Moody's hạ triển vọng tín nhiệm của Việt Nam vì CS quản lý kinh tế yếu kém, tham nhũng bòn vét tài nguyên đất nước
20.12.2019 20:28
Cho rằng, việc Chính phủ chậm trả nghĩa vụ nợ gián tiếp "là sự yếu kém về thể chế, quản trị hơn là tài chính", Moody's hạ triển vọng Việt Nam xuống Tiêu cực.
Ngày 18/12, Moody's thông báo điều chỉnh triển vọng xuống Tiêu cực, kết thúc thời gian đưa hồ sơ tín dụng của Việt Nam vào diện theo dõi hạ bậc kể từ ngày 9/10. Cơ sở Moody’s đưa ra quyết định này là nhận định vẫn tiềm ẩn rủi ro chậm trả nghĩa vụ nợ gián tiếp của Chính phủ, trong bối cảnh chưa có những giải pháp rõ ràng để cải thiện công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan, cũng như tăng cường tính minh bạch về quản lý nợ được Chính phủ bảo lãnh.
Logo của Moody's bên ngoài trụ sở tại New York, Mỹ. Ảnh: Reuters.
Theo đánh giá của tổ chức này, các khoản thanh toán chậm phản ánh vấn đề về mặt hành chính hơn là sự yếu kém về tài chính. Việc thanh toán bị trì hoãn cho thấy điểm yếu về thể chế và quản trị, bao gồm vấn đề về các thủ tục hành chính phức tạp cản trở việc thanh toán kịp thời và suôn sẻ.
Tuy nhiên, Moody's giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam ở mức Ba3 với các khoản phát hành bằng đồng nội tệ, ngoại tệ và các khoản vay cao cấp không được bảo đảm. Trần tín nhiệm với trái phiếu dài hạn phát hành bằng ngoại tệ vẫn được giữ nguyên ở Ba1. Mức tín nhiệm tối đa với tiền gửi và trái phiếu bằng nội tệ vẫn là Baa3.
Trong khi đó, xếp hạng tín nhiệm Ba3 với Việt Nam được Moody's đưa ra căn cứ vào tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ, sự đa dạng hóa kinh tế, hỗ trợ khả năng hấp thụ các cú sốc của của Việt Nam, bao gồm cả sự chậm lại kéo dài trong thương mại toàn cầu. Moody's dự kiến gánh nặng nợ trực tiếp của chính phủ cũng sẽ giảm dần, xuống còn khoảng 48% GDP vào năm 2020, từ mức gần 53% trong năm 2016. Với khía cạnh rủi ro, mặc dù sức khỏe tài chính của các ngân hàng Việt Nam đã được cải thiện trong những năm gần đây, họ cho rằng hệ thống ngân hàng vẫn là nguồn rủi ro chính với Việt Nam.
Phản ứng sau đó, Bộ Tài chính của Việt Nam cho rằng Moody’s hạ triển vọng tín nhiệm chỉ dựa trên sự việc riêng lẻ với nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ mà bỏ qua thành tựu toàn diện trong phát triển kinh tế - xã hội, là "không xác đáng". Cơ quan này cũng nhìn nhận, tín hiệu của Moody’s đưa ra về việc tiếp tục theo dõi hồ sơ tín dụng của Việt Nam (với triển vọng Tiêu cực) "không tương xứng" với nỗ lực của Chính phủ nhằm cải thiện công tác phối hợp hành chính trong việc thanh toán nghĩa vụ nợ dự phòng, đảm bảo không gây tổn thất cho bên cho vay.
Bộ cũng dẫn chứng việc Chính phủ Việt Nam luôn chủ động thực hiện trách nhiệm bảo lãnh thanh toán, ngay cả khi chưa nhận được yêu cầu chính thức của bên cho vay.
Cơ quan này cho biết, để việc chậm trả nợ Chính phủ bảo lãnh không phát sinh nữa, Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ Tài chính, các bộ, ngành và cơ quan liên quan đảm bảo bố trí nguồn và thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Cơ quan này cũng nêu mục tiêu của Việt Nam thời gian tới là củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh cải cách thể chế... để một mặt đảm bảo khả năng trả nợ, duy trì bền vững nợ công và an ninh tài chính quốc gia trong khi vẫn đảm bảo nguồn lực để phát triển. Nguyễn Hà - Minh Sơn
Moody’s có thể hạ tín nhiệm 17 ngân hàng Việt
Tín nhiệm quốc gia là yếu tố chính ảnh hưởng đến xếp hạng của Moody’s với các ngân hàng Việt Nam.
Hãng đánh giá tín nhiệm Moody’s vừa thông báo sẽ xem xét hạ xếp hạng của 17 ngân hàng Việt. Thông báo này được đưa ra chỉ một ngày sau khi hãng cho biết xem xét hạ xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam, hiện ở mức Ba3.
Dù vậy, Moody’s nhấn mạnh động thái với các nhà băng không nhằm phản ánh sức khỏe tài chính của các ngân hàng này yếu đi. Nó hoàn toàn chịu ảnh hưởng từ quyết định của Moody’s với tín nhiệm quốc gia của Việt Nam.
Giao dịch tại một ngân hàng ở Việt Nam. Ảnh: Anh Tú
17 nhà băng chịu ảnh hưởng là Ngân hàng An Bình (ABB), Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Phát triển TP Hồ Chí Minh (HDBank), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, Ngân hàng Quân đội (MB), Ngân hàng Nam Á, Ngân hàng Phương Đông (OCB), Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Ngân hàng Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB), Ngân hàng Công Thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng Hàng hải Việt Nam (MSB), Ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng (VP Bank) và Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank).
Trong đó, 4 nhà băng còn bị xem xét hạ Xếp hạng tín nhiệm cơ sở (BCA) và BCA đã điều chỉnh. 9 ngân hàng bị cân nhắc hạ Đánh giá rủi ro đối tác (CR Assessments) dài hạn.
Tín nhiệm quốc gia là yếu tố chính ảnh hưởng đến xếp hạng của Moody’s với các ngân hàng Việt Nam. Do nó sẽ quyết định đánh giá của Moody’s về khả năng chính phủ hỗ trợ các ngân hàng trong thời kỳ khó khăn. Nếu tín nhiệm quốc gia bị hạ, chính phủ sẽ khó hỗ trợ các nhà băng, từ đó khiến tín nhiệm một số ngân hàng thấp đi.
Bên cạnh đó, trong trường hợp BCA hoặc tín nhiệm dài hạn của các ngân hàng hiện bằng tín nhiệm quốc gia hoặc đã chạm trần, Moody’s cũng sẽ phải hạ các đánh giá này xuống để đảm bảo tính tương xứng.
Vì thế, tác động của tín nhiệm quốc gia với các nhà băng sẽ khác nhau. Các ngân hàng quốc doanh, gồm Vietcombank, VietinBank, Agribank và BIDV sẽ bị đánh giá lại về xếp hạng tiền gửi bằng nội tệ dài hạn và nhà phát hành nợ ngoại tệ và nội tệ. Do các nhà băng này đang có cùng mức tín nhiệm với quốc gia.
Với các ngân hàng tư nhân như ACB, MB và Techcombank, các xếp hạng bị xem xét lại là BCA, tín nhiệm tiền gửi bằng nội tệ dài hạn và nhà phát hành nợ bằng nội tệ/ngoại tệ, do hiện cùng hạng với quốc gia. Trong khi đó, đánh giá với ABB, OCB, TPBank, VIB và VP Bank chỉ giới hạn tại xếp hạng tiền gửi bằng ngoại tệ.
