Đố tìm được vùng nào không nói ngọng TTO - Lâu lâu có một quan chức hay một em hoa hậu á hậu nào đó xuất hiện trên sóng truyền hình quốc gia mà nói ngọng (ngọng thiệt chứ chẳng phải lỡ nha) là thiên hạ bò ra cười.
Ai đời cái lốp xe đạp mà không ít người nói là cái... láp xe độp (ảnh minh họa) - Ảnh: M.C Kể cũng đáng suy nghĩ thật, nặng nhất là mấy quả "l", "n", cứ "noạn" (loạn) hết cả lên. Kể ra cũng oan thật, vì nói ngọng cũng như đặc sản vùng miền, nó thấm vào tận gan ruột, ăn vào tận cơ lưỡi rồi, uốn lắm rồi mà bản năng nó trỗi dậy là thua, đâu phải muốn mà thoát... ngọng. Kể cũng oan thiệt vì biết đâu chính mình cũng ngọng. Cả xứ mình, thử hỏi đố tìm ra vùng nào không ngọng xem nào? Vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc bộ có vẻ ngọng nhiều nhất. Hải Phòng Nam Định hẹn nhau lên thủ đô nói thế này: "Mai đi Hà Lội mua cái lồi về lấu cơm lếp" (Mai đi Hà Nội mua cái nồi về nấu cơm nếp). Cách nhau có vài chục cây số thôi mà sang Hải Dương, Bắc Ninh hình như lại ngọng ngược lại. Hồi tôi lên rừng Trường Sơn chơi với ông cậu đang phụ trách tuyến đường này, ổng kể có ông thủ trưởng đơn vị người Hải Dương chửi anh lính lái xe ẩu một trận tối mặt tối mày thế này: "Nàm thì nười. Nói thì náo. Đi xe thì nạng nách. Nao nên nề. Ngã nuôn" (Làm thì lười. Nói thì láo. Đi xe thì lạng lách. Lao lên lề. Ngã luôn"). Ngọng mà chửi duyên thế thì kém gì hề Xuân Hinh. Dân Hà Nội cứ bảo giọng mình là chuẩn, là tiếng quốc gia, chính ra cũng ngọng "níu nưỡi" (líu lưỡi). Cứ nghe các cô phát thanh viên phát âm tròn vành rõ chữ "chong chẻo" với cả "dun dẩy" (run rẩy), rồi thì "xung xướng" (sung sướng) mới cả "dưng dưng heo may" (rưng rưng heo may) nghe sao mà... "dụng dời" (rụng rời). Đọc nghe âm nhẹ đi thật, nhưng điệu quá có ngày gậy ông đập lưng ông, nghe nói có lần chị L. K. làm MC chương trình âm nhạc tưởng niệm Trịnh Công Sơn. Chị K. thì nổi tiếng thanh lịch rồi, nhưng giới thiệu say sưa xong, đúng lúc cần giới thiệu nhan đề bài hát thì buột miệng: "Sau đây mời quý vị cùng thưởng thức ca khúc nặng nẽ lơi lày (lặng lẽ nơi này)". Cô Nguyen Le thì ám ảnh dấu sắc, ba dấu sắc mà đứng gần nhau là thảm họa. Hồi đi phỏng vấn các ông nhà văn, sau khi hỏi chuyện đời chuyện nghề xong thì chị cập nhật thông tin, bèn hỏi "Dạo này chú có sạng tạc mợi (sáng tác mới) nào không?". Nhà văn nghe không thủng tai, hỏi lại "có cái gì?". Chị càng quýnh, càng líu lưỡi: "Dạ, sạng tạc mợi". Nhà văn càng nghe càng hoảng, gì mà mợi mợi? Tôi dân khu Bốn cũ, cả một vệt Bình Trị Thiên ấy toàn ngọng hỏi ngã, sợ nhất là ba dấu hỏi đứng liền nhau. Ra Hà Nội học, cố uốn lưỡi cho giọng nhẹ đi, mềm lại, nhưng lâu lâu vẫn bị phản chủ. Có lần qua sạp báo Hàng Trống, lười gửi xe nên đậu bên ngoài, gọi với vô: "Lấy cho em tờ Tuỗi Trẽ chũ nhật (Tuổi Trẻ chủ nhật)". Chị bán hàng đoán mồm một hồi không ra, hỏi lại, "Lấy tờ gì?" - Tuỗi Trẽ chũ nhật. Ối giời ơi là những ba dấu hỏi. Chị bán hàng vẫn không hiểu tờ gì, mắt trợn tròn làm tôi càng ngượng, xuống xe, cầm tờ báo lên: "Đây, làm gì còn có tờ báo nào có ba dấu hỏi mà cũng không biết". Cả một vệt Nam Trung Bộ từ Quảng Nam Đà Nẵng vô tới Phú Yên Bình Định thì ngọng kiểu gì mà toàn tưởng... nói lái. Ai đời cái lốp xe đạp mà không ít người nói là cái... láp xe độp. Ngọng kiểu nói lái thế mà thích đùa, thích nói chữ lắm nha. "Thôi rồi Lượm ơi" mà thế nào lại thành "thau rầu Lượm âu". Nghe lăn ra cười, thế là bị chửi... thiệt: "Chưởi chơ không bằng phơ tiếng" (chửi cha không bằng pha tiếng). Phải bóp mồm xin lỗi rối rít, xong tối lại rủ, "Đi hát kơ rơ ơ kơ giải sầu không", chịu không nổi lại lăn ra cười, thế là bị giận đến không thèm ngó mặt. Rồi một vệt miền Nam Tây Nguyên ngọng kiểu miền Nam Tây Nguyên, không nói được chữ Q. Xuống Bến Tre, Đồng Tháp thì cứ kéo nhau "bắt con cá gô bỏ gổ" (bắt con cá rô bỏ rổ). Ngọng đủ kiểu Bắc Trung Nam, vậy mà cơ bản ai cũng hiểu thế mới lạ! Ai dũng cảm kêu mình không nói ngọng giơ tay lên nào, kể cả... tôi? * Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. LÊ HỒNG LÂM VĂN HÓA CSVN NGỌNG NGHỊU Bắc kỳ
Cơ bản sự “ngọng” của dân Bắc kỳ là phát âm “nhẹ” hẳn đi các phụ âm dẫn đầu mỗi chữ (như tr, r, s). Các Ngôn ngữ gia khắt khe hơn thì cho rằng người Bắc “lười” không chịu khó uốn lưỡi một chút cho đúng âm mà lại chọn khuynh hướng đọc dễ dàng hơn: giảm bớt cái âm uốn cong hay cao lên của phụ âm đầu.
Dân Bắc kỳ nhất là các vùng Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Bắc Ninh, v.v..., và ngay cả dân cư đất “ngàn năm văn vật” - 13 huyện Hà Nội - rất “phổ thông” nói ngọng líu lo (và đặc biệt bị lưu tâm nhiều nhất) hai phụ âm “l,n.” Chẳng hạn: “Đi Hà lội mua cái lồi về lấu cơm lếp” (“Đi Hà nội mua cái nồi về nấu cơm nếp”) Hoặc là: “Chỗ lước lày lông, nội được!” (“Chỗ nước này nông, lội được!”)
Hay: “Thằng Nong nàm việc thì nếu náo; nhưng nòng nợn thì ló gắp nia gắp nịa.” (“Thằng Long làm việc thì lếu láo; nhưng lòng lợn thì nó gắp lia gắp lịa.”) “Mình không nàm thì có bảo mình không nàm; mà mình nàm thì ló nại bảo mình nàm nấy nệ.” (“Mình không làm thì có bảo mình không làm; mà mình làm thì nó lại bảo mình làm lấy lệ. ”) “Tự nhiên như người Hà lội.” (“Tự nhiên như người Hà nội.”)
Toàn bộ các chữ có “l” phang tới thành “n” và ngược lại (!) Đại đa số dân Bắc kỳ (kể cả người viết và gia đình) còn nói trật nguyên âm “r, d, gi” (“rờ” thành ra “dờ” hay “giờ”): “Kính dâm” (Kính râm / kính mát) “Mấy giờ giồi?” (“Mấy giờ rồi?”)
Một em xướng ngôn viên (bây giờ vi-xi gọi là “phát thanh viên”) của một chương trình truyền hình trên VTV ở Việt Nam loan báo tin thời tiết nghe mà muốn “dởn da gà” luôn như sau: "Có mưa dào dải dác; nhưng dét da diết.” (”Có mưa rào rải rác; nhưng rét (lạnh) ra riết.” “Mưa dừng ơi mưa dừng.” (Như ông bạn Vũ Khanh của tôi ca lời bản nhạc “Mưa Rừng” của Huỳnh Anh) Và nổi bật nhất và phổ thông nhất là sai nguyên âm “tr, ch:” “Mười lăm chăng chòn; mười sáu chòn chăng.” (“Mười lăm trăng tròn; mười sáu tròn trăng.”)
Hay là: “Đường xưa lối cũ có bóng che, bóng che che thôn làng Đường xưa lối cũ có ánh chăng, ánh chăng soi đường đi.” (Lời ca bài hát “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ mà tôi nghe ca sĩ Quang Minh - cũng dân Hải phòng - hát).
Trong khi lời hát đúng phải đọc là: “Đường xưa lối cũ có bóng tre, bóng tre che thôn làng Đường xưa lối cũ có anh trăng, ánh trăng soi đường đi.” Một số địa phương ở Bắc như Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình… vẫn phát âm đúng các phụ âm “r, d và gi” trong khi phần lớn các vùng khác (ở miền Bắc) đều phát âm sai.
Nên để ý, thật oái oăm, nghịch lý ở đây là hai thứ ngọng (có lẽ vì lười không chịu uốn lưỡi ?!) rành rành “tr” thành “ch” và “r” thành “d, gi” của dân Bắc kỳ lại được đại chúng có khuynh hướng rộng lượng chấp nhận như là “dạng chuẩn” riêng trong vấn đề hát lời ca của ngành tân nhạc (?). Một vài ca sĩ không phải gốc Bắc kỳ như Ngọc Hạ (Đà Nẵng / Quảng Nam, miền Trung), và Phương Dung (Gò Công, miền Nam) khi hát tân nhạc đôi khi đã cố tình phát âm đúng chữ “tr” (trăng, trong, trời) chứ không đổi sang “ch” như thông lệ thì nghe lại có vẻ rất căng thẳng (?) và ngượng ngạo (?) Thành ra vấn đề âm thanh ngọng (mà thuận tai?) được chấp nhận (hay không) còn tùy vào sự cảm nhận của đại chúng. Như vậy, không có gì gọi là “chuẩn” tuyệt đối cả.
Vùng Hải Hậu, Nam Định thì lại ngọng “tr, t” một cách khác: "Con tâu tắng nằm cạnh gốc te tụi giữ tưa hè." ("Con trâu trắng nằm cạnh gốc tre trụi giữa trưa hè.”) Tương tự, một số dân ở địa phương Thái Bình thì lại ngọng chữ “r, d” một cách khác nghe rất lạ tai. Như bà hàng xóm của tôi (gốc Thái lọ) là dân di cư 1954 ở Sài gòn cứ gọi con ơi ới: “Rương ơi Rương! Ra đây mẹ cho miếng rưa.” (“Dương ơi Dương! Ra đây mẹ cho miếng dưa.”) Hà Tây, Hà ta thì cũng “lười,” bỏ bớt dấu huyền của mỗi chữ cho nó đỡ vướng: “Con bo vang” (“Con bò vàng”)
Hát là: “Nhin chiêu vang đôi thông thưa thớt Long bôi hôi buôn trông theo bóng” (“Nhìn chiều vàng đồi thông thưa thớt Lòng bồi hồi buồn trông theo bóng” (Lời bản nhạc “Chiều Vàng” của Nguyễn Văn Khánh)
Người Bắc đọc sai tất cả chữ phụ âm “s” thành âm “x” hết ráo trọi; trong khi người miền Trung và miền Nam lại phân biệt “s, x” rất rõ ràng. Bắc kỳ đọc “s, x” như sau đây: “Xáng xớm xương xuống xào xạc; xã xệ xửa xoạn xuống xuồng xang xông.” (“Sáng sớm sương xuống xào xạc; xã xệ sửa soạn xuống xuồng sang sông.”) Mẹ tôi còn kể thêm là ở ngoài Bắc, có vùng còn ngọng nguyên âm “s, x” ra “th” mà tôi chưa kiểm chứng được xem ra loại ngọng này thuộc vùng nào (Kính nhờ các bác uyên thâm bổ túc dùm nhà cháu ở phần này): “Thúng hay thấm? hay trẻ con thậm thàn” (“Súng hay xấm? hay trẻ con dậm sàn”)
2- Trung kỳ
Dân Trung kỳ (Huế và các xứ Quảng) hầu hết nói chéo (sai) hai dấu hỏi ngã:
“Đễ kỹ niệm” (“Để kỷ niệm”) (Nhà văn PNN tiếp lời MC Nam Lộc trên một “Asia DVD” trong chủ đề “Vinh danh người lính QLVNCH”). Hoặc đổi phụ âm “t” thành “c” ở cuối chữ: “Làm lụng đầu tắc mặc tối.” (“Làm lụng đầu tắt mặt tối.”)
