
Dương Văn Minh sinh năm 1916 tại Vĩnh Long thường được gọi là Big Minh (Minh lớn) một phần vì ông cao tới 1mét 80 và nặng 90 kí lô. Phần khác để phân biệt với “Minh nhỏ” là tướng Trần Văn Minh (tư lệnh không quân ở miền Nam trước 1975). Ông là một nhà quân sự thuần túy, leo lên khá nhanh, nhưng khi bước vào chính trị, ông rất quờ quạng nên đã biến thành công cụ của chính trị và mưu đồ chính trị nối tiếp nhau với những hậu quả rất nặng nề. Vì thế cuộc đời của ông có thể được thu gọn vào hai chữ "đáng tiếc”.
Tướng Dương Văn Minh đã qua đời, song các hành động của tướng Minh khi tham gia vào các hoạt động chính trị của Nam Việt Nam vẫn còn để lại nhiều bí ẩn, trong đó có 3 bí ẩn lớn:
1/ Bí ẩn việc bắt và giết tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt.
2/ Bí ẩn vụ giết Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu.
3/ Bí ẩn về việc nhận chức tổng thống để đầu hàng (?)...
Nhiều người đã phỏng vấn ông về các bí ẩn này nhưng ông không chịu tiết lộ (?) Đại tá Phạm Bá Hòa cho biết tướng Minh có nói rằng khi ông chết, ông sẽ để lại “tập hồi ký” cho các con ông. Đến nay tập hồi ký đó chưa được công bố".
Theo Việt Nam nhật báo, do tướng Dương Văn Minh cầm đầu Hội đồng các tướng lĩnh (cùng "tứ trụ” Đôn - Đính - Kim - Xuân tức Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân) và nhiều tướng tá khác lật đổ ông Ngô Đình Diệm năm 1963 và thả hết tăng ni phật tử bị ông Diệm giam cầm, nên Dương Văn Minh luôn luôn có một vị trí đặc biệt trong hàng giáo phẩm Phật giáo Việt Nam dẫu ở trong hay ngoài nước.
Ông Dương Văn Minh qua đời ngày 6/8/2001 tại Bệnh viện Huntington Memoroial sau nhiều năm bị bệnh phải ngồi xe lăn. Theo con gái ông thông báo với các hãng thông tấn nước ngoài, trước ngày mất, ông Minh bị té từ xe xuống nền nhà riêng ở Pasadena, Nam California - Mỹ và được gia đình đưa vào cấp cứu ở bệnh viện hôm 5/8 và mất tại đó sau một ngày hôn mê; thọ 86 tuổi.
Một cơ quan ngôn luận khác tại Hoa Kỳ nhắc sự kiện tướng Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện trưa 30/4/1975 và lặp lại câu hỏi của nhà báo Mỹ Stanley Kamow, tác giả bộ phim tư liệu Việt Nam - thiên sử truvền hình rằng: “Tại sao ông Minh không quyết định tử chiến, điều mà ông có thể làm?”
Ông Trần Quang Thuận, một chính khách Sài Gòn thời “tiền 1975” cho biết những năm sau này khi sống định cư tại California đã nhiều dịp gần gũi chuyện trò với tướng Minh khá thân mật, được nghe chính ông Minh nói: “Đầu hàng là cách lựa chọn tốt nhất cho người Việt Nam. Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu (nếu quân đội Sài Gòn chống lại quân Việt cộng)? Một năm? Hai năm? Cuốì cùng cũng phải đầu hàng thôi, không thể đánh mãi được, đầu hàng càng nhanh càng tốt. Tốt cho người dân Sài Gòn".
Hồi ký Trần Văn Đôn đã ca ngợi chọn lựa của ông Dương Văn Minh ngày 30/4/1975 và viết là, nhờ lời kêu gọi buông súng vào giờ phút căng thẳng, hiểm nguy, dễ đổ nát nhất, mà ông Minh đóng góp thiết thực vào công cuộc kiến tạo không khí bình an trong tình thế lửa nước sôi nóng đó, tránh thảm trạng máu đổ và bao cảnh bi thương không lường được nếu ông quyết định “tử thủ” Sài Gòn. Dẫu cho nhiều người muốn ông xử sự khác đi, song trước sau ông vẫn đưa ra tấm lòng của ông, một cách thẳng thẳn, rằng: “phải như vậy, để tránh đổ máu!”.
Ông có ba người con, hai trai và một gái. Tác giả những thông tin trên, cô Đoan Trang, đã tổng hợp nhiều nguồn từ The Star, Reuters, cho biết thêm là, ông Dương Văn Minh có duyên với âm nhạc từ lúc tên ông bắt đầu sáng chói cách đây gần 50 năm sau chiến dịch truy diệt các đốì thủ của ông Ngô Đình Diệm tại Rừng Sác, được ông Diệm thăng lên cấp tướng, và nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã cảm hứng sáng tác nhạc phẩm Anh đi chiến dịch. Nay ông nằm xuống trên đất người, nhạc sĩ Phạm Đình Chương cũng không còn nữa, mà đã mang “nửa hồn thương đau” qua bên kia bờ tím. Các ông ấy có lẽ đã gặp nhau và thầm về cố hương Việt Nam như lời họ trăn trối.