Moody’s cho biết họ có thể giữ nguyên xếp hạng của 17 nhà băng trên với triển vọng ổn định, nếu tín nhiệm của Việt Nam cũng được giữ ở Ba3 với triển vọng tương tự. Ngược lại, Moody’s sẽ hạ xếp hạng và đánh giá của các nhà băng này nếu tín nhiệm của Việt Nam đi xuống.
Hà Thu
Việt Nam bị hạ triển vọng tín nhiệm, Thủ tướng yêu cầu kiểm điểm
Ngay sau khi Moody's hạ triển vọng tín nhiệm của Việt Nam, Tổ công tác của Thủ tướng làm việc với các bộ, cơ quan liên quan trong việc chậm thanh toán, trả nợ nước ngoài.
Chiều 20/12, Tổ công tác của Thủ tướng do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ Mai Tiến Dũng chủ trì làm việc với các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải và các bộ, cơ quan: Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nội dung làm việc liên quan đến trách nhiệm trong việc chậm thanh toán, trả nợ nước ngoài đối với các dự án La Sơn - Túy Loan, Quốc lộ 20 và Thủy điện Hồi Xuân.
“Phải nói rằng đây là trách nhiệm rất lớn. Thủ tướng rất không hài lòng, yêu cầu kiểm điểm tập thể, cá nhân liên quan, làm rõ trách nhiệm để báo cáo Chính phủ và Thủ tướng”, Tổ trưởng Tổ công tác Mai Tiến Dũng nêu rõ.
Tổ trưởng Tổ công tác Mai Tiến Dũng trong buổi làm việc ngày 20/12. Ảnh: Nhật Bắc/VGP.
Trước đó, Thủ tướng đã có nhiều văn bản chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ trong việc thanh toán trả nợ cho bên cho vay nước ngoài, không để xảy ra tình trạng trả nợ chậm làm ảnh hưởng tiêu cực đến hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Thủ tướng cũng đã ban hành các quyết định cho phép ứng quỹ tích lũy trả nợ để thanh toán.
Về việc xử lý thư của Ngân hàng Thế giới (WB) gửi Bộ Tài chính đề xuất 3 phương án về trả nợ nhanh IDA của các bộ, ngay sau khi nhận được thông tin, Thủ tướng đã có ngay ý kiến chỉ đạo để Bộ Tài chính thông báo cho WB. Nếu không xử lý kịp thời, việc này có thể có ảnh hưởng lớn hơn nữa.
Tại buổi làm việc, các bộ, cơ quan đã báo cáo về công tác quản lý vay và trả nợ nước ngoài; giải trình cụ thể nguyên nhân việc chậm thanh toán, trả nợ nước ngoài với một số dự án nêu trên; các khó khăn, vướng mắc và kiến nghị, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý vay và trả nợ nước ngoài, việc khắc phục triệt để tình trạng chậm thanh toán, trả nợ nước ngoài.
Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Mai Tiến Dũng nhấn mạnh tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng là minh bạch thông tin, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh kịp thời.
Trước hết, việc chậm trễ là do trách nhiệm của các cơ quan khi không thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng và Phó thủ tướng Vương Đình Huệ, chậm xử lý, báo cáo kịp thời các vấn đề phát sinh, thậm chí đến hạn trả nợ mới báo cáo.
Như khi xử lý thư của WB được gửi vào tháng 6, đề nghị thời hạn cho Việt Nam trả lời trước 30/11 nhưng tới 5/12, Bộ Tài chính mới có văn bản trình Thủ tướng.
“Lãnh đạo Chính phủ đã có chỉ đạo rất sớm, nêu rõ trách nhiệm các Bộ nhưng thực hiện chưa nghiêm. Nhiệm kỳ này, việc bảo lãnh Chính phủ đã chặt chẽ hơn nhiều, nhưng với các dự án đã bảo lãnh thì phải bảo đảm trách nhiệm trả nợ”, Tổ trưởng Tổ công tác nhấn mạnh.
Cùng với đó, các bộ phải nhận thiếu sót trước Thủ tướng về sự phối hợp thiếu nhịp nhàng, chặt chẽ, tích cực, trả lời không đúng hạn khi được lấy ý kiến.
“Khi thiếu nguồn thanh toán lãi vay cho dự án nào thì Bộ GTVT phải làm việc cụ thể với Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư để bố trí nguồn. Bộ GTVT chịu trách nhiệm chính với dự án đó”, Tổ trưởng Tổ công tác nói.
Sắp tới, các bộ cũng cần báo cáo thêm với Thủ tướng về các phương bố trí nguồn vốn cho việc trả nợ.
“Phải xử lý tốt từng việc cụ thể để không ảnh hưởng đến tình hình chung. Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng, cái gì đã làm tốt thì phát huy, những gì chưa tốt thì các cơ quan phải rút kinh nghiệm, khắc phục, không để lặp lại việc tương tự”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.
Chậm trả nợ, Việt Nam bị Moody’s ‘hạ điểm tín nhiệm’
Cảng Hải Phòng, miền Bắc Việt Nam. Hàng hóa xuất cảng của Việt Nam, chủ yếu vẫn là để trả nợ cho nước ngoài. (Hình: Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Với việc chậm trả nợ bởi sự “yếu kém về thể chế, quản trị hơn là tài chính” của chính phủ CSVN, Tổ Chức Xếp Hạng Tín Nhiệm Moody’s Investors Service (Moody’s) đã hạ triển vọng Việt Nam xuống mức “Tiêu cực.”
Theo báo VNExpress, ngày 18 Tháng Mười Hai, 2019, Moody’s, một tổ chức chuyên cung cấp cho quốc tế những nghiên cứu tài chính về tín dụng bởi các cơ quan chính phủ hoặc thương mại, đã thông báo điều chỉnh triển vọng xuống mức “Tiêu cực,” kết thúc thời gian đưa hồ sơ tín dụng của Việt Nam vào diện theo dõi hạ bậc kể từ ngày 9 Tháng Mười, 2019.
Cơ sở để Moody’s đưa ra quyết định này là nhận định “vẫn tiềm ẩn rủi ro chậm trả nghĩa vụ nợ gián tiếp của chính phủ (CSVN), trong bối cảnh chưa có những giải pháp rõ ràng để cải thiện công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan, cũng như tăng cường tính minh bạch về quản lý nợ được chính phủ bảo lãnh.”
Theo đánh giá của Moody’s, “Việt Nam không có kế hoạch hiệu quả để quản lý các khoản nợ, các khoản thanh toán chậm phản ánh vấn đề về mặt hành chính hơn là sự yếu kém về tài chính.”
Moody’s dự kiến gánh nặng nợ trực tiếp của chính phủ CSVN cũng sẽ giảm dần, xuống còn khoảng 48% GDP vào năm 2020, từ mức gần 53% trong năm 2016. Song, hệ thống ngân hàng vẫn là nguồn rủi ro chính với Việt Nam.
Phản ứng sau đó, Bộ Tài Chính cho rằng Moody’s hạ triển vọng tín nhiệm chỉ dựa trên sự việc riêng lẻ với nghĩa vụ nợ dự phòng của chính phủ mà bỏ qua thành tựu toàn diện trong phát triển kinh tế-xã hội, là “không xác đáng.”