Người Huế chính gốc “ớt hiểm” còn chơi thêm dấu “nặng” vào hầu hết các các chữ; và đồng thời thêm “g” ở cuối chữ “không g.” Hiểu như vậy thì quý vị cũng đừng ngạc nhiên khi một cô thợ hớt tóc người Huế thơ mộng hỏi: “Anh muốn cắt dài hay cắt ngắn?” “Hắng” / “Hắn” Miền Trung, nhất là xứ Quảng, đôi khi xài sang, cho thêm nguyên âm “o, a” ở giữa chữ cho long trọng: “Đo(á)m noái / Đám nói” Hay: “Đo(á)m hoải / Đám hỏi.” Hoặc: “Lâu đo(à)i tình o(á)i.” / Lây đài tình ái.” Vùng Bình Định Qui Nhơn phát âm “hơi sai” nguyên âm “a, ă, e, ê, iê:” “Nem boa bửa không tém một bửa” (Đọc số phone: “537-0817”)
Hoặc: “eng / ăn;” ” “téc đèng / tắt đèn;” “Chó kéng / Chó cắn;” “Nghem / Nghiêm.” Dân Khánh Hòa, Phú Yên ngoài “a, ă, e, ê, iê...” (nhưng nghe sai có vẻ nhẹ nhàng hơn người Bình Định) còn đọc “ơ” thành ra “u” mới chết người. Gia đình thằng em cột chèo của tôi người Nha Trang (Khánh Hòa) nói thoải mái mời tôi: “Mời anh ở lại ăn cum / ăn cơm.”
3- Nam kỳ
Dân Nam kỳ, đa số, có khó khăn khi phát âm các chữ bắt đầu bởi phụ âm “v, d.” Chẳng hạn: “Dân dzệ dê dzợ dân dzận. Dân dzận dzậng dân dzệ.” (“Anh lính Dân Vệ mê vợ của anh cán bộ của Ty Dân Vận Chiêu hồi. Làm cho anh cán bộ Dân Vận Chiêu Hồi giận hết sức!”
Hoặc: “Cười lên đi để dzăng dzàng sáng chói / Răng vàng” (Lời hát nhái trong dân gian cho câu “Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát” từ bài “Khúc ca ngày mùa “của Lam Phương).
Hoặc: “Đi đâu chơi mới dzề hả? Dzui hông?...” (“Đi đâu chơi mới về hả? Vui không?”) Và sai lẫn lộn phụ âm “t, c” ở cuối mỗi chữ, đồng thời đôi khi tiện tay bỏ bớt nguyên âm (a, e, i, o, u) ở giữa chữ: “Giữ chặc tình thân hủ / Giữ chặt tình thân hữu;” “Cúi từng có giá đặt biệt / Cuối tuần có giá đặc biệt”
Đồng bào “Nam bộ” ta cũng dùng chéo (sai) hai dấu “hỏi ngã” và thêm “g” vào chữ “không g” như các bác Trung kỳ: “Cho tui xin nửa chéng cơm nửa.” (“Cho tôi xin nửa chén cơm nữa.”) “Tổ quắc ăng năng / ăn năn”
Bà mẹ vợ tôi, người gốc Long Xuyên, khi nói đã tự ý đổi “y” thành “i” ở cuối chữ; đôi khi nghe cũng dễ bị hiểu lầm lắm (?): “Tịm chúng tôi có báng đủ các lọi đồng hồ đeo tai.” “Tiệm chúng tôi có bán đủ các loại đồng hồ đeo tay.” (Như lóng rày ca sĩ BC làm quảng cáo cho tiệm đồng hồ Tic-Toc trên TV) .
Riêng dân vùng đồng bằng sông Cửu Long: Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng còn ngầu hơn, miệt này phát âm chữ “r” thành ra “g” nghe thoáng như lưỡi bị ngắn (?) hoặc giống tiếng Miên (?): “Bắt con cá gô bỏ gổ, nó gục gịch gục gịch gớt dzào gổ gau găm.” (“Bắt cá rô bỏ rổ, nó rục rịch rục rịch rớt vào rổ rau răm.”) Tôi có rất nhiều bạn nói kiểu “đi ga chết gồi” (“đi ra chết rồi”) này. Nghe riết rồi cũng quen tai.
Ngoài ra, còn có hàng chục thổ ngữ nhỏ khác với cách phát âm và chữ dùng mà người vùng khác không tài nào hiểu nổi. Tuy nhiên bài viết ngắn này chỉ là một bài tạp bút, không phải là một bài khảo cứu ngôn ngữ; cho nên, trong phạm vi giới hạn, không tiện kể ra hết cho hoàn tất, đầy đủ. Nếu hưởn, quý vị có thể tự tìm hiểu thêm. Có một điều đáng để ý là người miền Nam nói sao thì họ viết y như vậy cho nên người Nam dễ bị sai chính tả (ngọng viết) hơn là đồng bào miền Bắc và Trung – Người miền Bắc và Trung tuy phát âm sai nhưng phần lớn lại viết đúng chính tả!
A. Kinh nghiệm gia đình và cá nhân người viết
Tôi sinh ra tại vùng ngoại ô của thành phố Hải Phòng vào năm 1950 và lớn lên ngay giữa trung tâm thành phố này – Thật ngẫu nhiên, Hải Phòng cũng là sinh quán của một số văn nghệ sĩ tên tuổi đương thời như: nhạc sĩ Văn Cao, Gia đình Lữ Liên (Lữ Liên, Thúy Liễu, Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thúy Anh, Lưu Bích... cả tiểu đội!), kép cải lương Hùng Cường, minh tinh Thẩm Thúy Hằng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ca sĩ Thu Phương, Quang Minh... (người viết xin phép được tiện đây thấy người sang bắt quang làm họ một tí cho thay đổi không khí!) nhưng đồng thời tôi cũng tự phát giác ra Hải Phòng là “thủ đô nói ngọng” (loại “phản cảm,” “nhà qué” “có 102 - một không hai ” “l,n”) của Việt Nam (xin lưu ý: Tôi thấy các “siêu sao” gốc Hải Phòng nổi tiếng mà tôi vừa liệt kê ở trên không có “sao” nào nói ngọng “l,n” cả mới là lạ !).
Gia đình nhỏ của bố tôi có 3 anh em trai, tất cả đều sinh ra tại Hải Phòng. Tôi cứ nhắm mắt mà vẫn yên tâm cam đoan là cả ba người (bố tôi và hai ông chú) đều nói ngọng lúc thiếu thời... Khi lớn lên, bố tôi và một ông chú nhỏ tuổi nhất làm “cách mạng kinh tế” phá rào, vượt qua lũy tre xanh, rời xa khỏi địa bàn Hải Phòng, đi lính quốc gia... Kết quả, sau này hai người (Bố tôi và ông chú trẻ) nói và viết tiếng Viêt không còn ngọng một tí ti ông cụ nào. Riêng ông chú tuổi kế bố tôi ở lại “bám trụ” Hải Phòng ngay từ ngày đầu chú mới sinh ra cho tới tận bây giờ; thì ông chú này và 8 đứa con vẫn ngọng đặc cán mai. Năm 1948, bố tôi 24 tuổi từ Sài Gòn trở về Bắc làm cảnh sát Hải Phòng; và lập gia đình với mẹ tôi - mẹ tôi cũng là dân sinh quán Hải Phòng; và chính mẹ tôi cũng nói ngọng “l,n” khá nặng. Tôi và 3 đứa em lớn được sinh ra tại Hải Phòng. Năm 1954 gia đình tôi (bố mẹ và 4 anh em tôi) tị nạn cs, theo làn sóng di cư vào Nam. Đến hôm nay, gia đình tôi có cả thẩy 8 anh em ruột và gia đình ông chú trẻ của tôi có 5 đứa con; tất cả chúng tôi (tổng cộng 13 người con của thế hệ thứ nhì) không có một ai nói ngọng “l,n” (nên biết chúng tôi nói rặc tiếng Bắc 54 y chang như quý vị nghe giọng nói của ca sĩ Vũ Khanh và Ý Lan – hoàn toàn khác hẳn với giọng Bắc kỳ 75 của Bằng Kiều, Nguyễn Hồng Nhung).
Năm 2005 tôi có dịp về Việt Nam, ghé qua thăm quê quán Hải Phòng thì mới thấy là tất cả toàn bộ (“chăm phần chăm”) họ hàng bên nội bên ngoại của tôi đều ngọng “l,n” hết ráo. Môt cô cháu gái của tôi, tuổi hai mươi mấy, trông dáng trắng da dài tóc xinh xắn, làm giáo viên tiểu học ở Hải Phòng, cũng ngọng “l,n” rất trầm trọng (có nghĩa là tất cả các chữ “l” đều đánh ra thành “n” và ngược lại); Ngọng líu lo (“l,n”) mà làm nghề mô phạm dậy trẻ con thì xem ra còn tệ hơn là đặc công khủng bố (văn hóa). Làm thiệt mạng (rất nhiều) người chứ chẳng phải chuyện đùa!
Qua kinh nghiệm của gia đình và cá nhân tôi thì sự phát âm sai (ngọng) phần lớn là vì ảnh hưởng của môi trường phát âm sai (Hải Phòng); không phân biệt được chữ đúng... Nếu có dịp đi ra khỏi môi trường ngọng này, như bố tôi chẳng hạn, và hội nhập vào môi trường phát âm đúng; hoặc có người chỉ dẫn như được học hành với thầy cô nói tiếng Việt chuẩn thì sự “ngọng” có thể dần dần sửa chữa được. Như vậy, “ngọng” là một bệnh nan y thật nhưng không phải là hoàn toàn hết thuốc chữa...
Điều đáng chú ý là ngoại trừ loại ngọng “phản cảm” “l,n”, hầu hết các loại ngọng hay phát âm sai bét khác đều được công chúng dễ dãi xí xóa thông cảm. Ngọng “l,n” đặc biệt bị phân loại là “sai cơ bản,” “bất bình thường”, “không chấp nhận được”. Trong giao tiếp bình thường mọi ngày, người ngọng “l,n” đôi khi còn bị hiểu lầm và bị “đánh giá” thấp như “nhà quê,” “ít học,” “kém văn hóa...” Trời đất! Quê tôi!
B. Bàn thêm một chút về lý do ngọng
Bên trong vòng đai lũy tre xanh, một cộng đồng khép kín, buổi sáng thức dậy đi làm ruộng, tối trở về nhà ăn uống nghỉ ngơi rồi ngày mai lại thức dậy đi làm ruộng tiếp thì với cuộc sống đơn giản như vậy, số người tiếp xúc hàng ngày chỉ loanh quanh là người trong gia đình làng xóm... Lời ăn tiếng nói hàng ngày và phong tục đã thấm sâu vào trong con người. Sự nói ngọng (phát âm sai) đã trở thành thói quen chung (cả làng đều ngọng cả), không ai thấy có nhu cầu hay tác động gì cần thiết phải sửa đổi.
