan niệm chính quyền là do sự ủy nhiệm của mọi người dân. Ta còn thấy Mạnh Tử coi tất cả mọi người dân đều bình đẳng trong quyền ủy nhiệm cho vua cai trị, không ai không có quyền đó (Thiên hạ mạc bất dữ dã).
Tất cả mọi người dân có quyền chỉ định ai là kẻ đáng nắm quyền trong thiên hạ, trong một nước hay trong một tỉnh, một quận cũng vậy. Thời ông Mạnh Tử, trước đây hơn 24 thế kỷ, nước Trung Hoa chưa biết tổ chức bỏ phiếu, nhưng ngày nay ai cũng biết. Có nên bỏ phiếu để thực hành việc ủy quyền hay không?
Một đề tài khác đáng đem ra hội thảo, là: Nếu người cầm quyền không hợp lòng dân thì dân có thể làm gì? Chúng ta cũng có thể trích Lương Huệ Vương, Hạ, chương 8, sách Mạnh Tử.
Khi Tề Tuyên Vương hỏi về chuyện Thành Thang đánh vua Kiệt, Vũ đuổi vua Trụ; Mạnh Tử đáp, “Sử chép đúng thế.” Tuyên Vương lại hỏi, “Như vậy thì bầy tôi có thể thí vua sao?” (Thần thí kỳ quân khả hồ?) Mạnh Tử trả lời, “Kẻ làm hại điều Nhân, gọi là Tặc; làm hại điều Nghĩa, gọi là Tàn. Kẻ Tàn, Tặc, nó cũng chỉ là một thằng người mà thôi. Tôi nghe nói chém đầu một thằng tên là Trụ chứ không nghe chuyện thí vua.” (Tặc nhân giả, vị chi Tặc, tặc nghĩa giả, vị chi Tàn; Tàn, Tặc chi nhân, vị chi nhất phu. Văn trù nhất phu Trụ hĩ, vị văn thí quân da...
WWW.NEWS.CNTrước đây 25 thế kỷ, Nhân và Nghĩa là hai giá trị nền tảng trong bản “hợp đồng xã hội” giữa vua và dân. Tề Tuyên Vương vẫn coi Kiệt, Trụ là vua, nên dùng chữ “thí quân,” động từ “thí” chỉ việc giết vua. Mạnh Tử thấy các bạo chúa phạm nhân nghĩa, không xứng đáng làm vua, cho nên không dùng động từ “thí” mà dùng chữ “trù,” nghĩa là chặt đầu. Tóm lại, Mạnh Tử công nhận: Người dân có quyền lật đổ những chính quyền khi chính quyền đó vi phạm hợp đồng xã hội, làm hại Nhân và Nghĩa. Khi đó người dân có quyền lật đổ chính quyền, như trong hình ảnh giết vua.
Hội Nghiên Cứu Khổng Mạnh sẽ in thành sách các bài nghiên cứu về hai đề tài trên, cho đồng bào Việt Nam ta cùng tham gia ý kiến về hai câu hỏi. Thứ nhất: Lấy gì làm căn bản cho quyền cai trị của một đảng?
Thứ hai: Nếu chính quyền không làm đúng bổn phận thì dân có quyền lật đổ hay không? Ngoài ra, có thể mời các luật gia thuyết trình về câu hỏi: Nếu Mạnh Tử sống vào năm 2015, ở nước Việt Nam, thì khi ông nói những ý kiến như trên, ông sẽ bị bắt hay không? Ông Mạnh Tử sẽ bị truy tố theo điều 79 hay Điều 88 bộ luật hình sự?
Nghiên cứu tư tưởng tôn trọng quyền dân của Khổng, Mạnh để đóng góp cho Viện Khổng Tử, đó là một cách ngăn chặn âm mưu tuyên truyền chủ trương Đại Hán của các vị hoàng đế Trung Hoa thời nay
Hãy thận trọng với các Học Viện Khổng Tử Trung Quốc!
Ảnh tư liệu: Ngày 20/06/2010, Tập Cận Bình (lúc đó là phó chủ tịch nước) khai trương Học Viện Y Học Khổng Tử đầu tiên của Trung Quốc tại đại học RMIT, Melbourne, Úc.AFP PHOTO/William WESTVào lúc mà các hành động của Trung Quốc để buộc các cá nhân hay tập thể nước ngoài phải ép mình theo quan điểm của Bắc Kinh ngày càng lộ liễu, điều được nhật báo Anh Financial Times gọi là « chế độ kiểm duyệt của Trung Quốc đang bành trướng ra bên ngoài biên giới », tạp chí Mỹ Foreign Policy ngày 15/10/2019 đã nêu bật trường hợp cụ thể của các Học Viện Khổng Tử Trung Quốc được cắm vào trong các trường đại học Phương Tây. Bài phân tích mang tựa đề không thể rõ ràng hơn : « Tuyên truyền của Trung Quốc không có chỗ đứng trong khuôn viên trường đại học ».