Bộ Tài Chính còn cho rằng, tín hiệu của Moody’s đưa ra về việc tiếp tục theo dõi hồ sơ tín dụng của Việt Nam (với triển vọng “Tiêu cực”) “không tương xứng” với nỗ lực của chính phủ “nhằm cải thiện công tác phối hợp hành chính trong việc thanh toán nghĩa vụ nợ dự phòng, bảo đảm không gây tổn thất cho bên cho vay.”
Bộ này cũng dẫn chứng việc chính phủ CSVN “luôn chủ động” thực hiện trách nhiệm bảo lãnh thanh toán, ngay cả khi chưa nhận được yêu cầu chính thức của bên cho vay.
“Chính phủ Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết với các đối tác phát triển và tổ chức tài chính quốc tế,” Bộ Tài Chính khẳng định.
Báo VietNamNet cho biết theo tính toán của Bộ Tài Chính, tỉ lệ nợ công trên GDP dự kiến giảm từ 58.4% xuống còn 56.1% từ năm 2018 đến 2019.
Dù nợ công so với GDP có giảm, song khả năng trả nợ lại là cả một vấn đề. Báo cáo của chính phủ CSVN cho thấy năm 2018 phải trả tổng cộng khoảng 250 ngàn tỷ đồng ($10.78 tỷ). Trong đó, trả nợ trong nước là gần 200 ngàn tỷ đồng ($8.62 tỷ) với non nửa là để trả lãi. Còn trả nợ ngoại quốc là hơn 51 ngàn tỷ đồng ($2.19 tỷ).
Tiến Sĩ Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia tài chính ngân hàng tại Việt Nam, trong một bài trả lời phỏng vấn báo Nhà Đầu Tư đã khuyến cáo chính phủ CSVN cần kiểm soát chặt chẽ hơn việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp tư nhân ra ngoại quốc, vì đây là nợ quốc gia dù không được tính vào nợ công.
Theo đó, các doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra quốc tế đều phải thông qua Ngân Hàng Nhà Nước, nên nơi đây “phải là cơ quan đầu mối tập hợp, kiểm soát con số nợ này.” (Tr.N)
Trần Nguyên Thao (Danlambao) - CSVN sống còn một phần nhờ kiều hối đổ vào Việt Nam hàng năm. Tuy nhiên, hai hiện tượng: phát hành trái phiếu bừa bãi và không trả nợ quốc tế đúng hẹn sẽ là “vết nứt” ăn sâu vào khối u trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, mở đầu cho tiến trình khủng hoảng tài chính. Với chức Chủ Tịch luân phiên khối ASEAN vào năm tới, sẽ mở ra cho CSVN cơ hội, dựa vào trật tự thế giới mới, can đảm đứng về phía dân chúng thoát khỏi vòng kiểm tỏa kinh tế lẫn chính trị từ Hoa Lục. Nếu không, Việt Nam ngày càng phải chịu đựng nhiều hơn những vụ như bãi Tư Chính mới đây. Mà các cuộc gây chiến xâm lăng đất liền, biển đảo vào những năm 1974 (Hoàng Sa), 1979 (Biên thùy phía Bắc) và 1988 (Gạc Ma) đã biểu hiện rõ dã tâm xâm lược muôn đời từ phương Bắc.
Bằng vào các diễn biến tài chính, số liệu của Liên Hiệp Quốc và của chính báo chí do CSVN kiểm soát sẽ trình bày dưới đây, giúp độc giả có khái niệm về tiền vào, tiền ra nơi chế độ tàn ngược dựa vào lọc lừa để ăn cắp của công:
Việt Nam là nước có lượng kiều hối vào hạng “top ten” trên thế giới. Năm 2019, Việt Nam nhận gần 17 tỷ Mỹ Kim, chiếm 8% GDP, trong khoảng 205 tỷ Mỹ Kim GDP, theo số liệu Liên Hiệp Quốc.
Ngoài đường chuyển lậu, rửa tiền, Mỹ Kim chảy ra khỏi Việt Nam nhiều cách khác nhau: phần lớn là do quan tham có tiền cho con du học, mua nhà nước ngoài; chương trình ra đi theo dạng đầu tư EB-5 hay E-2; đầu tư chính thức bị thua lỗ; và nhập siêu, tức bỏ ngoại tệ ra mua hàng vào nhiều hơn là thu về do bán được hàng.
Trong 9 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là 194,3 tỷ Mỹ Kim, nhập khẩu là 188,42 tỷ Mỹ Kim. Vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước là 382,72 Mỹ Kim. Nếu xuất khẩu cả nước là 194,3 tỷ Mỹ kim (trừ) cho 188,42 tỷ Mỹ Kim nhập khẩu thì Việt Nam xuất siêu gần 6 tỷ Mỹ Kim. Nhưng doanh nghiệp FDI 100% vốn ngoại quốc chiếm gần 70% cho nên số Mỹ Kim sai biệt họ được quyền chuyển về “cố quốc” theo luật đầu tư.
Doanh nghiệp Việt Nam chiếm 37% trong con số 382,72 tỷ (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu) sẽ là 141,6 Mỹ Kim. Doanh nghiệp Việt Nam bán hàng (xuất khẩu) được 58 tỷ Mỹ Kim; còn lại 83,6 tỷ là tiền mua hàng (nhập khẩu). Phần doanh nghiệp Việt Nam mua nhiều hơn bán là 25,6 tỷ Mỹ Kim. Tức là trong 9 tháng Việt Nam để nằm lại ngân hàng nước ngoài 25,6 tỷ Mỹ Kim. Vậy 12 tháng, nếu không đột biến, số ngoại tệ nằm lại bên ngoài là 34.1 tỷ Mỹ kim (25,6: 9 x 12=34.1). Trường hợp này không biết có bao nhiêu trăm triệu Mỹ Kim khai là “hóa đơn tính sai” hay các lô hàng đã mua trước đó, nay bị “cancel”, rồi chuyển số tiền tương đương vào tài khoản riêng của nhà nhập cảng ở ngoại quốc.
Hôm 18 tháng 11, Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross bày tỏ “quan ngại” ngay tại Hà Nội về mức thâm hụt thương mại lên tới 40 tỷ Mỹ Kim với Việt Nam. Thực tế này cho thấy, hàng từ Việt Nam xuất cảng sang Mỹ tăng đáng kể, nhưng nếu bán sản phẩm thuộc doanh nghiệp FDI, thì tiền vào túi người ngoài. Báo lề trái còn tố cáo đảng csVN thiếu năng lực điều hành kinh tế, đã để cho nhiều công ty ngoại quốc khai lỗ liên tục tránh khỏi nộp thuế cho Việt Nam.
Năm 2018, theo báo Soha, người Việt trong nước chi ra khoảng 3 tỷ Mỹ Kim mua nhà ở Mỹ; 3-4 tỷ Mỹ Kim cấp tiền cho con đi học ngoại quốc, phần lớn là ở Mỹ và các nước tân tiến Tây phương. Tính chung 2 khoản tiền là từ 6-7 tỷ Mỹ Kim.
Đa số tham quan của chế độ toan tính sẽ “hạ cánh an toàn” để cùng với thân quyến định cư tại Canada hoặc Mỹ. Tại Mỹ ban đầu nếu có 500 ngàn Mỹ Kim thì được vào Mỹ qua chương trình EB-5. Nhưng từ tháng 11 năm nay EB-5 tăng lên 900 ngàn đến gần 2 triệu Mỹ Kim. Mỗi năm có 700 hồ sơ được chấp thuận. Số hồ sơ EB-5 đang chờ được cứu xét gần gấp đôi số “qouta” ấn định. Năm 2005 chỉ có 332 hồ sơ, nhưng đến năm 2012 tăng lên 12.400 hồ sơ.