Sau khi ra khỏi lũy tre xanh, gia nhập một cuộc sống phức tạp hơn, bon chen hơn, phải giao tiếp rộng rãi hơn với mọi người khác xứ; rồi qua phản ứng của họ (người khác xứ nghe mình nói ngọng thương hổng nổi!) người phát âm sai lúc đó mới cảm thấy được những cái bất lợi của việc phát âm sai của mình. Từ đó tác động vào ý muốn sửa chữa, vượt qua những lỗi phát âm.
Có một anh chàng “ngọng” đẹp trai vừa chân ướt chân ráo ra khỏi lũy tre xanh; vào một buổi đẹp trời phải lòng một em gái văn minh phố thị. Mặc dù anh biết cô em nhiều lần tỏ vẻ lạnh lùng không muốn thân thiện (phần lớn cũng chỉ vì kỳ thị tiếng nói ngọng), nhưng anh đẹp trai đã lỡ yêu rồi nên cũng liều, cố lấy hết can đảm viết ra một lá thư tình “ngọng.” Quý vị thử tưởng tượng xem khi đọc lá thư “phản cảm” này đại khái như dưới đây thì liệu cô nàng “xí xọn, khó tính” có mủi lòng được hay không?
“Em Nan ơi. Anh đã nhiệt niệt no nắng cho em đủ mọi chuyện thế mà em vẫn chưa hiểu cho nòng anh; Em vẫn tỏ vẻ nạnh nùng với anh. Bây giờ anh không biết phải nàm thế lào để nấy được nòng em.... Nễ.”
Em Lan (“Nan”) vì đã “dị ứng” sẵn với sự ngọng của anh Lễ cho nên tỏ vẻ cự tuyệt hơi quyết liệt. Em Lan dùng chính ngôn ngữ của anh “Nễ” trả lời anh “Nễ” vì mong anh “Nễ” dễ hiểu rõ ý của em. Em Lan viết trả lời anh “Nễ” đại khái như vầy: “Anh Nễ nàm em sợ nắm. Em còn bé, không dám nghĩ đến chuyện tình cảm người nhớn... Nếu anh không giận em thì xin anh vui nòng nàm phúc sơ tán qua vùng khác nàm ăn để em còn yên chí học hành; no cho tương nai. Lan.”
Chuyện tình cảm tha thiết, thành thật, đứng đắn mà không may dùng phải chữ nghĩa ngượng ngạo của vi-xi; cộng thêm chữ viết ngọng thì là một thảm kịch chứ không giống hai người đang diễn hài (kịch)... Có lẽ anh Lễ cần rất nhiều may mắn (và cả phúc đức nữa) mới có cơ may kết duyên với một em gái không ngọng. Thiệt tình. Ai bảo cuộc đời này không bất công?
C. Làm sao sửa được tật nói ngọng
Trước hết người nói ngọng phải tự ý thức được sự ngọng của mình thì vấn đề sửa đổi mới có hiệu quả - Cái mục này nói thì dễ lắm mà làm là chuyện vượt cả Trường Sơn Đông lẫn Trường Son Tây trong một buổi...). Đối với một số người bảo thủ lý luận là: “Đây là tiếng mẹ đẻ; cha ông tôi đều nói như vậy. Tại sao phải thay đổi?” thì đành chịu.
Khoảng 5 tuổi trở lên, trẻ con bắt đầu hiểu được tiếng nói, và biết bắt chước cách phát âm tiếng mẹ đẻ. Nếu ngôn ngữ được uốn nắn ngay từ lúc này thì rất tốt (kể ra càng sớm càng tốt). Người đứng ra hướng dẫn và uốn nắn tốt nhất là thầy cô giáo vì ngay cha mẹ nhiều khi cũng đã ngọng sẵn rồi còn gì. Các cô giáo có than phiền là dù đã tương đối thành công sửa giọng ngọng của các em ở trong lớp; nhưng khi các em trở về nhà, sống giữa gia đình ông bà bố mẹ anh chị đều nói ngọng thì các em lại ngọng trở lại... Xem ra “sự nghiệp giải phóng dân tộc” còn dễ hơn là “sự nghiệp giải phóng ngọng!”
Muốn chữa nói ngọng thì phải nói cho chậm rãi để có thời giờ nghĩ và chỉnh các âm sai. Thầy giáo và bạn bè thân thiết có thể giúp đỡ rất hữu hiệu trong việc nhận diện các âm sai và sửa sai. Quan trọng nhất là sự kiên tâm, chịu khó luyện tập lâu dài. Ở Mỹ có những chuyên viên về sửa chỉnh ngôn ngữ (Speech Therapist / Speech Therapy) được đào tạo đặc biệt để giúp các công dân Mỹ có vấn đề phát âm Anh Ngữ như ngọng, cà lăm. Các tay chơi thể thao nổi tiếng như Bill Walton (basketball), Bo Jackson (football) bị cà lăm rất nặng khi họ mới xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn từ của các đài truyền hình thể thao phát hình các trận đấu giữa các trường đại học hoặc thể thao chuyên nghiệp. Thế mà chỉ sau một thời gian ngắn, nhìn thấy rõ là họ đã có thể trở thành người ăn nói bình thường, trôi chảy khi họ đảm nhận các vai trò phân tích thể thao (sprt analysts) cho truyền hình Mỹ trong các trận đấu.
Đã có nhiều ý kiến cấp tiến khá mạnh dạn cho rằng giải quyết vấn đề ngọng phải bắt đầu ngay từ lớp thấp nhất của trường tiểu học. Các trường sư phạm đào tạo thầy giáo, cô giáo tiểu học được đề nghị sẽ phải bắt buộc có điều kiện thu nhận khắt khe: Chỉ thu nhận thí sinh, sinh viên (làm thầy giáo trong tương lai) không ngọng. Có như vậy thì mới mong tìm ra lời giải, cách xuyên phá được vòng lẩn quẩn (dirty cycles), của bài toán “ngọng.” Tình trạng ngọng hiện nay ở trong nước thật đáng bi quan: Nhiều trường học của các huyện nằm ngay trong thủ đô, cái nôi văn hóa, Hà Nội (huyện Đông Anh hay Mỹ Linh chẳng hạn) có đến 30-40% tổng số học sinh tiểu học nói ngọng và 20-30% giáo viên ngọng - mà cả thầy Hiệu trưởng và Hiệu phó cũng ngọng luôn thể !
“Còn trời còn đất còn non nước Có lẽ ta đâu (ngọng) mãi thế này.”
Một tiết học của học sinh Trường tiểu học Phục Lễ (Thủy Nguyên, Hải Phòng).
Dường như một điểm chung nhất có sức sống xuyên thời gian, bao trùm và ôm ấp, hội tụ tất cả chúng ta, gạt qua mọi sự khác biệt giữa những con người sinh ra hoặc có nguồn gốc trên quê hương Việt Nam, đó là “tiếng nước tôi, tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi, thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi” (“Tình ca” - Phạm Duy).
1. Thứ 6, ngày 2-12-2016, chúng tôi dự giờ đột xuất không báo trước ở lớp 8A, Trường THCS xã Phục Lễ (Thủy Nguyên, Hải Phòng). Lớp có 35 em, cô Phạm Thị Thanh Bình dạy văn là chủ nhiệm. Cả lớp đang học tiết Luyện nói: Thuyết minh về một thứ đồ dùng. Bài tập đã được giao chuẩn bị sẵn ở nhà, đến giờ học, các em đứng lên thuyết trình “vo” trước lớp. Gần như cả lớp sôi nổi giơ tay, rồi các em Hùng, Mạnh, Đức, Hạnh… được cô giáo mời lên thuyết trình, cả lớp trao đổi, bổ sung.
Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là tất cả các em trình bày không cần giấy đọc, nhưng đều tự tin và lưu loát như nhau. Cả người nói lẫn người hỏi, đáp, không bạn nào ngọng đã đành, mà còn phát âm rất chuẩn, nhanh các từ khó nhất mà người ta thường lẫn như: r, gi, d/ tr, ch/ s, x... Đặc biệt âm “d” được các em phát âm rất lạ tai, phân biệt hẳn với “gi” và khác hẳn tất cả các vùng khác ở miền bắc…
2. Gần đây, dư luận phê phán tình trạng “nói ngọng tràn lan” với cách dùng phương ngữ lệch chuẩn cả trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Có ý kiến còn nêu “đố tìm được vùng nào không nói ngọng”. Nhưng xin thưa, nếu về xã Phục Lễ thì người ta sẽ rút lại lời “thách” này. Cụ Phạm Văn Soàng, 76 tuổi, nguyên Phó Chủ tịch xã vẫn nhớ như in câu chuyện 40 năm trước: năm 1973, Phục Lễ được phong xã Anh hùng, đi đầu trong phong trào sản xuất, chiến đấu, từ đó, có rất nhiều đoàn về tham quan học tập, có tháng tới 23 đoàn khách, cả trong và ngoài nước. Năm 1976, có đoàn Ủy ban Văn hóa - Khoa học của Quốc hội, trong đó có nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, sau khi nghe cán bộ xã đọc báo cáo và nghe người dân nói chuyện, ông rất ngạc nhiên phát hiện ra rằng người Phục Lễ không hề nói ngọng, kể cả khi đọc và nói. Khi trở về, nhạc sĩ đã nhiều lần đề xuất lấy tiếng Phục Lễ làm chuẩn phát âm (chính âm), rồi từ đó là chuẩn chính tả cho cả nước. Nhưng do chưa có nghiên cứu khoa học cụ thể, mọi việc chìm lắng đi. Câu chuyện trở thành một “điển cố” để người dân Phục Lễ kể cho nhau nghe.
3. Nhưng sự kiện này đã không bị những nhà nghiên cứu bỏ qua. Năm 1982, GS Ngữ văn Nguyễn Kim Thản từng đề cập trong cuốn sách “Tiếng Việt trên đường phát triển” với ý kiến “Có người muốn lấy xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên làm điểm âm chuẩn” bởi tiếng nói ở đây “có đủ các âm và các thanh như chữ viết đã phản ánh”. Năm 2007, TS Võ Xuân Hào trong cuốn “Dạy học chính tả cho học sinh tiểu học theo vùng phương ngữ” có nêu lại ý kiến này. Nhưng phải đến năm 2014, nhà nghiên cứu - giảng viên Tạ Thành Tấn (Khoa Ngữ văn - Trường đại học Sư phạm Hà Nội) công bố một loạt các bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và luận văn thạc sĩ: “Hệ thống ngữ âm thổ ngữ Phục Lễ, Thủy Nguyên - Hải Phòng” dựa trên cứ liệu phân tích bằng các phần mềm máy tính hiện đại, thì mọi việc được xác định sáng tỏ. Nghiên cứu của Tạ Thành Tấn khẳng định: Thổ ngữ Phục Lễ có hệ thống phụ âm đầu phong phú nhất cả nước (23 phụ âm); sự chênh lệch về âm sắc cao-trung-thấp với thổ ngữ Hà Nội không lớn với tám thanh điệu (sáu thanh chính cộng hai thanh phụ). Hệ thống vần và âm sắc tương ứng phương ngữ Bắc Bộ. Trong cách đọc phụ âm phân biệt rõ ràng các âm quặt lưỡi: tr, r, s tương ứng với các âm không quặt lưỡi ch, gi, x (phân biệt rõ hơn hẳn “tiếng Hà Nội” một nấc). Không hề lẫn lộn l/n như nhiều địa phương đồng bằng Bắc Bộ. Đặc biệt tiếng Phục Lễ còn bảo lưu “phụ âm tắc hữu thanh thở”: “d”, được người sáng tạo quốc ngữ ký âm lại bằng con chữ “d”. Khiến cho việc phân biệt các âm biểu thị với ba chữ: r/gi/d là hoàn toàn thực tế, trùng khít với trạng thái ghi âm của chữ Quốc ngữ. Cách đọc phụ âm “d” lè lưỡi chạm răng kiểu người Phục Lễ (mà chúng tôi cảm thấy lạ tai khi nghe các em học sinh nói) theo thạc sĩ Tấn, chỉ còn tồn tại ở một số vùng ở Quảng Bình (khu IV cũ), và tiếng Tày ở Cao Bằng, là sự bảo lưu âm tiếng Việt từ trước thế kỷ 17. Điều này đã được giáo sĩ Alexandre de Rhodes miêu tả và ghi lại trong cuốn từ điển Việt-Bồ-La năm 1651.