Mỗi lần 30 tháng 4 đến, người Việt tỵ nạn lại nhắc đến Dương Văn Minh và gọi ông là “Hàng Tướng”. Nhưng hành tung và vai trò của ông trong cuộc chiến VN vẫn còn nhiều bí ẩn. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra và có một vài tranh luận xung quanh hàng tướng này.
Hôm đám tang Tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Chung, cựu dân biểu VNCH, có đọc một bài điếu văn, nói rằng “Đây là cái chết lần thứ nhì của một người lính suốt đời lo cho đất nước”. Tuy nhiên, qua bài điếu văn đó, người ta nhận thấy Nguyễn Hữu Chung muốn mượn cái chết của Tướng Dương Văn Minh để nói về mình hơn là nói về Tướng Minh. Đó là cái bệnh trầm kha của nhiều “lãnh tụ” quốc gia. Hôm 30 tháng tư vừa qua, nhân kỹ niệm 30 năm mất miền Nam, Đại Tá Vũ Văn Lộc, bút hiệu Giao Chỉ, có viết bài “Tưởng Niệm Big Minh, Một Vòng Hoa Cho Niên Trưởng”, nhưng nội dung bài này cũng chỉ để nói lên tình “huynh đệ chi binh” mà thôi.
Website của Giao Điểm, [một diễn đàn chống “Giatô” và kêu gọi Phật giáo Ấn Quang “hồi tà”, trở về với Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh,] đã phổ biến bài “Cái chết của một Hàng Tướng: Dương Văn Minh (1916-2001)” của Vũ Ngự Chiêu, tức Chánh Đạo, tức Nguyên Vũ, nói là trích trong “Ngàn Năm Soi Mặt, tâm bút”, để bênh vực cho Tướng Dương Văn Minh. Trong nỗ lực bôi đen “Giatô”, Vũ ngư. Chiêu viết rằng ông Lâm Lễ Trinh đã “làm án tử hình Ba Cụt hầu chuẩn bị bước lên chức Bộ trưởng Nội vụ – một bản án tiêu biểu cho chế độ giáo phiệt của anh em ông Diệm” (tr. 137), mặc dù Ba Cụt đã chịu đầu hàng. Ở cuối bài, Vũ Ngự Chiêu đã kết kuận như sau: “Hậu thế sẽ có dịp thẩm giá Tướng Minh một cách trung thực hơn. Vì Tướng Minh, giống như ông Trần Văn Hương, chỉ là những tác nhân phụ thuộc, ở buổi “hết quan, tàn quân.” Nhóm Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, v.. v… mới là những tội nhân chính của lịch sử.”
Trong các tướng lãnh tham gia chính trường tại miền Nam Việt Nam, có lẽ tướng có thân phận bi thảm nhất là Tướng Dương Văn Minh.
Biết Dương Văn Minh không hiểu biết gì về chính trị và thủ đoạn chính trị, thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, lại mắc bệnh tham lam, nên Hoa Kỳ đã biến ông thành một một công cụ đầy oan nghiệt để thực hiện chính sách của Hoa Kỳ trong từng giai đoạn rồi loại bỏ. Có thể coi cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh như là một chương bi thảm trong lịch sử VNCH và cũng là một chương bi thảm trong tương quan giữa VNCH và Hoa Kỳ. Người Việt ai cũng thuộc câu “Tri bỉ tri kỷ bách chiến bách thắng”, nhưng mặc đầu đã chiến đấu với Mỹ trong 20 năm và đã ở trên đất Mỹ 34 năm, đa số người Việt chống Cộng không biết Mỹ và địch đang làm gì, cứ suy nghĩ và hành động theo cảm tính, nên đấu tranh đã 34 năm mà vẫn chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Vì thế, hôm nay nhân kỷ niệm ngày mất nước, chúng tôi xin trình bày tóm lược về một số bí ẩn và tai tiếng chung quanh cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh với ước mong mọi người có thể nhìn vào đó tìm ra bài học lịch sử khi tiếp tục đấu tranh.
* Vài nét về Tướng Big Minh
Dương Văn Minh sinh ngày 16.2.1916 tại Vĩnh Long (có tài liệu nói sinh tại Mỹ Tho). Sỡ dĩ ông có biệt danh là Big Minh vì cao 6 feet và nặng 200 pounds, và được gọi như thế để khỏi lẫn lộn với Tướng Trần Văn Minh.
Ông có vợ và ba con: hai người con trai là Dương Minh Đức và Dương Minh Tâm hiện ở Pháp, và người con gái là Dương Mai, có chồng là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài, hiện ở Pasadena, California.