Do tình trạng nhiều người chờ đợi chưa được chương trinh EB-5 phỏng vấn, họ nóng lòng bỏ Việt Nam, nên chuyển sang chương trình E-2, với số tiền đầu tư khởi đầu chỉ cần 200 ngàn, nhưng kinh doanh buộc phải có lời mới được gia hạn ở lại Mỹ [1].
Tại Canada, chính quyền địa phương đòi các nhà đầu tư phải chứng minh khoản đầu tư trên 1.000.000 CAD, và chứng minh được tài sản có giá trị trên 1.600.000 CAD để đảm bảo cuộc sống tại đất nước này. Kết thúc vào năm 2020, Canada sẽ nhận mỗi năm 2000 người cho cả 4 tỉnh là New Brunswick, Prince Edward Island, Nova Scotia, Newfoundland & Labrador.
Ngoại tệ đã đi theo hàng chục ngàn hồ sơ xin định cư tại nhiều quốc gia Tây Âu diễn ra nhiều năm nay với số lượng không thể kiểm chứng.
Chỉ năm 2018, 19 Doanh Nghiệp Quốc Doanh dùng 5,8 tỷ Mỹ Kim đầu tư ra nước ngoài lỗ mất trắng 367 triệu Mỹ Kim, tăng 265% so với năm 2017 [2].
Như vậy, trong năm nay, chỉ có đường kiều hối là rót vào 16,7 tỷ Mỹ Kim, đường thương mại chảy ra 34,1 tỷ Mỹ Kim, đầu tư du học 3 tỷ Mỹ Kim, mua nhà Mỹ 3 tỷ Mỹ Kim. Vậy năm 2019 ngoại tệ từ trong nước chảy ra nước ngoài hết 40,1 tỷ Mỹ Kim. Chưa kể 700 hồ sơ EB5 và hàng ngàn hồ sơ E-2. CSVN khoe có ngoại tệ dự trữ khoảng 70 tỷ Mỹ Kim. Nếu đúng, thì chi tiêu được bao lâu?
Vì thiếu tiền, không trả nợ đúng hẹn, CSVN đã bị Moody’s hạ thấp mức tín nhiệm xuống hạng 3B. Một ngày sau (11/10), Moody’s lại giáng nhát búa khác “hạ mức tín nhiệm 17 Ngân hàng Thương Mại Việt Nam (NHTM)”.
Như vậy định chế lượng giá tài chính quốc tế có 110 năm tuổi trong chuyên ngành đã nhìn thấy “rủi ro vỡ nợ tăng cao trong ngành tài chính Việt Nam”, nên họ có bổn phận phải cảnh báo đúng thời điểm cho các nhà đầu tư biết trước những nguy hiểm gần kề trong khối ngân hàng của Việt cộng.
Các chuyên gia tài chính giải thích: “Không chỉ Moody’s mà các hãng xếp hạng tín nhiệm uy tín khác trên thế giới như Standard & Poor’s (S&P) cũng coi nghĩa vụ nợ dự phòng là một “bộ phận khăng khít” trong sự đánh giá tổng thể tín nhiệm quốc gia của họ. Do đó, chúng ta cần chấp nhận một thực tế rằng, khi đã không trả nợ đúng và đầy đủ một khoản nợ dự phòng phát sinh thành nghĩa vụ thật nào đó, thì sẽ bị đánh giá là vỡ nợ, mất khả năng thanh toán, hoặc không muốn thanh toán”.
Trong số 17 ngân hàng bị Moody’s “chiếu tướng” có 4 ngân hàng quốc doanh gồm:Agribank, Vietinbank, Vietcombank và BIDV. Ngoài ra, nhiều ngân hàng thương mại tư nhân cỡ lớn hiện nay cũng nằm trong danh sách bị xem xét hạ mức tín nhiệm: MBBank, ACB, Techcombank, VPBank.
Trong năm nay, CSVN dự trù bán 18 doanh nghiệp quốc doanh; đến hết nửa năm mới được có 1. Có thể các quan tham muốn giữ lại số doanh nghiệp này để chia chác, hoặc là các doanh nghiệp này chả còn giá trị gì, nhà đầu tư không ngó tới(?) [3]
Giới tài chính tố cáo, bán doanh nghiệp không thành công, CSVN quay ra in mỗi năm trung bình 2 triệu tỷ đồng để mua Mỹ Kim, quý kim dân chúng đang cất giấu và phát hành trái phiếu.
Nếu bán hết được Ngân hàng và doanh nghiệp quốc doanh thì CSVN có tiền, nhưng lại rơi vào phá sản lý thuyết Karl Marx; mất quyền kiểm soát kinh tế và lãi xuất ngân hàng, cũng đồng nghĩa phá sản “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên mưu gian của CSVN đang ló dạng: một hệ thống quyền lực kinh tế đang được xây dựng thay thế khối Doanh Nghiệp Quốc Doanh bằng hệ thống các doanh nghiệp tư nhân sân sau – trá hình dưới vỏ bọc kinh tế thị trường, hoạt động theo quy luật bí mật mà biểu hiện bên ngoài của nó là “mạnh được yếu thua”. Giới điều hành loại doanh nghiệp mới này xây dựng mối quan hệ khá keo sơn với các tay chóp bu của chế độ, gây ảnh hưởng lớn trong mọi dàn xếp nội bộ nơi giới “tinh hoa đỏ”.
Trong 8 tháng đầu năm 2019, có đến 400 đợt phát hành trái phiếu của 136 doanh nghiệp, với tổng trị giá 157.901 tỷ đồng, trong đó nhóm ngân hàng thương mại chiếm 75.936 tỷ đồng. Chỉ trong tháng 9, một số ngân hàng đã phát hành 21.071 tỷ đồng trái phiếu. Các ngân hàng BID, ACB và Việt Nam Thịnh Vượng trong nhóm phát hành trái phiếu cũng bị Moody’s hạ mức tín nhiệm![4].
Lãi xuất Trái phiếu Doanh Nghiệp (TPDN) có nơi cao đến 20%. Doanh nghiệp làm gì ra tiền để trả lãi đến 20% cho trái chủ. Chính về điểm này nên đầu tư TPDN là một rủi ro rất cao cho dân chúng và cho doanh nghiệp.
Đầu tư TPDN, nhất là ngành bất động sản tại Việt Nam đang bị cảnh giác là có rất nhiều rủi ro. Có nhiều doanh nghiệp bán trái phiếu để “đảo nợ”, cầm cố thế chấp cho ngân hàng. Lại có những doanh nghiệp thu tiền về qua trái phiếu cao gấp mấy lần tổng số tài sản của doanh nghiệp đó. Trường hợp này, nếu doanh nghiệp ôm tiền trốn thoát, thì trái chủ mất trắng số tiền bỏ ra mua trái phiếu.
Theo một nguồn tin, chưa thể kiểm chứng, Ba Đình có kế hoạch xoay cho ra 500 ngàn tỷ đồng, tương đương 21,5 tỷ Mỹ Kim để chi tiêu. Có thể tăng thuế, phí, giá điện nước... Số tiền này nếu có được vẫn không đủ đắp vào số ngoại tệ đã chảy ra ngoài.