Và tác giả kết luận: “Hệ thống ngữ âm thổ ngữ Phục Lễ tương ứng hoàn toàn với sự thể hiện của chữ Quốc ngữ của tiếng Việt hiện nay (chính âm trùng khít với chính tả); giữ vững được nét khu biệt âm vị học; bảo tồn được cả dấu vết cổ của tiếng Việt lịch sử. So sánh với thổ ngữ Hà Nội và phương ngữ Bắc Bộ nói chung, thổ ngữ Phục Lễ có một sự đa dạng, phong phú hơn cả”.
Phóng sự của Vũ Lâm
Nói ngọng, viết ngọng
Tật nói ngọng, viết ngọng có xuất xứ ở một số vùng miền nước ta nhiều đời nay. Trải qua nhiều thời gian, 'nét văn hóa vùng miền' - nói như đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc - du nhập vào các cơ quan Trung ương, nhiều địa phương trong cả nước chứ không riêng gì ngành giáo dục, đào tạo.
Gần hai tháng trước, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh - nguyên Tổng biên tập Báo Quốc tế - đưa lên Facebook của mình tấm ảnh: “Hội thi Cô giáo Tài lăng Duyên dáng” của Phòng Giáo dục và Đào tạo, Công đoàn ngành thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc với lời cảm thán, giễu cợt: “Chết thật, đến phòng giáo dục mà còn ngọng thế “lày” thì bảo ai được?”.
Tấm ảnh đã được nhiều người chia sẻ. Cư dân mạng xã hội lại thêm một lần móc máy: Đến người đứng đầu ngành giáo dục và đào tạo còn nói ngọng trước Quốc hội kia mà!
Nhà thơ Ngô Minh sống ở TP.Huế đặt câu hỏi: “Sao không có cách gì để sửa tật này nhỉ?”.
Bốn, năm năm trước tôi tình cờ gặp lái xe taxi tên là Lân. Lân không chỉ nói ngọng tiếng l, n mà còn pha chút chất giọng miền Trung, lẫn lộn dấu ngã, dấu hỏi. Em nà Nân, ỡ Lam Định từ nhõ, em nên Hà Lội nái taxi hơn 10 năm… là khẩu ngữ của Lân trò chuyện với tôi hôm đó.
Lân kể, bố anh người gốc miền Trung tập kết ra Bắc năm 1954 rồi gặp mẹ anh, một cô gái huyện ven biển thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Lân sinh ra, lớn lên và thụ hưởng khẩu ngữ đặc trưng hai vùng miền của cả cha và mẹ.
Tôi hỏi: - Lân có biết mình nói ngọng không?
Lân nói, hồi nhỏ không để ý vì cả vùng ai cũng thế, chỉ khi đi làm bị bạn bè nhạo mới biết mình ngọng. Nỗi khổ tâm, day dứt nhất của vợ chồng Lân mấy năm nay là đứa con trai đang học năm đầu phổ thông cơ sở, thi thoảng tan trường về cháu lại tức tưởi khóc: “Bọn bạn chẵng ai chơi với con, vì con ngọng níu ngọng nô”.
“Thế thì phải cố mà sửa chứ!”. Nói rồi tôi kể với Lân là tôi sinh ra ở một tỉnh miền núi, hầu như cả vùng ai cũng phát âm các tiếng có dấu ngã cứng như dấu sắc. Tỉ như: Xá hội (xã hội), liệt sí (liệt sĩ)… Năm học cuối cấp ba, một hôm cô giáo dạy văn chỉ định tôi đọc bài thơ có câu: “Dãi gió dầm mưa…”, tôi đã đọc chữ “dãi” với âm điệu dấu sắc. Chưa kịp đọc hết câu tôi đã thấy cô giáo ngoảnh mặt đi, cả lớp thì rũ rượi cười. Cho đến giờ tôi vẫn còn rất ngượng mỗi khi gặp lại bạn bè năm ấy, nhất là với cô giáo chủ nhiệm lớp.
Sau “sự cố” để đời ấy, tôi quyết sửa bằng được tật nói ngọng của mình.
Tôi liệt kê tất cả các tiếng có dấu ngã, lọc ra những tiếng hay gặp hằng ngày nhất rồi lẩm nhẩm đọc và viết đi viết lại lúc rảnh rỗi. Khi đọc hoặc nói đến tiếng có dấu ngã tôi tự ngắt chậm lại, cố điều chỉnh lưỡi để phát âm nhẹ, mềm hơn... Cứ như vậy, khi vào trường đại học tôi đã xóa ngọng được cả nói và viết lúc nào không biết!
Nghe chuyện, Lân gật gù: - Có vẻ đơn giản, dễ vận dụng... nhưng phải rất kiên trì đúng không anh? Kết thúc cuốc đi, Lân xin tôi số điện thoại. Còn tôi thì dặn: - Trước mắt, cứ lặp đi lặp lại mấy cặp từ: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội… những địa danh gần gũi với Lân nhé!
Bẵng đi chừng hai năm, Lân gọi điện thoại cho tôi: - Anh Khiêm ơi, hôm nào em mời anh đi Hà Nam Ninh chơi nhé! Tôi không hiểu ẩn ý của Lân, vặn lại: - Cậu phải cụ thể hơn chứ! Lân cười: - Thì đó là tên tỉnh em một thời gồm Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình anh nói mà!
Lân nói đâu ra đấy tên ba thành phố. Tôi chợt hiểu ra cậu ta khoe thành tích chữa ngọng của mình! Rồi Lân hẹn tối hôm sau đón tôi đến nhà: - Nhờ anh sát hạch giúp vợ và con trai em còn ngọng nhiều không?
Con trai Lân đã học năm giữa phổ thông cơ sở. Sau một hồi trò chuyện, tôi tặng cháu tập thơ viết cho thiếu nhi của tôi mới xuất bản và tế nhị bảo: - Cháu có thể chọn một bài đọc cho cả nhà nghe được không?
Ngẫu nhiên, cháu chọn bài lục bát có nhiều chữ l, n và dấu ngã, dấu hỏi. Cháu hồn nhiên đọc, khá rành rẽ. Phải chú ý tôi mới nhận ra đôi chỗ cháu còn ngập ngừng, lơ lớ…
Chúng tôi trở nên gần gũi, thân tình hơn. Có việc đi đâu đó tôi điện thoại gọi Lân, cũng có ngày thưa khách Lân ghé đón tôi đi cà phê. Gần đây, Lân lại mời tôi đến nhà “mở bia uống chơi”. Hóa ra, Lân mới được nhận làm lái xe cho Tổng giám đốc một doanh nghiệp. Điều thú vị là Lân được nhận vào làm ở chính cái nơi mà mấy năm trước người ta đã loại cậu chỉ vì… ngọng! Tôi mừng cho Lân.
Tật nói ngọng, viết ngọng có xuất xứ ở một số vùng miền nước ta nhiều đời nay. Trải qua nhiều thời gian, “nét văn hóa vùng miền” - nói như đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc - du nhập vào các cơ quan Trung ương, nhiều địa phương trong cả nước chứ không riêng gì ngành giáo dục, đào tạo. Khác chăng, đây là ngành có nhiều công chức nên tỷ lệ cán bộ, giáo viên nói ngọng, viết ngọng phát lộ ra trước bàn dân thiên hạ cũng cao hơn. Và nữa, bởi thiên chức là giáo dục và đào tạo, do vậy việc các thầy giáo, nhất là với vị tư lệnh ngành nói ngọng khiến cư dân mạng xã hội dậy sóng!
Không nói đâu xa, tại kỳ họp Quốc hội mới đây, người đứng đầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng phô ra một vài tiếng ngọng khi đăng đàn, nhưng nào có ai bàn luận?
Nói ngọng có thể là “nét văn hóa vùng miền” (?), nhưng viết ngọng (lỗi chính tả) đang làm phương hại ngày càng nhiều đến sự chuẩn mực và trong sáng của tiếng Việt. Thiển nghĩ, các thầy giáo nói riêng và ngành giáo dục, đào tạo phải là ngành thấu hiểu điều đó trước nhất!
Trở lại câu hỏi của nhà thơ Ngô Minh, cũng là băn khoăn của không ít người: Có cách gì sửa tật nói ngọng không?
Mẩu chuyện nhỏ của tôi và gia đình lái xe Lân phần nào là một câu trả lời. Còn có nhiều cách xóa ngọng khác như: người nói ngọng cần chịu khó giao tiếp, chắt lọc, lắng nghe người khác nói chuyện hay năng đọc nhiều sách, báo mỗi ngày…
Ngày nay, với những người nói ngọng nhưng hay phải viết lách, khi gặp những chữ mình chưa thật tự tin thì gõ phím hỏi “ông” Google để có thể chính xác hơn. Rất thuận tiện và nhanh!
Nhưng, điều quan trọng nhất vẫn là người nói ngọng có biết mình ngọng và nghĩ đến hệ lụy “di truyền” với gia đình, con cái và với xã hội… đặng, quyết tâm và kiên trì sửa.
Cái gì không sửa được trong vài ba ngày, vài ba tuần thì sẽ sửa được bằng nhiều tháng, nhiều năm!
Bùi Đức Khiêm (nhà văn)
'Nói ngọng ảnh hưởng tới uy tín cả nền giáo dục'
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) nói không nên xem thường nói ngọng, "nói ngọng thì viết cũng sẽ ngọng", không chỉ ảnh hưởng tới khả năng thuyết trình mà cả uy tín của nền giáo dục.
Các ĐBQH thảo luận dự án Luật Giáo dục sửa đổi tại tổ TP.HCM chiều 8-11 - Ảnh: B.D
Thảo luận tổ về Luật Giáo dục sửa đổi chiều 8-11, các đại biểu tập trung vào các nội dung như chế độ chính sách cho giáo viên, thiết kế chương trình giáo dục hiện nay quá nặng, giáo dục Việt Nam vẫn loay hoay tìm lối ra mà chưa có một triết lý tóm gọn nào để định hình xuyên suốt từ học trong trường cho tới khi ra ngoài xã hội.
Đừng coi thường nói ngọng
Đề cập một yếu tố nhỏ cần điều chỉnh, bổ sung trong chương trình giáo dục tổng thể tại dự thảo luật, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) cho rằng dù rất nhỏ nhưng không nên xem thường tật nói ngọng.
Theo ông Nghĩa, từ trước tới nay trong nhà trường khâu học nói hay bị bỏ qua, trong khi việc này phải làm ngay từ mẫu giáo tới phổ thông thì mới có thể sửa được những học sinh nói ngọng.
"Tôi hồi nhỏ xíu cũng nói ngọng, nhưng lên lớp 1, lớp 5 thì người ta tập đọc rồi từ đó tôi sửa được", ông Nghĩa lấy ví dụ chính bản thân mình.
Nghe ý kiến của ông Nghĩa, có đại biểu cho rằng không nên gọi là "nói ngọng" mà cần từ chính xác là "nói chưa chuẩn". Nhưng ông Trương Trọng Nghĩa cho rằng hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau.
"Ngọng là một thói quen hết sức bình thường nhưng sẽ cản trở rất nhiều thứ đối với một học sinh nếu không được sửa chữa ngay từ lúc còn đi học. Người nói ngọng thì sẽ viết ngọng, ảnh hưởng tới khả năng thuyết trình, giảng dạy và ảnh hưởng tới uy tín của cả nền giáo dục", đại biểu TP.HCM nói.
"Bây giờ có những người lớn rồi, thậm chí bằng cấp cao rồi mà vẫn viết sai do nói ngọng. Tôi đề nghị có giải pháp để giải quyết".
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) - Ảnh: Quochoi.vn
Lương không đủ sống thì nhà giáo cũng phải làm đủ nghề
Rất nhiều đại biểu đề nghị sửa Luật Giáo dục phải kiên quyết không tiếp tục nói chung chung là "chi trả, có chế độ trợ cấp cho nhà giáo tuỳ theo công việc và lao động". Cách nói đó, theo các đại biểu, không rõ ràng và không giải quyết được gì.