Đối với tác giả là Andreas Fulda, thuộc Viện Nghiên Cứu Châu Á của Đại học Nottingham tại Anh Quốc, vấn đề đã nghiêm trọng đến mức mà Nhà nước phải can thiệp vào vấn đề hợp tác giữa các Học Viện Khổng Tử Trung Quốc với các trường đại học của nước mình, chứ không thể để cho các đại học tự xử lý.
Đà bành trướng của các Học Viện Khổng Tử đang bị khựng lại
Ghi nhận đầu tiên của nhà nghiên cứu Fulda là trong 15 năm gần đây, với đà bành trướng ngày càng mạnh của các Học Viện Khổng Tử Trung Quốc, một vấn đề đã luôn luôn được gợi lên : Vai trò của các Học Viện Khổng Tử, do Nhà nước Trung Quốc tài trợ và điều hành, trong việc mở rộng quyền kiểm duyệt của Bắc Kinh trên các trường đại học phương Tây.
Kể từ năm 2004, đã có khoảng 550 Học Viện Khổng Tử đã được mở ra trên toàn thế giới, với gần 100 ở Mỹ và 29 ở Vương Quốc Anh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, giới lãnh đạo các trường đại học trên khắp thế giới đã bớt nhiệt tình hẳn đối với việc đón nhận các Học Viện Khổng Tử. Bên cạnh đó, số lượng các viện này bị đóng cửa ngày càng tăng.
Theo tác giả bài phân tích, có hai nguyên nhân giải thích hiện tượng khựng lại kể trên. Một là phản ứng địa chính trị ngày càng tăng chống lại một đảng Cộng Sản Trung Quốc càng lúc càng độc đoán dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình và hai là chính các Học Viện Khổng Tở cũng phải chịu làn sóng đàn áp chính trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc tương tự như mọi định chế khác của Trung Quốc, kể cả khi ở ngoài nước.
Vai trò quảng bá tư tưởng, đường lối của Bắc Kinh
Đối với ông Fulda, các Học Viện Khổng Tử trong các trường đại học phương Tây đóng một vai trò kép, vừa là một cơ quan văn hóa, vừa là một tổ chức chính trị.
Các Học Viện Khổng Tử đã bị chỉ trích vì liên tục đi chệch ra ngoài nhiệm vụ chính được tuyên bố công khai của họ là giúp đào tạo tiếng Quan Thoại, để lao vào lãnh vực tư tưởng và ý thức hệ.
Đã có những bằng chứng cho thấy là các tài liệu học tập của Viện đã bóp méo lịch sử Trung Quốc đương đại và ém nhẹm các thảm họa nhân đạo do đảng Cộng Sản gây ra như cuộc Đại Nhảy Vọt (1958-1961) và Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976).
Tại các sự kiện của Học Viện Khổng Tử, các vấn đề nhạy cảm như Đài Loan, Tây Tạng và Thiên An Môn cũng không thể được thảo luận công khai. Ví dụ như vào năm 2014, một hội nghị tại Braga, Bồ Đào Nha, với sự đồng tài trợ của cả trụ sở trung ương của Học Viện Khổng Tử lẫn Hiệp Hội Tưởng Kinh Quốc vì Trao Đổi Học Giả Quốc Tế có trụ sở tại Đài Loan, đã bị bà Hứa Lâm (Xu Lin), lãnh đạo Học Viện Khổng Tử làm gián đoạn một cách thô bạo.
Và căn cứ theo các điều kiện của chỉ thị gọi là « Bảy Điều Không Được Nói », thì khi ở nước ngoài, các cán bộ giáo dục Trung Quốc bị cấm không được nói về các giá trị phổ quát, quyền tự do ngôn luận, xã hội dân sự, dân quyền, các lỗi lầm lịch sử của đảng Cộng Sản Trung Quốc, giới tư sản của chế độ và quyền độc lập của tư pháp.
Bài viết của tạp chí Foreign Policy còn ghi nhận là ngay cả giới nghiên cứu Trung Quốc cũng đang tự kiểm duyệt.
Một cuộc khảo sát gần đây đã cho thấy rằng trước chế độ kiểm duyệt ngày càng tăng của đảng Cộng Sản Trung Quốc, giới nghiên cứu đã sử dụng một số chiến thuật ứng phó. Gần một nửa - khoảng 48% - số người được hỏi đã thích nghi cách họ mô tả dự án để tiếp tục thực hiện, 25% thay đổi trọng tâm của dự án và 15% đã ngừng dự án vì lo ngại về tính chất nhạy cảm - hoặc tính chất khả thi - vì khả năng không được phép tham khảo các tài liệu lưu trữ ở Trung Quốc làm cho nhiều dự án không thể thực hiện được.