Năm ngoái (2018), báo Thanh Niên nhìn nhận mỗi đầu người dân đã phải gánh hơn 35 triệu nợ công [5]
Với hoàn cảnh nền tài chính mang vết nứt toác ra ngay ở nền móng, trong lúc trật tự thế giới mới đang thành hình. Đại đa số dân chúng muốn thoát khỏi Hoa Lục, xích lại gần với Mỹ, nhưng Ba Đình lại muốn tiếp tục chọn lệ thuộc kinh tế, chính trị vào Bắc Kinh - hành động vô trách nhiệm, đổ hết gánh đau thương, tàn ngược trên Dân Tộc cho mãi đến thế hệ tương lai.
CafeLand - Mới đây, Bộ Tài chính cho biết Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investors Service (Moody’s) vừa xem xét hạ mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Kéo theo đó, Moody’s cho biết 17 ngân hàng của Việt Nam có thể bị đánh giá hạ mức tín nhiệm. Thông tin này đã làm cho không ít nhà đầu tư và lãnh đạo nhà nước lo lắng.
Hệ số tín nhiệm là gì?
Trên thị trường tài chính, để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay nợ thông qua trái phiếu hoặc tín dụng của các tổ chức như quốc gia hoặc doanh nghiệp thì nhà đầu tư hay người cho vay thường căn cứ vào hệ số tín nhiệm. Theo đó, hệ số tín nhiệm quốc gia hoặc doanh nghiệp là chỉ số phản ánh khả năng và sự sẵn sàng hoàn trả đúng hạn tiền gốc, lãi trong tương lai đối với danh mục nợ của một quốc gia hoặc doanh nghiệp.
Riêng đối với trường hợp doanh nghiệp hoạt động ở một quốc gia thì hệ số tín nhiệm bị ảnh hưởng bởi hệ số tín nhiệm quốc gia và cả bản thân doanh nghiệp.
Mỗi tổ chức xếp hạng tín nhiệm đều có phương pháp đánh giá, xếp hạng riêng. Tuy nhiên, nhìn chung các phương pháp đánh giá xếp hạng tín nhiệm đều dựa trên các yếu tố thể hiện sự sẵn sàng và khả năng người vay trong việc thực hiện đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ nợ.
Tín nhiệm quốc gia phụ thuộc tình hình kinh tế, chu kỳ chính trị, kinh tế và các yếu tố liên quan tới mức độ linh hoạt của chính sách tiền tệ và tài khóa. Mức tín nhiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào tín nhiệm quốc gia doanh nghiệp đó hoạt động, tình hình tài chính doanh nghiệp và mức độ minh bạch các thông tin trong báo cáo.
Hiện nay, Việt Nam được khá nhiều tổ chức định mức tín nhiệm lớn trên thế giới quan tâm xếp hạng. Trong đó, nổi bật là các tổ chức như Moody’s, Standard & Poors (S&P), Fitch Ratings (Hoa Kỳ), R&I (Nhật Bản)… Đây là những tổ chức cung cấp dịch vụ định mức tín nhiệm cho các quốc gia và doanh nghiệp.
Trước đây, Việt Nam thuê các tổ chức định mức tín nhiệm xếp hạng để huy động trái phiếu bằng ngoại tệ trên thị trường quốc tế. Lợi suất trái phiếu Việt Nam niêm yết cũng thường biến động theo mức tín nhiệm của Việt Nam. Nhiều ngân hàng và doanh nghiệp của Việt Nam cũng thuê các tổ chức định mức tín nhiệm đánh giá để làm cơ sở phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế.
Hiện nay, các tổ chức này đều đang xếp hạng tín nhiệm Việt Nam là ổn định (Stable) và tích cực (Positive) tương ứng với mức là BB. Riêng hệ thống tín nhiệm của Moody’s đánh giá tín nhiệm quốc gia Việt Nam là Ba3. Mức tín nhiệm này có nghĩa mức độ rủi ro dài hạn là đáng kể. Lần thay đổi mức tín niệm của Việt Nam gần đây nhất là vào tháng 4 năm 2019 khi S&P nâng mức tín nhiệm Việt Nam từ mức BB- lên BB với triển vọng “ổn định”.
Tại sao Moody’s lại xem xét hạ mức tín nhiệm Việt Nam?
Nguyên nhân khiến Moody’s xem xét hạ bậc xếp hạng tín nhiệm bắt nguồn từ đánh giá cho rằng, thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã có nhiều hạn chế trong công tác phối hợp giữa các cơ quan Chính phủ dẫn đến tình trạng chậm thanh toán nghĩa vụ nợ Chính phủ. Trong khi đó, Bộ Tài chính cho rằng đây là nghĩa vụ nợ được Chính phủ bảo lãnh, không phải là nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ.
Do đó, Bộ Tài chính khẳng định việc Moody's đưa Việt Nam vào diện xem xét để hạ bậc chỉ dựa trên một sự việc riêng lẻ là không phù hợp. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng khẳng định, Chính phủ chưa bao giờ chậm trễ trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ.
Như vậy, căn cứ để Moody’s xem xét hạ tín nhiệm Việt Nam không phải là các yếu tố kinh tế vĩ mô như trước đây. Trên thực tế, kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian gần đây khá ổn định với việc tăng trưởng GDP quý 3 lên đến 7,31%, tính chung 9 tháng tăng 6,98% mức cao nhất trong 9 năm gần đây. Bên cạnh GDP thì các chỉ số kinh tế vĩ mô khác của Việt Nam cũng rất tốt. Lạm phát trong 9 tháng chỉ tăng 2,5% và tỷ giá cũng ít biến động.
Đặc biệt, trong 9 tháng vừa qua, thặng dư cán cân thương mại của Việt Nam lên đến 5,9 tỉ USD. Việt Nam đang có mức dự trữ ngoại hối cao nhất lịch sử, vượt 71 tỉ USD. Do đó khả năng trả nợ bằng ngoại tệ của Việt Nam cũng rất tốt. Như vậy, rõ ràng rủi ro về vĩ mô hoặc thanh khoản của Việt Nam đang ở mức thấp. Đây cũng là lý do S&P nâng một bậc mức tín nhiệm của Việt Nam vào tháng 4 vừa qua.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc Moody’s xem xét hạn tín nhiệm Việt Nam không phải là không có cơ sở. Theo báo cáo của Chính phủ đến cuối năm 2018, tổng giá trị các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh lên tới 27,7 tỉ USD, trong đó 23,6 tỉ USD vốn vay nước ngoài. Đây là con số lớn hơn tổng trả nợ Chính phủ của Việt Nam trong năm 2018.
Báo cáo cũng cho biết, nhiều dự án được Chính phủ bảo lãnh do khó khăn về tài chính đã không có khả năng trả nợ, đang phải thanh lý tài sản để thu hồi vốn hoặc phải tái cơ cấu do nợ quá hạn cao.
Trong đó, nợ nước ngoài do Chính phủ bảo lãnh tập trung chủ yếu cho đầu tư vào ngành điện tại một số tập đoàn lớn, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (Petro Vietnam) và Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản (TKV-Vinacomin). Trong đó, EVN chiếm tỷ trọng lớn nhất trong lĩnh vực điện, chiếm 58,43%, tổng bảo lãnh trong lĩnh vực, tương đương khoảng 10 tỉ USD.
Ngoài lĩnh vực điện, Chính phủ cũng bảo lãnh cho các doanh nghiệp hàng không như Tổng công ty Hàng không Việt Nam vay nợ 1,03 tỉ USD, Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay vay nợ 297,4 triệu USD.