Thời gian qua có nhiều vụ việc liên quan đến đạo đức nhà giáo, xã hội, phụ huynh, học sinh ít nhiều sút giảm thiện cảm đối với nhà giáo, đều có nguyên nhân từ việc người thầy vì áp lực cuộc sống quá lớn mà phải lăn lộn, tìm cách trang trải cuộc sống, nhiều đại biểu chỉ ra.
"Nhà nước khi khấm khá thì trả cho nhà giáo lương cao còn khi gặp khó khăn thì lại khác. Làm như thế là chưa đặt vai trò nhà giáo đúng mức, chưa đặt nặng chuyện đi từ cái căn bản nhất để người thầy tạo ra một con người nhân cách cho xã hội", đại biểu Nguyễn Văn Chương (TP.HCM) nói.
Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan cùng đoàn cũng cho rằng lâu nay dư luận cứ phê phán giáo viên dạy thêm lấy tiền, nhưng vấn đề quan trọng nhất là vì sao họ lại phải làm thế thì chưa giải quyết được.
"Lương không đủ sống thì nhà giáo cũng phải đi làm đủ nghề để kiếm sống. Nhà giáo là những người đào tạo, rèn dạy và định hình nhân cách con người của xã hội. Xã hội tốt đẹp hay không có công vô cùng to lớn của người thầy. Giờ thấy chế độ cho các thầy cô thấp quá, trong khi dự thảo luật lần này vẫn chỉ nói chung chung, không rõ ràng", bà Lan nói.
Đại biểu Cao Đình Thưởng (Phú Thọ) thảo luận tại tổ về dự án Luật Giáo dục chiều 8-11 - Ảnh: LÊ KIÊN
Nhiều vấn đề chưa thực sự "quốc sách"
Đại biểu Cao Đình Thưởng (Phú Thọ) bình luận: Vị thế của ngành giáo dục trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều rất quan trọng, như nghị quyết của Đảng thì nó là quốc sách hàng đầu, nhưng trên thực tế thì cũng có những việc, những vấn đề chưa thực sự "quốc sách".
"Thực tiễn vừa qua tôi cảm nhận rằng chỉ số hạnh phúc của học sinh chưa cao, sự hài lòng của phụ huynh chưa cao. Với một ngành mà liên quan đến mọi gia đình, thì 99 việc làm tốt, chỉ 1 việc chưa tốt cũng làm băn khoăn xã hội", ông Thưởng nói.
Đại biểu Phú Thọ phân tích vấn đề sách giáo khoa: "Ví dụ như môn lịch sử nếu cứ nhồi nhét vào đầu học sinh những sự kiện, những con số thì các cháu rất khó học. Mà có mười mấy môn học nhồi nhét vào đầu học sinh rất là khổ.
Cái mà nhiều học sinh bây giờ không hạnh phúc là thầy cô và cha mẹ bắt các em phải giỏi mọi thứ, trong khi với từng em chỉ có năng khiếu một vài môn thôi. Thi cử thì tôi đề nghị phải xem xét lại, theo hướng thi tốt nghiệp phổ thông thì nhẹ nhàng thôi, nhưng thi đại học thì phải chọn được người tài".
Đại biểu Cao Đình Thưởng cho rằng muốn nâng tầm chất lượng giáo dục thì phải quan tâm đến các "máy cái", tức là các trường sư phạm, là giáo viên, khắc phục tình trạng hiện nay nhiều địa phương không thể thu hút các học sinh, sinh viên giỏi vào ngành sư phạm.
Luật phải thể hiện được triết lý của giáo dục Việt Nam, ngắn gọn, cô đọng, ai cũng nhớ, cũng hiểu. Triết lý giáo dục Việt Nam phải không được nhầm lẫn với các nước khác.
Một trong những lý luận phổ biến mà người Bắc dùng để miệt thị người Nam đó là phê phán cách phát âm tiếng Việt của vùng đất từ Bình Thuận trở vô. Người Bắc cho rằng họ mới nói thứ tiếng Việt chuẩn nhất, còn những cách phát âm còn lại là sai, ngọng. Chúng ta hãy cùng phân tích để kết luận rằng ngươi Nam có thật sự nói ngọng như định kiến của người Bắc từ trước đến giờ hay là không.
Trước hết, cần minh định rằng nước Đại Việt của các nhà Lý, Trần, Lê cương vực chỉ tới miền Trung. Các vùng đất Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Tĩnh trở vô tới Huế ngày nay họ không nói tiếng Việt hoặc nói với giọng rất khó nghe do ảnh hưởng của người Chăm và văn hoá Chăm, bằng chứng là tiếng Nghệ An Hà Tĩnh bây giờ vẫn bị ngoài Bắc dè bĩu là trọ trẹ. Các đời vua Lý và Trần đều có gốc Tàu, được biết vua Trần (gốc Phúc Kiến, Mân Nam) nói chuyện với Tàu không cần phiên dịch, ta có thể thấy tầng lớp trí thức cai trị nước Đại Việt xưa không hẳn là người bản địa, người bản địa ở miền Bắc lúc đó mới thật sự đồng hoá các đời vua có gốc Tàu sang. Các số đếm như một, hai, ba, bốn của tiếng Viết lại giống với tiếng Khmer, tiếng Mường hơn (trong tiếng Khmer, bốn đọc là “bon”).
Sau khi quân Minh xâm lược, lật đổ nhà Hồ thì ít lâu sau Lê Lợi khởi nghĩa tại Lào, ông là người Mường ở miền núi Thanh Hoá (huyện Ngọc Lặc quê của thủ môn Bùi Tiến Dũng ngày nay cũng nhiều làng Mường). Sau khi nhà Lê ra Thăng Long cai trị thì tiếng Việt lúc này cũng đã thay đổi thêm, thành tố Mường chiếm ưu thế tuy vẫn sử dụng Hán tự là chữ viết duy nhứt.
Tới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh thì tiếng Việt được Nam tiến theo sự nghiệp của các chúa Nguyễn, người bản địa ở Đàng Trong gồm Chăm, Thượng và sau này là Khmer, Hoa Minh Hương nói tiếng Việt theo ngữ âm Thanh Hoá, Nghệ An, Huế, tiếng Việt ở ven biển từ Nghệ An vô tới Ninh Thuận có sự khác biệt giữa các vùng do ngày xưa Champa là các tiểu quốc khác nhau hợp thành. Tới thế kỷ 18 thì lực lượng người Hoa Minh Hương ở đồng bằng sông Cửu Long cũng đã hoà nhập với dân bản địa và họ kết hôn, để ra con cháu nói tiếng Việt với giọng Nam.
Công bằng mà nói, tới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát thì Đàng Trong và Đàng Ngoài đã coi nhau như 2 nước, có tiếng nói, từ vựng riêng, dù vẫn có thể nói chuyện với nhau được nhưng hai nền văn hoá đã khác nhau rồi. Lúc Nguyễn Huệ gặp vua Lê ở Thăng Long thì coi như hai nước khác nhau. Nguyễn Nhạc cũng từng can ngăn Nguyễn Huệ đừng chiếm lấy Bắc Hà vì “nước ấy là nước của vua Lê”.
Cũng trong thời kỳ này, các giáo sĩ phương Tây mới nghĩ ra cách ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latin, quá trình này có công lớn của Alexander de Rhodes (cha Đắc Lộ). Tuy vậy, mãi cho đến khi Pháp chiếm trọn Nam Kỳ làm thuộc địa từ 1865 thì chữ viết ấy mới chánh thức được người nói tiếng Việt tại Đàng Trong sử dụng, công lớn trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ ra rộng rãi giới trí thức và dân chúng là của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của.
Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ cũng có một số bất cập khi không thể ghi âm tiếng Việt một cách hoàn toàn chánh xác cho cả ba miền, nhứt là về mặt thanh điệu. Bản thân người Việt mải mê với binh đao không thể sáng tạo ra được chữ viết của riêng mình (chữ Nôm cũng chỉ là cải biên từ chữ Hán và có phần phức tạp hơn), phải nhờ người nước ngoài tạo ra thì chuyện đòi hỏi có được chữ viết đáp ứng nhu cầu mong mỏi của họ là khá xa vơi. Chữ Việt được phát triển bởi các nhà truyền giáo Nam Âu (Bồ Đào Nha, Pháp) và đã tồn tại một số bất cập khi họ không có đủ chữ cái để ghi âm chánh xác cho phụ âm đầu “y” cũng như “w” và dùng chữ “v”để thay thế cho hai cái đó. Chi tiết về sự bất cập này, mời các bạn tham khảo link sau:
Tiếng Việt đã thay đổi kể từ khi chữ Quốc ngữ được đưa vào giảng dạy, bản thân người viết từng chứng kiến hồi năm học lớp 1, thằng bạn cùng lớp không thể vào phát âm phụ âm đầu “v” mà toàn đọc như “w”. Đó là vì chữ “v” là một âm xa lạ, không phản ánh đúng tiếng của ông bà ta nói ngày xưa cho nên gặp khó khăn, chúng ta đã bị bắt học phát âm âm “v’ là đọc theo người Pháp. Các ngôn ngữ phương Đông khác mà có ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, tuyệt nhiên không có âm “v” như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Thái Lan. Nhiều nghệ sĩ cải lương khi phát âm phụ âm “v” thường đọc theo âm “bd”, tức là bậm môi nhưng khi phát ra thì giống như /d/ (trong tiếng miền Nam), đó chính là cách phát âm cổ của người Việt, bao gồm cả người bỏ Đàng Ngoài để vô Đàng Trong sinh sống thời chúa Nguyễn.
Video clip bài hát” Qua Cầu Gió Bay” được hát bằng tiếng Kinh cổ của cộng đồng người Kinh ở Trung Quốc. Nhóm người này chưa từng tiếp xúc với chữ Quốc ngữ, họ vẫn dùng tiếng Nôm để ghi âm tiếng Việt, vùng đất đó trước kia thuộc Đại Việt nhưng sau này bị nhượng lại cho Trung Quốc, hãy nghe thử để so sánh với tiếng “Bắc chuẩn” và tiếng “Nam ngọng” coi có cái nào giống cái nào hay không.
Sau khi chiếm được toàn bộ quyền lực và thao túng bộ máy giáo dục, tuyên truyền, người Bắc mặc định coi họ là chuẩn mực của ngôn ngữ, cách sống, nhận thức. Tiếng Hà Nội được mặc nhiên coi là “tiếng chuẩn” của cả nước, nên mới nảy sinh ra tâm lý cho rằng người Nam nói ngọng. Xin thưa, nếu lấy chữ Quốc ngữ đang dùng hiện tại ra để làm chuẩn mực so sánh ai nói chuẩn hơn, thì xin được phân tích ra rằng miền nào cũng sai tương đối một chút so với chữ viết:
Người Nghệ An nói rõ chữ “s” và “x”, “r” và “d” với “gi” , dấu thanh khác miền Bắc và miền Nam.
Người miền Nam nói hỏi ngã giống nhau, “d” giống với “gi” và “v” ở nhiều địa phương, chữ “r” có thể đánh lưỡi được chánh xác tuỳ vào chuyện có muốn đánh hay không. Phụ âm cuối như -an hay -and thì phát âm giống nhau (người Huế cũng vậy) nhưng ít khi viết sai. Phụ âm cuối -c và -t đọc giống như và đôi khi hay lẫn lộn trong lúc viết.
Người Bắc nói “d”, “gi” và “r” giống nhau (viết sai rất nhiều ví dụ rẻ rách, hạt rẻ, dượt đuổi, đổ giác..) , đôi khi lẫn lộn “l” và “n” (viết sai cặp này rất nhiều ví dụ Nam Từ Niêm, trứng vịt nộn…).
Bằng chứng cho thấy người Bắc Kỳ “viết ngọng.”
Tâm lý áp đặt, luôn thích làm cha người khác đã tạo cho người Bắc tâm lý kẻ cả, thích dạy đời. Cho nên khi giáo sư Bùi Hiền sáng kiến chữ viết mới lấy tiếng Hà Nội làm gốc thì cũng có khác nhiều người Bắc Kỳ ủng hộ vì sáng kiến của ông này loại bỏ được khá nhiều lỗi sai chính tả của người Bắc. Mỗi vùng có một tiếng nói, phương ngữ riêng, đặc biệt là miền Nam có lịch sử và văn hoá khá khác biệt với miền Bắc thì chuyện nói thứ tiếng đó nhưng âm điệu khác nhau là chuyện hoàn toàn dễ hiểu. Chuyện người Nam không nói được những cái mà người Bắc nói được trong tiếng Việt không phải là lỗi của người Nam để bị kỳ thị là “không chuẩn”.