Theo nhà nghiên cứu Fulda, các Học Viện Khổng Tử còn mang đến một yếu tố khác : Hy vọng được tài trợ và nỗi lo sợ bị mất nguồn tài chánh.
Tranh chấp với đại học tại chỗ : ví dụ đại học Lyon tại Pháp.
Khi thảo luận về vai trò gây tranh cãi không kém của các hiệp hội sinh viên Trung Quốc có mối quan hệ chặt chẽ với các đại sứ quán Trung Quốc, học giả người Anh Martin Thorley gần đây đã dùng thuật ngữ « mạng lưới tiềm ẩn » để chỉ các công cụ mà Nhà nước Trung Quốc dùng để gây áp lực ra bên ngoài.
Các tổ chức trong mạng lưới đó không nhất thiết bị đảng Cộng Sản Trung Quốc kiểm soát trực tiếp trong các công việc hàng ngày của họ, nhưng họ phụ thuộc vào sự bảo trợ của Đảng và do đó, chịu sự chỉ đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Số phận của Học Viện Khổng Tử Lyon (LCI), đặt tại trưởng Đại Học Lyon ở miền đông nam nước Pháp nêu bật nguy cơ mà các Học Viện Khổng Tử trong tư cách là mạng lưới tiềm ẩn gây ra.
Vào mùa thu năm 2012, viên giám đốc được Bắc Kinh cử qua phụ trách Học Viện Khổng Tử Lyon đã đòi áp dụng tại viện này một chương trình giảng dạy theo kiểu Trung Quốc. Tranh chấp đã nổ ra với phía lãnh đạo người Pháp. Khi chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của Học Viện Lyon là ông Gregory Lee thành công trong việc chống lại chương trình theo kiểu Trung Quốc mà giám đốc học viện người Trung Quốc muốn áp đặt, quan hệ giữa Đại Học Lyon với Hán Biện (Hanban), trụ sở trung ương của các Học Viện Khổng Tử ở Bắc Kinh, đã xấu hẳn đi, với kết quả là Học Viện Khổng Tử Lyon đã bị đóng cửa.
Đối với ông Fulda, bất kỳ trường đại học nào khác trên thế giới hiện đang hợp tác với các Học viện Khổng Tử, trong tương lai đều có thể chia sẻ số phận của Lyon.
Chính quyền sở tại nên can thiệp
Tất cả điều này chỉ ra một sự thật quan trọng : Quyết định tổ chức các Học viện Khổng Tử trong các trường đại học phải do Nhà nước đưa ra.
Theo ông Fulda, trừ phi họ sẵn sàng chấp nhận sự kìm kẹp của đảng Cộng Sản Trung Quốc đối với các tổ chức của chính họ, các chính phủ trên toàn thế giới nên cấm các Học Viện Khổng Tử hoạt động trong các khuôn viên trường đại học. Đây không phải là một kiểu chống cộng cực đoan, mà là một biện pháp bảo vệ quyền tự chủ học thuật và tự do ngôn luận, chống lại việc đảng Cộng Sản Trung Quốc dùng tiền làm sức mạnh để khống chế các đại học.
Sự can thiệp của Nhà nước như vậy cũng sẽ cung cấp vỏ bọc cần thiết giúp các trường đại học chấm dứt các thỏa thuận hợp tác hiện có với các Học Viện Khổng Tử mà không bị buộc tội bài xích Trung Quốc.
Ông Fulda cũng đưa ra một giải pháp là bên ngoài các trường đại học, các Học Viện Khổng Tử hoàn toàn có thể đăng ký hoạt động như bất kỳ một tổ chức văn hóa nào khác hoạt động ở nước ngoài. Đây là chính là cách các tổ chức văn hóa phương Tây như Viện Goethe của Đức, British Council của Anh và Viện Văn Hóa Pháp hoạt động trên toàn cầu..
Và nếu thấy rằng Trung Quốc quan trọng, vì lý do an ninh quốc gia hay xã hội và văn hóa, các nước phương Tây cần đầu tư đúng mực, bù đắp cho việc mất doanh thu hạn chế bằng cách tài trợ đầy đủ cho ngành học tiếng Hoa và nghiên cứu Trung Quốc đương đại.
Các nhà giáo dục phương Tây vẫn có trách nhiệm chủ động thu hút các sinh viên và học giả Trung Quốc với tư cách cá nhân và đi đầu trong việc giới thiệu sinh viên của mình qua học tại Trung Quốc, thay vì để cho đảng Cộng Sản Trung Quốc và các cơ quan ngoại vi của họ độc quyền thao túng.

Các chuyên mục 