Vay vốn bảo lãnh Chính phủ đã lên tới 27,7 tỷ USD
Hiện nay, nhiều dự án vay nợ nước ngoài do Chính phủ bảo lãnh khả năng trả nợ rất khó khăn. Các dự án phải kể đến như nhà máy Giấy Phương Nam, dự án BT Đường cao tốc La Sơn - Túy Loan, như dự án Xi măng Thái Nguyên, Xi măng Đồng Bành, Xi măng Hạ Long. Hiện, Chính phủ phải trích hàng trăm triệu USD từ Quỹ Tích lũy trả nợ để trả nợ thay cho các dự án này.
Việt Nam sẽ ảnh hưởng ra sao nếu bị hạ mức tín nhiệm?
Trong thông cáo của mình, Bộ Tài chính bày tỏ quan ngại việc hạ mức tín nhiệm của Việt Nam có thể ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế. Trên thực tế, việc hạ mức tín nhiệm chắc chắn ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí vốn của doanh nghiệp và Chính phủ Việt Nam khi vay vốn.
Thật vậy, khi đầu tư vào trái phiếu hoặc cho vay vốn thì các nhà đầu tư xác định lợi suất yêu cầu theo mức tín nhiệm của quốc gia và doanh nghiệp. Quốc gia có mức tín nhiệm càng thấp thì nhà đầu tư sẽ yêu cầu lãi suất khi đầu tư càng cao để bù lại rủi ro đó.
Chẳng hạn với mức tín nhiệm là Ba3 hiện nay thì mức bù rủi ro quốc gia của Việt Nam đối với trái phiếu hay các khoản cho vay đối với Chính phủ hoặc doanh nghiệp là 3 điểm phần trăm. Nói cách khác, nếu Chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế thì lãi suất trái phiếu bằng đồng USD bị nhà đầu tư yêu cầu cao hơn so với lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ (cùng kỳ hạn) là 3 điểm phần trăm.
Khi Moody’s hạ mức tín nhiệm của Việt Nam 1 bậc, thì lãi suất yêu cầu sẽ tăng thêm 0,5 điểm phần trăm. Điều này đồng nghĩa với chi phí huy động vốn của doanh nghiệp ở Việt Nam và Chính phủ sẽ tăng tương ứng
Thực tế, cùng với việc xem xét hạ mức tín nhiệm ở Việt Nam thì Moody’s xem xét hạn mức tín nhiệm của 17 ngân hàng của Việt Nam đã được Moody’s xếp hạng trước đó do tín nhiệm quốc gia bị hạ. Việc xem xét giảm xếp hạng tín nhiệm của các ngân hàng này không liên quan đến hồ sơ tài chính độc lập của các ngân hàng.
Các ngân hàng được Moody’s xem xét hạ mức tín nhiệm bao gồm:
Như vậy, nếu các ngân hàng này bị hạ mức tín nhiệm thì lãi suất các khoản vay, lãi suất trái phiếu các ngân hàng này huy động trên thị trường quốc tế đều tăng lên khá mạnh. Đây là một ảnh hưởng vô cùng nặng nề với cả hệ thống tài chính Việt Nam.
Hồ Bá Tìn
Ngày 18/12, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investors Service điều chỉnh triển vọng tín nhiệm của Việt Nam xuống tiêu cực, kết thúc thời gian đưa hồ sơ tín dụng của Việt Nam vào diện theo dõi hạ bậc kể từ ngày 9/10/2019.
Cơ sở Moody’s đưa ra quyết định này là nhận định vẫn còn tiềm ẩn rủi ro chậm trả nghĩa vụ nợ gián tiếp của Chính phủ. Theo đó, các khoản thanh toán chậm phản ánh vấn đề về mặt hành chính hơn là sự yếu kém về tài chính, bao gồm các vấn đề về các thủ tục hành chính phức tạp cản trở việc thanh toán kịp thời và suôn sẻ.
Tuy nhiên, Moody’s giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam ở mức Ba3 đối với các khoản phát hành bằng đồng nội tệ và ngoại tệ và các khoản vay cao cấp không được bảo đảm. Trần tín nhiệm với trái phiếu dài hạn phát hành bằng ngoại tệ vẫn được giữ nguyên ở Ba1. Mức tín nhiệm tối đa với tiền gửi và trái phiếu bằng nội tệ vẫn là Baa3.
Hà Nội cần bình tĩnh khi bị Moody’s hạ mức tín nhiệm tín dụng!
Thanh Trúc, RFA
Tài Chính ngay lập tức lên tiếng phản bác thẩm định của Moody’s Investors Service, nói rằng Việt Nam luôn thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ một cách nghiêm túc, đúng kỳ hạn như đã cam kết với các đối tác phát triển cũng như các định chế tài chính quốc tế.
Chuyên gia tài chính trong nước cho rằng nên nhìn vấn đề Moody’s đưa ra qua lăng kính chuyên môn và khách quan hơn là phản ứng thái quá.
Trước hết, về việc được giữ nguyên xếp hạng Ba3 và triển vọng tín dụng được điều chỉnh xuống tiêu cực, chuyên gia tài chính và ngân hàng Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiêu phân tích:
“Như ta biết trên thế giới có 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn là Moody’s, Standard&Poors và Fitch Ratings, họ dùng rất nhiều tiêu chí trên cơ sở kinh tế vĩ mô và vi mô để mà xếp hạng tín dụng”
“Thế thì theo Moody’s Việt Nam ở mức Ba3 (Non Investment Grade) là mức không khuyến khích đầu tư, không xứng đáng để đầu tư, hoặc nói một cách đơn giản là không đầu tư. Tất cả những quốc gia ở mức Ba3- Non Investment Grade có nghĩa là chứng khoán, trái phiếu chính phủ của quốc gia đó khi phát hành ra thuộc lọi rủi ro cao. Khi mà rủi ro cao thì những nhà đầu tư mua trái phiếu chính phủ có rating thấp như thê thì họ đòi trả lãi suất cao. Trường hợp Việt Nam là nằm trong nhóm Non Investment Grade đó, chính vì thế lãi suất trên những trái phiếu của chính phủ ở Việt Nam so với các quốc gia khác là tương đối cao” .
Về khía cạnh gọi là điều chỉnh triển vọng xuống tiêu cực mà Moody’s đưa ra cho Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu giải thích tiếp:
“Bên cạnh xếp hạng Ba3 thì có một phán đoán nữa gọi là outlook có nghĩa là triển vọng. Có 4 loại outlook, triển vọng, là rất tích cực, bình thường, không tích cực , xấu. Nếu một quốc gia mà được “triển vọng rất tích cực” có nghĩa quốc gia đó được xếp hạng tín nhiệm cao hơn. Còn nếu outlook đó mà negative thì xếp hạng tín nhiệm trong tương lai có thể xuống mức thấp hơn Ba3. Thành ra cái mà Moody’s vừa rồi tuyên bố thì nó là cái outlook, Moody’s nói xếp hạng tín nhiệm, không thay đổi ở mức Ba3, nhưng cái triển vọng trong trường hợp này là negative là tiêu cực” .
Như vậy nếu tình hình kinh tế vĩ mô, chỉ số kinh tế vĩ mô không được cải thiện, có thể Việt Nam còn bị xếp hạng thấp hơn, là khuyến cáo của chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu.