Về viết sai chính tả, thì có thể khẳng định rằng hiện tại người vùng miền khác không thể nào đấu lại người Bắc về số lượng cũng như sự thường xuyên mắc lỗi. Còn nói rằng người Nam nói ngọng thì đó là thiển ý riêng của người Bắc, họ cho rằng họ đại diện cho những gì chuẩn mực nhứt của đất nước này nên mới phán rằng người Nam nói ngọng, là một người Nam, tôi có thể phán rằng người Bắc “viết ngọng” hơn người từ Nghệ An trở vô rất nhiều
MẤT VIỆC "NGON" VÌ TẬT NÓI NGỌNG
Cả phòng đang yên ắng, bỗng Thành cao giọng hát: "Nắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ, màu nan tím Đà Nạt sương phủ mờ..."
Vốn là một công ty truyền thông sản xuất các chương trình truyền hình, thường vào thời điểm cuối năm công ty có đợt tuyển nhân sự để thực hiện các dự án. Nhiều nhân viên mới được tuyển dụng và phân bổ các phòng ban. Trong đội ngũ kinh doanh của chúng tôi có 2 em được giao việc. Các em còn trẻ, năng động và nhanh chóng hòa đồng với mọi người. Trong đó có cô bé tên Mai luôn để lại ấn tượng với đàn anh, đàn chị không phải về ngoại hình xinh đẹp hay tài năng nổi trội mà về lối nói chuyện “cực ngọng”.
Mới đầu Mai khá tự tin bắt chuyện, mọi người biết em ngọng âm l/n cũng chỉ nhìn nhau cười thầm, nói nhỏ với nhau qua yahoo. Càng thân thiết, những câu chuyện kiểu “anh chị ăn xôi lóng” hay "Mọi người uống lước trà" khiến tất cả mọi người không nhịn được cười và thích thú “nhại” giọng khi không có sự xuất hiện của em.
Đặc thù công việc của phòng kinh doanh là tiếp xúc với khách hàng, hàng ngày chúng tôi phải điện thoại giao dịch thường xuyên với khác. Thật trớ trêu cho Mai khi phải “vận dụng” lỗi phát âm của mình để thuyết phục khách hàng. Mỗi lần nghe Mai nói chuyện với khách, cả phòng ngồi ngoài lại cười nắc nẻ. Không hiểu cảm giác của đầu dây bên kia như thế nào, chứ những người nghe như chúng tôi không thể nhịn nổi cười khi nghe em nói: “Lào đâu muốn điều đó đâu anh”; “bên anh nàm tài chợ cho trương chình bên em sẽ có ưu đãi nhiều nắm”…
Biết được tác hại của việc nói ngọng, mọi người trong phòng đã từng ra sức giúp Mai để cải thiện lỗi của mình. Những lúc nói chậm rãi, Mai còn đỡ mắc lỗi nhưng khi bắt đầu vào guồng nói nhanh đâu lại vào đó “này" lại thành "lày”….
Mai từng kể, dù đa phần người thân quen và bạn bè hoàn toàn thông cảm với lỗi phát âm "bẩm sinh" của mình và xem đó như một màn tấu hài mua vui cho mọi người. Nhưng cũng có một số người lần đầu nghe lại cảm thấy "chói tai", khó chịu. Mai tiếc nuối kể về lần bị đánh rớt vị trí nhân viên của một công ty nước ngoài với mức lương khá cao, đó là khi phỏng vấn vòng thứ ba với vị giám đốc kinh doanh, khi được vị giám đốc hỏi: "Do you like this job? thì cô rất tự tin trả lời: “Ai nai dít gióp ve ry mắt...” (I like this job very much - Tôi rất thích công việc này).
Sau lần bị đánh trượt đó, Mai tiếc hùi hụi. Cô cũng cho biết, nhờ "tai nạn" đó mà em cũng luyện tập nhiều hơn về phát âm. Thế nhưng khi về nhà, nói chuyện cùng mọi người lại bị cuốn theo nên mãi đến bây giờ em vẫn không thể nào sửa được tật nói ngọng.
Không chỉ có Mai, Minh Thành - nhân viên phòng sản xuất cũng ngọng không kém. Nhưng đúng như ông cha ta vẫn thường nói "Điếc hay ngong, ngọng hay nói", Thành lại có sở thích hát mọi lúc mọi nơi.
Một hôm, khi cả phòng đang yên ắng làm việc thì Thành hào hứng cất cao giọng hát: "Nắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ, màu nan tím Đà Nạt sương phủ mờ" khiến cả phòng không thể nhịn được cười. Hay một lần, cả phòng đang tụ tập ăn uống sinh nhật, Thành chạy đến trêu ghẹo một em đồng nghiệp rồi hát vang: "Người anh yêu hỡi... Ai nớp diu"... khiến mọi người đang ăn bắn tung tóe cả thức ăn ra ngoài. Cũng từ đó, những ca khúc "hit" của Thành đã trở thành "ca khúc bất hủ" để giải tỏa stress cho phòng mỗi lúc căng thẳng.
Tuy nhiên, anh chàng chỉ cười và lờ đi mỗi khi có ai đề cập đến chuyện sửa lỗi phát âm. "Nỗi nà nỗi của cả nàng chứ đâu phải của mình tôi” (Lỗi là lỗi của cả làng chứ đâu phải của mình tôi?) - đó là câu bào chữa cực "dễ thương" nên chúng tôi cũng vui vẻ bỏ qua cho Thành.
Khổ nỗi, vì nhại đi nhại lại những lỗi sai của người ngọng, hiện nay nhiều nhân viên của công ty tôi đều ngượng miệng mỗi khi phát âm đúng. Nói nhầm lẫn giữa "l/n" trở thành căn bệnh “ngọng” lây lan khắp nơi chúng tôi làm việc. Thậm chí, trong một cuộc họp, chị trưởng phòng của tôi nói ngọng từ "nập nuận" khiến mọi người phải trố mắt ngạc nhiên vì từ trước tới nay, chị đâu có ngọng như vậy?
Chuyện nói ngọng nơi công sở đúng là lắm chuyện bi hài. Bây giờ, chúng tôi không những phải giúp đồng nghiệp sửa lỗi phát âm mà còn phải điều chỉnh lại chính lỗi do mình vô tình mắc phải.
Câu chuyện “nói ngọng” không chỉ đơn thuần để cười mà ẩn trong đó là những "tai nạn" không hề nhỏ. Có nhiều cô cậu ra trường, rất có năng lực, trình độ nhưng vẫn không thể qua nổi buổi phỏng vấn đầu tiên chỉ vì tật nói ngọng. Hay như đứa bạn thân của tôi, rất thông minh, nhanh nhạy, luôn là người đưa ra những đề xuất tích cực cho cơ quan nhưng vẫn không được tín nhiệm chức trưởng nhóm kinh doanh chỉ vì tội "ngọng líu ngọng lô" của mình.
Nguồn: Sưu tầm.
Nói ngọng, khi nào thì cần chữa?
MAI NGUYỄN - 12:31 20/09/2019
(khoahocdoisong.vn) - Vì nỗi lo trẻ lớn lên nói ngọng sẽ chịu sự chế giễu, chê cười, gặp khó khăn trong công việc, mà một số phụ huynh đã sốt sắng tìm lớp chữa nói ngọng cho con. Nhưng có phải, cứ “ngọng” là phải đi chữa ngay hay không?
Ba loại ngọng
Chị Vũ Hải Phương (Hà Nội) có con 5 tuổi, nhưng bé “ngọng líu ngọng lô”, quả bưởi thì bé nói “quạ bượi”, cô Thảo thì thành “cô Thạo”, con cóc thì bé nói “con óc”.
Khi chị đăng dòng trạng thái tìm lớp chữa ngọng cho con trên mạng, thì rất nhiều bố mẹ cũng vào bình luận, chia sẻ chung nỗi lo lắng như chị Phương và muốn tìm lớp cho con.
“Thực tế tôi thấy, những người nói ngọng đã bị xã hội chế giễu, chê cười, con lớn lên có thể gặp khó khăn trong công việc nên tôi muốn tìm lớp chữa ngọng cho con”, chị Phương chia sẻ.
Những câu sửa nói ngọng "hại não".
Theo PGS.TS Hảo, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, muốn đi chữa ngọng, thì trước hết cần phải hiểu về khái niệm ngọng.
Ngọng có thể chia làm ba loại: Ngọng sinh lý, ngọng bệnh lý và ngọng xã hội.
Ngọng sinh lý tức là trẻ em khi sinh ra trong bộ não đã tiềm ẩn sự phát triển về ngôn ngữ rồi. Tuy nhiên, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh và não bộ chưa ấn định và ấn tượng âm thanh. Cho nên, thường trẻ em dưới 5 tuổi 6 tuổi hầu như bé nào cũng nói ngọng.
Ngọng bệnh lý là loại ngọng xảy ra ở một số người, gây ra bởi những biến đổi của bộ máy phát âm hoặc của hệ thần kinh trung ương. Do bất thường của bộ máy phát âm, ví dụ như hở hàm ếch, liệt lưỡi, liệt môi, liệt màn hầu…
Và loại ngọng thứ 3, loại này rất quan trọng, đó là ngọng xã hội. Đây là loại ngọng mà ngay cả những người học cao, thậm chí có vị thế xã hội cũng mắc.
Ngọng xã hội hay bị chế giễu, chê cười bởi quy về ý thức tự rèn luyện kém. Ảnh minh họa.
Theo PGS.TS Phạm Văn Hảo, gọi là ngọng xã hội vì nó liên quan tới xã hội, bị xã hội đánh dấu. Thực tế, trong xã hội vẫn luôn tồn tại phương ngữ, nhưng chỉ riêng ngọng l và n bị đánh dấu, coi đó là điều không thể chấp nhận được và bị chê cười. Bởi người ta coi đó là vấn đề trình độ, quy về ý thức tự rèn luyện. Thường thì ngọng xã hội, khi qua đại học, là đã giải quyết được rồi. Còn những người vẫn chưa tự điều chỉnh được, thì bị coi là thiếu ý thức rèn luyện, không nỗ lực tự điều chỉnh.
Ngọng l, n nhất định phải sửa
Trong ba loại ngọng, PGS.TS Phạm Văn Hảo cho biết, đối với loại ngọng sinh lý bố mẹ không nên quá lo lắng. Bởi theo thời gian, lứa tuổi, khi trẻ lớn lên, trẻ sẽ dần dần tự ý thức và tự điều chỉnh. Tức là cộng đồng ngôn ngữ sẽ điều chỉnh cho trẻ.
Đối với ngọng bệnh lý, thì cần phải tới bệnh viện để kiểm tra, thăm khám xem mắc bệnh gì. Giải quyết được cái “gốc” thì mới chữa được ngọng.
Riêng đối với ngọng xã hội, Theo sửa rất khó, nhưng có thể làm được. Vấn đề là phải có nỗ lực, đọc nhiều sách và có ý thức rèn luyện.
Trước ý kiến cho rằng, ngọng "n" hay "l" là phương ngữ, cũng giống như người dân Việt Bắc vẫn gọi mẹ là "mế", vùng Trung du vẫn gọi là "bầm", vùng Bình - Trị - Thiên gọi là "mạ", người miền Nam gọi là "má"... Hoặc người dân xứ Nghệ phát âm dấu ngã thành dấu nặng hoặc dấu hỏi… thì vẫn được mọi người chấp nhận như thường. Thậm chí, nó còn góp phần làm cho vốn ngữ âm thêm đa dạng và sinh động. Như vậy, việc ngọng “l”, “n” cũng không cần sửa.
Nói ngọng, đặc biệt là ngọng l, n cần phải sửa.
PGS.TS Hảo cho rằng, những phương ngữ đó không bị xã hội đánh dấu. Còn l và n đã bị đánh dấu thì phải sửa. Và nếu không sửa, sẽ bị đánh giá sang những vấn đề khác. Ví dụ, người ta sẽ nghĩ rằng, chỉ có l, n mà anh còn không sửa được, thì uy tín của anh trong những việc khác cũng bị nghi ngờ.
Đứng từ góc độ y khoa, PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng – nguyên Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết, ngọng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Cho nên, trước khi quyết định cho con đi chữa về ngữ âm thì cần phải đi thăm khám bác sĩ.
Bởi nếu như ngọng xuất phát từ bệnh lý thì phải giải quyết được bệnh đó, ngọng mới khỏi được. Ví dụ, bệnh về hở hàm ếch, rối loạn tâm lý. Sau khi thăm khám, biết nguyên nhân rồi, bác sĩ sẽ tư vấn cần phải chữa trị như thế nào.
Chứ không phải bố mẹ cứ tự nhiên thấy con ngọng là đưa con đi tới các trung tâm đề chữa ngọng. Như vậy, vừa mất về tiền bạc, thời gian mà có thể bệnh lại không khỏi.
Lần theo địa chỉ quảng cáo trên mạng về chữa ngọng từ chia sẻ của các phụ huynh, PV đã gọi điện và được người cầm máy tư vấn, nếu bé đã 5 tuổi thì có thể theo dõi con qua việc học bảng chữ cái cùng với các bạn. Qua theo dõi, nếu các bạn đã nói được rõ ràng, trong khi con bị ngọng thì nên đưa tới trung tâm để kiểm tra.
Khi PV hỏi, trung tâm có BS để kiểm tra không thì người nghe máy giới thiệu là một cô giáo đã tốt nghiệp ĐH Sư phạm. Trung tâm không có bác sĩ kiểm tra, mà chính cô giáo sẽ kiểm tra tình trạng ngọng của các cháu. Cô giáo cho biết, đã được học cơ bản về kỹ năng luyện giọng, kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ học và ngôn ngữ tiếng Việt, cả kỹ năng sống.
“Thực ra ngọng không phải là một loại bệnh để phải đến gặp bác sĩ đâu. Nếu chị đưa cháu tới bệnh viện, thì cũng sẽ được các BS cho test qua bảng chữ cái thôi, xem con ngọng những lỗi nào. Cái này thuộc về ngôn ngữ, về cách đẩy hơi, khẩu hình, phải là người có chuyên môn về lĩnh vực này mới biết được. Còn các bác sĩ chủ yếu chuyên về bệnh thể xác hơn”, “cô giáo” nói.
Nghĩ ngọng
Cách đây hai năm, tôi bỗng đọc được tin Hà Nội đang chật vật với việc nói ngọng của giáo viên. Dù đã triển khai cả chương trình đào tạo, nhưng kết quả không như mong đợi.
Lúc đó, tôi đang triển khai chương trình đào tạo chuyển hóa cho doanh nghiệp, và chợt nghĩ, tại sao không thử áp dụng phương pháp đào tạo này vào việc sửa ngọng cho giáo viên? Người làm công việc khác, nói ngọng thì cũng không ảnh hưởng nhiều lắm, nhưng giáo viên, đặc biệt là giáo viên mầm non và tiểu học, thì nói ngọng sẽ phản cảm và gây ảnh hưởng đến thế hệ kế tiếp.
Về mặt lý thuyết và với kinh nghiệm đào tạo của mình, tôi tin việc này sẽ có kết quả. Là vì tôi biết, việc nói ngọng không chỉ đơn thuần là lỗi phát âm. Ngọng thực chất là từ trong suy nghĩ ngọng ra. Đây chính là lý do vì sao người nói ngọng, hay phát âm không chuẩn, thường không nhận ra; hoặc nhận ra thì cũng rất khó sửa nếu không có hỗ trợ đúng để người học thay đổi tâm thức của mình trước, rồi sau đó mới thay đổi cách phát âm và khẩu hình.
Vậy là khóa học "Sửa tật nói ngọng" dành cho giáo viên ra đời. Kết quả phải nói là khá tốt. Sau 2-3 buổi học, khoảng 90% học viên sửa được, tương ứng việc phát âm không chuẩn giảm trên 80%. Việc đánh giá do cả lớp biểu quyết xác nhận, cùng với đánh giá của giảng viên. Khoảng 10% số học viên còn lại, vì những lý do đặc biệt nào đó, như cấu tạo sinh học của cơ quan phát âm khác thường, hoặc học viên không quyết tâm để sửa, đã không thành công như bạn đồng học khác.
Tôi hoàn toàn có thể triển khai chương trình rộng hơn. Tuy nhiên, tôi đã dừng việc này sau ba khóa đào tạo. Vì việc thử nghiệm về phương pháp đã xong và tôi muốn dành thời gian cho các dự án đào tạo khác.
Cho đến nay, việc bị coi là ngọng, và cần phải sửa nhiều nhất vẫn nằm ở sự nhầm lẫn giữa n và l. Lý do là cách nói này gây phản cảm, và việc nhầm lẫn khi nói rất dễ gây sang nhầm lẫn khi viết, làm sai ngữ nghĩa và chính tả. Câu chuyện sửa tật nói ngọng của giáo viên Hà Nội trong 10 năm qua chủ yếu cũng tập trung ở việc sửa hai âm l, n này.
Nói ngọng, nếu không phải là do bẩm sinh, thì có nguồn gốc chủ yếu là do phương ngữ địa phương chứ không phải lỗi của người nói ngọng. Như một câu đùa dân gian, "cả làng nói ngọng chứ mình gì tôi". Chưa kể, thế nào là ngọng, thế nào là phương ngữ vùng miền, và có thực sự cần thiết phải sửa hay không, cũng là quan điểm đang gây nhiều tranh cãi.
Ở miền bắc, nhiều tỉnh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định, Hải Phòng... đều có hiện tượng nhầm lẫn l và n khi phát âm chứ không riêng Hà Tây. Vì thế, nếu không sáp nhập Hà Tây với Hà Nội, hay người "nói ngọng" đến sinh sống, làm việc ở nơi khác ngoài địa phương mình thì có lẽ không ai nghĩ đến chuyện sửa lỗi phát âm.
Nay, chuyện nói ngọng lại thành chủ đề của giáo dục khi Hà Nội tổng kết chương trình sửa nói ngọng cho giáo viên 10 năm mà vẫn chưa có kết quả như mong đợi. Câu hỏi đặt ra, là tiếp tục chương trình này hay không, và nếu tiếp tục, thì nên làm như thế nào?
Với kinh nghiệm cá nhân, tôi cho rằng việc sửa lỗi phát âm cho giáo viên là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc sửa lỗi phát âm nói chung và hai âm l, n nói riêng, nếu chỉ tập trung vào phát âm và khẩu hình là rất khó. Lỗi phát âm là từ trong tâm thức lỗi ra. Mà tâm thức này chính là chúng ta, hình thành và bồi đắp dần từ lúc ta mới sinh ra, nay trở thành một phần tự nhiên của chính chúng ta. Sửa tâm thức và rộng hơn là thay đổi tâm thức của một người, dù chỉ một vài chi tiết nhỏ, quả thực không dễ chút nào. Phải có phương pháp đặc biệt thì mới có thể xử lý được.
Hiện chưa biết Hà Nội sẽ xử lý vấn đề này thế nào, cũng chưa có nhà sư phạm nào xử lý vấn đề rốt ráo. Trường sư phạm cũng chưa giúp được gì nhiều, nên câu chuyện vẫn dở dang ở đó. Nếu không có sự đột phá về phương pháp thì tổng kết 10 năm nữa, câu chuyện sửa lỗi phát âm dự đoán sẽ vẫn có kết quả như hiện giờ, bởi thực tế, có rất nhiều người sửa ba chục năm mà vẫn không có kết quả.
Nhưng tôi muốn nói thêm một câu chuyện khác mà tôi nghĩ là khẩn thiết hơn. Đó là chuyện "nghĩ ngọng". Nghĩ ngọng là một cách nói ví von về sự lệch lạc trong cách nghĩ, cách xử lý các vấn đề, không chỉ của giáo dục mà còn của tất cả bộ ngành, thể hiện trong các văn bản pháp quy và chính sách được ban hành. Và nó cũng hình thành từ tâm thức cộng đồng.
Sự lệch lạc này thể hiện hiện hàng ngày trên các giấy phép con, thông tư, nghị định, dự thảo văn bản luật... mà dân chúng vẫn kêu giời "hành là chính"; hoặc mỗi lần lấy ý kiến thì nhân dân lại tá hỏa vì sao lại thế, để rồi cơ quan soạn thảo lại giải thích rằng đó là do quy trình, hoặc "lỗi đánh máy".
Sở dĩ những người "nghĩ ngọng" không nhận ra mình đang "nghĩ ngọng" để sửa là vì xung quanh ai cũng nghĩ như vậy cả. Dùng khái niệm "ngọng" để ví von là bởi hiện tượng ở đây rất giống với những gì đang diễn ra trong cộng đồng phương ngữ. Nghĩ ngọng là cả cơ quan cùng ngọng, cả nước cùng nghĩ ngọng chứ riêng gì mình, nên không nhận ra. Nhưng dù không nhận ra thì "nghĩ ngọng" vẫn là một hiện tượng có thật và phổ biến.
Vài năm nay, hàng nghìn giấy phép con được cắt giảm ở khắp các bộ ngành. Câu hỏi đặt ra: ai chịu trách nhiệm cho việc chúng ra đời từ đầu, và sự tồn tại của chúng đã gây ra những hệ lụy gì rồi?
Tôi lo ngại chuyện nghĩ ngọng hơn nói ngọng, là vì nói ngọng suy cho cùng chỉ là câu chuyện cá nhân. Một người nói ngọng vẫn có thể có cuộc sống hạnh phúc như thường. Nhưng nếu nghĩ ngọng, đặc biệt là ở những người chịu trách nhiệm soạn thảo pháp luật và ban hành chính sách, thì câu chuyện không còn là của cá nhân, mà là thảm họa chung, là lực cản phát triển của xã hội.
Vậy nên, song song với việc sửa lỗi phát âm, nôm na gọi là sửa tật nói ngọng cho giáo viên, còn phải nghĩ đến việc sửa tật "nghĩ ngọng" không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà trong mọi lĩnh vực khác, đặc biệt trong việc ban hành chính sách và pháp luật.
Giáp Văn Dương
Chữa ngọng
Trong lớp học tiếng Anh của tôi ở Hà Nội vài năm trước, có học viên đọc từ “light” (ánh sáng) là “night” (đêm tối). Nghĩa của từ thay đổi hoàn toàn. Người Việt có thể suy đoán, còn cộng đồng nói tiếng Anh trên thế giới thì bất khả giao tiếp với kiểu nhầm lẫn này. Tôi luôn hướng dẫn các em cách đặt lưỡi như thế nào cho đúng, chứ không cười nhạo bao giờ. Tôi xem đó là ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương, chứ không phải là nói ngọng.
Ngọng là gì? Theo tôi, là khi một người phát âm chưa chuẩn một cách có hệ thống một âm nào đó, khác với số đông xung quanh hay khác một cộng đồng. Gọi là "có hệ thống" vì cái sai ấy áp dụng cho tất cả các từ có chứa âm đó, chứ không phải chỉ sai một từ riêng lẻ.
Tuy nhiên, khi không phải một người, mà cả một cộng đồng phát âm sai, thì người ta không gọi là ngọng. Họ gọi đó là ngôn ngữ địa phương, hay phương ngữ. Một số tỉnh miền Tây Nam Bộ, người dân đọc r thành g, ắt thành ắc, v thành d. "Bắc con cá gô bỏ dô gổ" thay vì "Bắt con cá rô bỏ vô rổ". Một số nơi khác, ôi đọc là âu, tức "bà nội" thì đọc là "bà nậu". Người miền Nam nói chung thường đọc âm "dz" thay cho cả v và gi, "vui vẻ" thành "dzui dzẻ"; cũng không phân biệt dấu hỏi và dấu ngã trong phát âm. Một số bạn bè tôi người miền Trung đọc âm oang thành oan, như "Ngọc Hoàng" thành "Ngọc Hoàn"; hay am thành ôm, như "đi làm" thành "đi lồm". Tương tự, một số tỉnh miền Bắc đọc nhầm l và n, hay ưu đọc là iu; "uống rượu" đọc là "uống rịu"... Phương ngữ ở Việt Nam thật sự rất nhiều, khó mà kể hết.