Về nhận định của Moody’s Việt Nam chậm trả nợ cũng như không phối hợp với các cơ quan trong chính phủ để có kế hoạch trả nợ cho rõ ràng, tiến sĩ Nguyễn Tri Hiếu nói đó là nhận định riêng của một tổ chức xếp hạng tín dụng như Moody’s, thì cứ trên cơ sở đó mà có sự phán đoán tích cực và thực tế hơn:
Theo nhận định và theo khảo sát thì có thể Moody’s thấy là chính phủ không tuyệt đối giữ cam kết trả nợ cũng như không kết hợp với các cơ quan ban ngành để lên một kế hoạch trả nợ. Đó là sai biệt giữa đánh giá của chính phủ Việt Nam và đánh giá của một tổ chức tín nhiệm, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu
“Rõ ràng Việt Nam có khó khăn trong vấn đề trả nợ công. Tuy nhiên điều làm tôi ngạc nhiên là cái outlook cái triển vọng Moody’s cho Việt Nam là negative trong khi ở trong nước tất cả những chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô của Việt Nam đều tốt cả . Chẳng hạn năm nay chỉ tiêu tăng GDP thay vì 6,6 đến 6,8% như Quốc Hội đã đề ra thì trên thực tế, theo một tính toán mới ngày hôm qua, có thể GDP của Việt Nam đạt được tới 7,1% tức là cao hơn cả mức cao Quốc Hội đưa ra là 6,8%. Đồng thời nữa, tỷ lệ lạm phát Quốc Hội đề ra là không quá 4% mà thực tế thì hình như Việt Nam ở mức 3,1% tại thời điểm này. Rồi thì tỷ giá của Đồng Việt Nam so với ngoại tệ từ đầu năm tới giờ hầu như không thay đổi ở mức 23.000 VND/1USD. Trong lúc tỷ gia ổn định cộng với chỉ số về kinh tế vĩ mô tích cực thì Moody’s lại cho triển vọng của Việt Nam là tiêu cực thì có thể Moody’s có những chỉ tiêu mà theo họ đánh giá là tiêu cực hơn bản thân của chính phủ Việt Nam. Theo nhận định và theo khảo sát thì có thể Moody’s thấy là chính phủ không tuyệt đối giữ cam kết trả nợ cũng như không kết hợp với các cơ quan ban ngành để lên một kế hoạch trả nợ. Đó là sai biệt giữa đánh giá của chính phủ Việt Nam và đánh giá của một tổ chức tín nhiệm.
Dưới mắt Bộ Tài Chính, việc Moody’s hạ giảm triển vọng tín nhiệm của Việt Nam là không xác đáng vì chỉ đơn thuần dựa trên sự việc riêng lẻ trong toàn thể nghĩa vụ nợ dự phòng chứ không căn cứ trên những thành tựu toàn diện mà Việt Nam đạt được qua phát triển kinh tế, xã hội cũng như khả năng chống đỡ trước những biến động từ bên ngoài mà Việt Nam ra sức cải thiện.
‘Không tương xứng’ cũng là từ Việt Nam sử dụng để ám chỉ sự đánh giá về triển vọng tiêu cực mà Moody’s nhắm vào Việt Nam. Theo Bộ Tài Chính, tín nhiệm thăng hạng sau gần một thập kỷ , điển hình Tập Đoàn Điện Lực EVN Việt Nam đã được Fitch Ratings xếp hạng tín dụng tích cực, rằng Chính Phủ, Bộ Tài Chính và các cơ quan ban ngành đã triển khai cũng như cải thiện công tác phối hợp hành chính trong việc thanh toán dư nợ công, đặc biệt không gây tổn thất đối với phía cho vay.
Việt Nam đã phần nào có phản ứng thái quá khi phản bác cách đánh giá của Moody’s, là nhận định của tiến sĩ, chuyên gia tài chính và thị trường Vũ Đình Ánh:
“Bởi vì thứ nhất trong xếp hạng tín nhiệm của một công ty uy tín trên thế giới thì người ta đánh giá cái triển vọng là tích cực hay tiêu cực, và có lẽ Việt Nam phản ứng quá mạnh vì chữ “tiêu cực” đó. Thực ra phải nhấn mạnh là họ vẫn giữ nguyên cái xếp hạng của Việt Nam, còn cái tiêu cực ở đây là khả năng có thể xem xét hạ bậc tín nhiệm nếu như Việt Nam không có những động thái rõ ràng”, Ông Vũ Đình Ánh
“Bởi vì thứ nhất trong xếp hạng tín nhiệm của một công ty uy tín trên thế giới thì người ta đánh giá cái triển vọng là tích cực hay tiêu cực, và có lẽ Việt Nam phản ứng quá mạnh vì chữ “tiêu cực” đó. Thực ra phải nhấn mạnh là họ vẫn giữ nguyên cái xếp hạng của Việt Nam, còn cái tiêu cực ở đây là khả năng có thể xem xét hạ bậc tín nhiệm nếu như Việt Nam không có những động thái rõ ràng”.
“Theo tôi sự đánh giá của Moody’s như vậy chủ yếu không phải là nguy cơ không trả được nợ hay vỡ nợ mà là vấn đề nếu tiếp tới đây Việt Nam tiếp tục vay nợ trên thị trường quốc tế thì rất có khả năng lãi suất sẽ bị điều chỉnh tăng lên chứ không phải mức lãi suất như hiện tại”.
Việc xếp hạng tín nhiệm của Moody’s là động lực khiến Việt Nma phải lo điều chỉnh lộ trình, qui mô và kế hoạch để phát hành trái phiếu quốc tế khi Việt Nam có nhu cầu về vốn. Tiến sĩ Vũ Đình Ánh:
“Còn từ phía chính phủ thì tôi cho rằng nên bình tĩnh xem xét những cái đánh giá như vậy bởi vì Moody’s là một công ty xếp hạng có uy tín mà thông thường thì thị trường tài chính quốc tế sẽ căn cứ vào đó để mà có những giao dịch tài chính với Việt Nam”.
Nguồn tin từ Bộ Tài Chính ngày 18 tháng Mười Hai cho thấy chính phủ sẽ tiếp tục theo đuổi mục tiêu củng cố vững chắc nền kinh tế vĩ mô , nâng cao năng lực nội tại và đẩy mạnh cải cách thể chế.
Việt Nam còn cho rằng Moody’s cũng như những tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế nên có thông tin đầy đủ và cơ sở xác thực để có thể nhìn nhận đúng đắn và tích cực hơn về hồ sơ tín dụng của Việt Nam.
VN trước bước ngoặt phát triển, tha hóa và khó khăn 2020
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionViệt Nam đang trong một thời điểm bước ngoặt của sự phát triển, theo nhà quan sát thời sự từ Hà Nội
Việt Nam đang ở trong một 'bước ngoặt' của sự phát triển và cần đến một chiến lược phát triển mới trong bối cảnh mới, theo các khách mời hội luận cuối năm của BBC News Tiếng Việt.
Nêu cái nhìn cho năm mới, TS. Phạm Quý Thọ, từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam nói:
"Việt Nam đang trong một bước ngoặt của sự phát triển, ở đây tôi nghĩ là sẽ có rất nhiều khó khăn trong năm 2020, kể cả kinh tế, xã hội và rất nhiều các vấn đề khác và cần phải nghiêm túc từ đảng, rồi nhà nước, chính phủ rồi quốc hội, tất cả cũng phải làm một chiến lược phát triển mới cho Việt Nam trong bối cảnh mới.
"Thứ hai nữa là chuyển dịch không chỉ về kinh tế mà còn phải chuyển dịch sang các vấn đề giá trị phổ quát như trong năm 2019 đã đặt ra cho chúng ta.