Người ta có thể nói một cá nhân nói ngọng, nhưng không thể nói cả một tỉnh nói ngọng. Và ngọng hay không, có khi đơn giản chỉ là chúng ta dùng một hệ quy chiếu này để đánh giá đối tượng ở một hệ quy chiếu khác. Trước khi Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội, phát âm l, n của dân Hà Tây không được nhìn nhận là một vấn đề. Nhưng nay khi là một phần Hà Nội, thứ phương ngữ đó được coi là là "nói ngọng".
Con người tiếp thu ngôn ngữ từ những người xung quanh, trong đó có phát âm. Vì thế, thay đổi cách phát âm cho một cộng đồng dường như bất khả thi. Người ta có thể được hướng dẫn cách sắp xếp các cơ quan phát âm như lưỡi, răng, môi sao cho đúng, đọc đúng một số từ trong lớp học chữa ngọng. Nhưng sau những giờ học đó, người ta dễ dàng quay lại cách phát âm quen thuộc trước đây, đặc biệt là khi tất cả mọi người xung quanh đều phát âm "sai". Khi đó, người phát âm "đúng" lại trở thành người nói ngọng. Sự thật là, khi tất cả mọi người đều phát âm như nhau, họ có cảm giác dễ chịu hơn, hiểu nhau hơn khi giao tiếp.
Bạn thân của tôi, Nam, quê ở Nam Định, chuyển vào TP HCM sống từ năm lớp Bảy. Cả gia đình bạn vốn phát âm l thành n, như "đừng lo lắng" thì thành "đừng no nắng". Đến khi trở thành sinh viên Đại học Bách Khoa TP HCM, Nam tham dự một lớp dẫn chương trình. Các bạn cùng lớp nhận xét: "Nói vậy nghe kỳ sao sao á". Nam bảo: "Tôi quyết sửa". Cậu nhờ các bạn trong lớp chỉnh giùm mỗi khi nói ra từ đó. Dần dần, sau một năm, tự chủ động rèn phát âm, Nam gần như không còn nhầm nữa. Nói "gần như" là bởi vì Nam đã sửa phát âm l, n được trong ý thức, chứ sự thay đổi chưa đi vào tiềm thức, nên đôi khi cậu viết đúng nhưng nói vẫn nhầm hai âm đó; hoặc khi nói vội, phản ứng nhanh, quên mất thì vẫn nói ngọng. Song, qua Nam, tôi tin rằng khi có mục tiêu rõ ràng và bản thân cảm thấy cần thiết, người ta sẽ tự tìm cách chữa phát âm cho mình.
"Mục tiêu rõ ràng và cảm thấy cần thiết" xuất hiện trong ba trường hợp. Thứ nhất, những người nói chuyện trước công chúng, bao gồm cả quan chức, chính trị gia, giáo viên, người dẫn chương trình, người chuyển tải thông tin trên các kênh truyền thông đại chúng... Bởi với tính chất công việc, thông điệp họ chuyển tải đi cần rõ ràng, mạch lạc, và phát âm đúng là điều kiện cần thiết.
Thứ hai, những người gặp khó khăn trong việc giao tiếp với người khác, nhất là khi họ di chuyển ra khỏi cộng đồng quen thuộc. Khi phương ngữ của chúng ta khác đa số khiến chất lượng sống, công việc và học tập đều bị ảnh hưởng, thì việc thay đổi cách phát âm sẽ giúp chúng ta hòa nhập tốt hơn. Rất nhiều bạn tôi có thể nói được hai giọng: một giọng hòa nhập với cộng đồng sinh sống mới, và một giọng địa phương của mình.
Thứ ba là người bắt đầu học một ngôn ngữ có hệ thống, ví dụ như tiếng Việt cho các em tiểu học và tiếng Anh với số đông người Việt Nam. "Night" không thể là "light".
Hai trong số ba trường hợp trên có thể thực hiện ở góc độ cá nhân mỗi người. Riêng về việc học tiếng trong nhà trường, với kinh nghiệm của tôi, giáo viên và học sinh có thể sử dụng những chiến thuật khác để tránh viết sai chính tả mà vẫn giữ được phương ngữ của mình. Khái niệm "nờ cao" hay "nờ thấp" để giúp phân biệt l và n là một loại "chiến thuật" cơ bản và nhiều người đều biết. Một cách nữa là luôn chú ý tra từ điển khi viết nếu có nghi ngờ. Với Internet, các từ điển tiếng Việt trực tuyến miễn phí hiện đều có thể truy cập bất kể lúc nào.
Ngoài ra, đọc nhiều sách vở để quen với mặt chữ cũng như rèn viết chính tả là điều cần thiết. Người miền Nam dù phát âm d chung cho d, v, gi, nhưng khi viết vẫn viết đúng "vui vẻ" thay vì "dui dẻ", cũng như người miền Bắc vẫn viết đúng "da dẻ" thay vì "gia giẻ", nếu họ đọc đủ nhiều.
Thay vì cố gắng thay đổi thói quen phát âm của tất cả mọi người, hoặc gán nó với mục tiêu có vẻ khiên cưỡng là "gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt", tôi tự hỏi liệu chúng ta có thể tôn trọng phương ngữ như một sự đa dạng của ngôn ngữ dân tộc? Khi tiếp cận việc sửa phát âm như những chiến thuật để ghi nhớ trong các tình huống cần thiết, chứ không phải là cố gắng phủ nhận sạch trơn cách phát âm cũ, ta có thể thu được những kết quả tích cực hơn trong cái gọi là "chữa ngọng"?
Nguyễn Lừng Danh
Ngọng 'l, n' rất khó sửa vì người thân, dân làng ai cũng nói
Bộ trưởng giáo duc gố Hoa Phùng ính áng chuên nói Người lớn nói nhầm lẫn "l, n", trẻ em học nói theo nên muốn sửa "ngọng" là việc rất khó.
Làng tôi chuyên nói ngọng /l/ và /n/. Bản thân tôi cũng nói ngọng, nhưng viết chính tả không bao giờ nhầm.
Tôi thấy nguyên nhân khiến người ta khó sửa ngọng vì người thân, dân làng ai cũng nói ngọng và nguyên nhân chính là người bị ngọng không thể phân biệt /l/ và /n/ khi nghe người khác nói.
Người không ngọng khi nghe lý do đấy thì thấy: "Vô lý, sao lại thế, rõ ràng /l/ và /n/ phát âm rất khác nhau mà".
Trẻ em tập nói theo cách bắt chước người lớn, mà người lớn lại nói lúc thì /l/, lúc thì /n/, hên hên thì phát âm đúng, còn không thì sai, mà chính người nói cũng không biết rằng mình nói như thế đúng hay sai nữa. Lâu dần trẻ biết nói nhưng riêng khoản /l/ và /n/ thì mất phương hướng.
Hồi còn đi học có lần đứa bạn gái hỏi bố mẹ tôi làm nghề gì, tôi bảo: "Bố mẹ mình làm "lông" (nông)"- nó lại hỏi với kiểu chọc ngoáy: "Thế làm lông gà hay lông lợn?".
-Tôi bảo: "Không làm 'lông' chứ không phải làm lông. Làm ruộng ấy." Nó cười khoái trá.
Sau này lấy vợ, vợ tôi không ngọng, nói chuyện nhiều thì tôi mới hơi hơi "phát hiện" ra sự khác biệt. Khi nói chuyện, lúc chuẩn bị phát âm /l/ và /n/ tôi chủ động chậm lại uốn lưỡi cong, thẳng để chỉnh cho đúng.
Vậy nên muốn sửa ngọng rất khó, trừ khi tiếp xúc, giao tiếp liên tục mới thay đổi được, còn những cố gắng chỉnh sửa trong tiết học trên lớp thì như muối bỏ biển thôi. Nguyễn Đạt
Bộ trưởng giáo dục CSVN Phùng xính xáng chuyên nói ngọng N vs L
Nói ngọng ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành giáo dục?
ưởng đến uy tín của cả ngành giáo dục?
Bộ trưởng Giáo dục Phùng Xuân Nhạ Source: tuoitre
Tật nói ngọng gần đây đang trở nên nóng hơn khi trong buổi thảo luận về Luật giáo dục sửa đổi diễn ra vào ngày 8/11 vừa qua, một ý kiến cho rằng ‘nói ngọng ảnh hưởng đến cả uy tín của nền giáo dục” mà người đứng đầu ngành Giáo dục lại nổi tiếng với tật nói ngọng. Tuy vậy, có nên ‘kỳ thị’ tật nói ngọng không?
UPDATED
SHARE
Ảnh h hưởng đến uy tín ngành giáo dục về cần phải ‘giải quyết triệt để nếu không muốn bị cản trở nhiều thứ’.
“Ngọng là một thói quen hết sức bình thường nhưng sẽ cản trở rất nhiều thứ đối với một học sinh nếu không được sửa chữa ngay từ lúc còn đi học. Người nói ngọng thì sẽ viết ngọng, ảnh hưởng tới khả năng thuyết trình, giảng dạy và ảnh hưởng tới uy tín của cả nền giáo dục", đại biểu TP.HCM nói.
"Bây giờ có những người lớn rồi, thậm chí bằng cấp cao rồi mà vẫn viết sai do nói ngọng. Tôi đề nghị có giải pháp để giải quyết".
Ông Phùng Xuân Nhạ “nổi tiếng” về tật nói ngọng. Tại kỳ họp Quốc hội lần này, ông Phùng Xuân Nhạ cũng là người nhận được số phiếu tín nhiệm thấp nhất trong số 48 quan chức cấp cao Việt Nam, với 137 phiếu tín nhiệm thấp (28,25%).
Việc xóa nói ngọng đã được đề cập cách đây nhiều năm. Từ năm 2010, tại Hà Nội đã có chương trình luyện phát âm, viết đúng chính tả hau phụ âm l, n cho một số huyện ngoại thành có giáo viên, học sinh nói ngọng. Tuy nhiên, theo nhiều đánh giá, việc xóa nói ngọng cần triển khai bài bản và phải có chuẩn chung.
Và đây cũng không phải lần đầu tiên việc nói ngọng được đưa lên bàn nghị sự của Quốc hội. Tại kỳ trả lời chất vấn tại Quốc hội hồi tháng 6, vấn đề phát âm cũng đã được các đại biểu Quốc Hội đặt ra cho ông Nhạ, bên cạnh những vấn đề lớn của ngành giáo dục như “chuẩn giả”, học tủ, học lệch…
Có nên ‘kỳ thị’ nói ngọng?
Theo đại biểu Trương Trọng Nghĩa, tật nói ngọng dù rất nhỏ nhưng không nên xem thường.
“Từ trước tới nay trong nhà trường khâu học nói hay bị bỏ qua, trong khi việc này phải làm ngay từ mẫu giáo tới phổ thông thì mới có thể sửa được những học sinh nói ngọng.”
Một trường phổ thông ở Hà Nội cho biết họ không tuyển giáo viên nói ngọng. Hiệu trưởng Nguyễn Quốc Bình của trường Lê Qúy Đôn nói nhà trường gặp không ít giáo viên nói ngọng l, n trong quá trình ứng tuyển.
“Giáo viên nói ngọng thì khi giảng bài sẽ khiến học sinh có ấn tượng không tốt về người thầy, ảnh hưởng đến môi trường giáo dục.”
Việc nói ngọng là do thói quen và bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh ngay từ khi còn bé khi người nhà nói ngọng, lúc mẫu giáo đi học gặp thầy cô nói ngọng, từ đó đứa trẻ sẽ hình thành thói quen nói ngọng và rất khó sửa chữa nếu không tự có nhận thức phải sửa đổi.
Tuy nhiên phân tích ở góc độ tâm lý, TS Nguyễn Tùng Lâm, chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Hà Nội cho rằng, “tật nói ngọng thường hình thành từ thói quen ngôn ngữ, phát âm mang tính địa phương. Nếu có sự kỳ thị, thậm chí là miệt thị thì họ sẽ rất lúng tung, tự ti và càng dễ mắc lỗi phát âm”.