Cho nên năm 2019 đã và sắp kết thúc, thì năm 2020, tôi thấy thứ nhất phải nhấn mạnh vấn đề này:
"Một là kinh tế sẽ tiếp tục có những khó khăn, đặc biệt khi mà chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường nhưng mà lại không có những cơ sở để cho nó phát huy thị trường này, thì chúng ta tiếp tục rơi vào một vòng xoáy luẩn quẩn.
"Tức là Đảng Cộng sản đối nghịch ý thức hệ với thị trường, cho nên nó không có lối thoát về kinh tế phát triển một cách bền vững. Cái thứ hai nữa là do hiệu ứng của nó, sẽ có rất nhiều các vấn đề xã hội phát sinh.
"Trong đó phải nói sự tha hóa, mặc dù Đảng CSVN cũng đã rất cố để xây dựng đội ngũ chiến lược, chuẩn bị cho các đại hội các cấp, nhưng tôi nghĩ họ sẽ rất là khó chống nổi thực tế là sự cám dỗ của vật chất và sự tha hóa này cũng sẽ lại tiếp tục, chứ không thể chống tham nhũng thông qua một số vụ mà có thể giảm được.
"Thứ ba nữa là nó ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác, đặc biệt là các giá trị xã hội ở trong dân chúng mà bây giờ tôi thấy đang phân hóa rất rõ, tức là người ta rất khó thống nhất với nhau những vấn đề từ rất nhỏ cho đến những vấn đề lớn như đã được mô tả và đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, con cái, con trẻ cũng như là các khía cạnh giáo dục khác."
"Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy những điểm mới, mà cũng rất mới đối với Việt Nam, thí dụ như việc chọn sách giáo khoa, tức là những tác động của khó khăn về kinh tế sẽ lan tỏa sang các hiệu ứng về mặt thể chế cũng nhưng những vấn đề xã hội khác mà cần phải có những hoạch định cho rõ ràng thì mới có thể chủ động hơn được một chút trong năm 2020," ông Thọ nói.
'Quan trọng và kịch tính'
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionỨng phó trước những tham vọng của quốc gia láng giềng Trung Quốc trên Biển Đông được cho là một thách thức lớn đối với Việt Nam
Còn blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh nêu dự phóng về đối ngoại và đối nội với Việt Nam:
"Tôi cho rằng năm 2020 sẽ có hai vấn đề rất quan trọng và có thể rất kịch tính. Thứ nhất là về vấn đề Bãi Tư Chính và Biển Đông. Đây là vấn đề mà chính quyền Việt Nam có thể nói là gần như hoàn toàn bị động.
"Tức là bây giờ xem xem Trung Quốc sẽ hành xử như thế nào và khi đó họ sẽ đối phó như thế nào là điều rất khó khăn, và cái đó họ sẽ không thể dễ như năm nay. Đó là một vấn đề sẽ là kịch tính.
"Hoặc là rất ít khả năng là Trung Quốc sẽ không làm gì, nhưng nhiều khả năng là có chuyện và có chuyện thì sẽ rất kịch tính và Việt Nam đối phó như thế nào là cực kỳ khó.
"Thứ hai về đối nội, vừa là chuyện chống tham nhũng nhưng vừa là chuyện chuẩn bị Đại hội 13, thì nó sẽ kịch tính. Đại hội 12, chúng ta đã biết rồi, Đại hội 13 sẽ có một kiểu kịch tính khác là nó liên quan đến chuyện chống tham nhũng.
"Thì trong năm 2020, sẽ có những vụ án gì và các vụ án này sẽ đi đến đâu? Và liên quan đến Đại hội 13 chuẩn bị nhân sự, rồi sắp tới sẽ có ai lên, ai xuống, có ai bị (đề nghị xem xét) kỷ luật như ông Hoàng Trung Hải?
Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionNăm 2019 chứng kiến việc Việt Nam và EU ký các hiệp định thương mại và bảo hội đầu tư quan trọng thế hệ mới
"Tất cả những chuyện này là sẽ rất kịch tính trong năm 2020, đó là hai điều tôi thấy rất đáng quan tâm," nhà điểm tin tức và báo chí nói với BBC.
Còn từ Berlin, Cộng hòa Đức, nhà văn Võ Thị Hảo đưa ra bình luận:
"Tôi thấy Đại hội 13 của đảng Cộng sản Việt Nam có thể sẽ là một cơ hội rất lớn để cho Việt Nam cải cách thể chế, nó có thể là một đòn bẩy thay đổi, thế nhưng vấn đề là chưa thấy một triệu chứng nào, một mầm mống nào để thấy rằng họ thực sự muốn cải cách thể chế, như họ đã từng lớn tiếng.
"Vì vậy, chúng ta sẽ rất để ý trong vấn đề này và việc thay đổi, việc mà gọi là 'đốt lò' cũng tạo một điều kiện để thay đổi những nhân vật, những người là quan chức trong hệ thống cầm quyền.
"Nó có thể đưa ra một điều cho người ta thấy rằng thực sự những nhóm này 'thân' ai đó, hay là có khuynh hướng muốn bảo vệ sự cải cách thể chế hay không, thì chúng ta đã thấy rất là rõ.
"Và đấy là một điều mà mọi người phải hết sức để ý và tất nhiên là để muốn thay đổi, thì đương nhiên mỗi người chúng ta phải góp sức vào thôi, phải lên tiếng, phải đấu tranh."
'Cấp bách và phải làm'
Theo bà Võ Thị Hảo, hiện nay và qua năm mới, Việt Nam cần ưu tiên giải quyết khẩn cấp một số việc:
"Thế còn điều thứ hai nữa mà tôi muốn nói là có những cái cấp thiết mà nhà cầm quyền Việt Nam phải làm, thứ nhất là phải giải quyết ngay nạn ô nhiễm môi trường ở Hà Nội và Sài Gòn mà thuộc hàng ô nhiễm nhất thể giới.
"Không thể nào thúc thủ như hiện nay được, vì như thế là đưa mọi người vào cái chết.
"Một vấn đề nữa là đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang ngập mặn, mà một thông báo gần đây nhất nói là gần như toàn bộ; và đây là một cuộc chiến tranh nước, từ phía Trung Quốc đối với Việt Nam...
"Thì bây giờ nhà cầm quyền Việt Nam cần phải làm gì đây? Phải có những giải pháp rõ ràng.
"Và thứ ba nữa là vấn đề gian lận thương mại, Việt Nam hiện nay đang bị áp một mức thuế thép với một mức hàng trăm lần, là vì đã 'chấp nhận gian lận'.
"Thép của Đài Loan hay là của Hàn Quốc, hay của Trung Quốc, chưa kể những mặt hàng khác đóng mác Việt Nam và xuất sang các nước khác để tránh lậu thuế và đó là một việc làm khủng khiếp, việc làm cực kỳ 'gian lận'.
Bản quyền hình ảnhMAI SƠNImage captionĐầu tư công. Các dự án đấu thầu và xây cất, mua sắm dùng ngân quỹ quốc gia được dư luận chú ý nhiều vì các vụ thất thoát, biển thủ, hoặc ăn tiền công trắng trợn. Tranh của Mai Sơn gửi cho BBC.
"Và nó không thể chấp nhận được ở trên thế giới và điều đó sẽ đem lại sự trừng phạt rất lớn mà chính người dân Việt Nam phải chịu, còn hưởng lợi thì phải để thuế quan đánh giá, tôi thấy đấy là một điều cần phải làm," nhà văn, nhà báo Võ Thị Hảo nói với BBC.