Lúc nhỏ ông theo học trường Chasseloup Laubat ở Saigon và đỗ tú tài II vào năm 1938 cùng một lớp với Tướng Trần Văn Đôn.
Năm 1940, ông Minh gia nhập quân đội Pháp, tốt nghiệp khóa Hạ sĩ quan trừ bi. Thủ Dầu Một với cấp bậc Aspirant tức là Chuẩn Úy.
Năm 1945, khi Nhật đảo chánh Pháp, Dương Văn Minh đang phục vụ tại Caps Jacques (Vũng Tàu) và bi. Nhật cầm tù. Khi Pháp trở lại, ông trở lại phục vụ trong quân đội Pháp năm 1946 với cấp bậc Thiếu Úy.
Năm 1952 ông mang cấp bậc Đại Úy và phục vụ tại Phủ Thủ Hiến Nam Phần. Từ Năm 1953 – 1954, ông được thăng Thiếu Tá rồi Trung Tá và phục vụ tại Tổng Tham Mưu Quân Khu 1. Năm 1954 – 1955 ông là Chỉ Huy Trưởng Phân Khu Saigon.
Dương Văn Minh là cháu của Nguyễn Ngọc Thợ Khi ông Diệm về chấp chánh, ông Nguyễn Ngọc Thơ được mời làm Bộ Trưởng Nội Vụ, đã đề cư? Dương Văn Minh chỉ huy huy lực lượng bảo vệ Saigon. Ngày 3.5.1955, Dương Văn Minh được thăng Đại Tá và giữ chức Quân Trấn Trưởng Saigon.
Dương Văn Minh Nguyễn Ngọc Thơ
Người đầu tiên đã giúp ông Diệm chống lại các giáo phái không phải là Đại Tá Dương Văn Minh mà Đại Tá Dương Văn Đức.
Ngày 5.6.1955, Đại Tá Đức được cử chỉ huy Chiến Dịch Đinh Tiên Hoàng bình định miền Tây Nam Phần. Ông cho quân tiến chiếm Cái Vồn (Cần Thơ), phá tan đại bản doanh của Tướng Trần Văn Soái. Ngày 29.6.1955 ông tiến vào núi Ba Chúc, tấn công lực lượng của Tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt.
Ngày 21.9.1955, với tư cách Quân Trấn Trưởng Saigon, Đại Tá Dương Văn Minh được cử làm Chỉ Huy Trưởng Chiến Dịch Hoàng Diệu, mở cuộc hành quân truy kích tàn quân Bình Xuyên tại Rừng Sát. Trung tá Nguyễn Khánh làm Chỉ Huy Phó và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Hạnh làm Tham Mưu Trưởng.. Sau khi Chiến Dịch Hoàng Diệu chấm dứt, ngày 6.11.1955, ông Diệm cho tổ chức biểu tình hoan hô các chiến sĩ Rừng Sát trở về. Đại Tá Dương Văn Minh được thăng Thiếu Tướng. (Có tài liệu nói Dương Văn Minh được thăng Thiếu Tướng ngày 23.10.1955).
Trong thời gian ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Tỉnh Trưởng các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên và Mỹ Tho, Ba Cụt đã mưu sát ông đến 6 lần, nhưng ông vẫn thoát được. Để đối lại, ông Nguyễn Ngọc Thơ cũng đã cho mở các cuộc hành quân để truy kích Ba Cụt, nhưng không bắt được. Do đó, khi nghe ông Ngô Đình Nhu hỏi ý kiến về việc dẹp loạn Trần Văn Soái và Ba Cụt ở miền Tây, ông xin lãnh trách nhiệm ngay. Đây là một cơ hội tốt giúp ông thanh toán một kẻ thù luôn theo đuổi ông. Ông xin xử dụng Tướng Dương Văn Minh vào công tác này. Vì thế, ngày 29.12.1955, ông Diệm đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch Đinh Tiên Hoàng do Đại Tá Dương Văn Đức chỉ huy và cho Đại Tá Đức lên Thiếu Tướng. Tướng Đức tỏ vẽ bất bình về chuyện chấm dứt công tác một cách đột ngột này.
Do đó, ngày 10.6.1956, ông Diệm phải cử Tướng Đức đi làm Đại Sứ tại Nam Hàn.
Rất hận về chuyện ông Nguyễn Ngọc Thơ đưa Tướng Dương Văn Minh xuống cướp chỗ của mình, khi tham gia cuộc chỉnh lý của Tướng Nguyễn Khánh ngày 30.1.1964 lật đô? Dương Văn Minh, Tướng Đức đã đi tìm ông Nguyễn Ngọc Thơ, lúc đó là Thủ Tướng Chính Phủ, kéo ra và đánh mấy bớp tai trước mặt mọi người!
Mặc dầu Dương Văn Minh đang bị điều tra về việc biển thủ một thùng phuy vàng lấy được của Bảy Viễn, ngày 1.1.1956, ông Diệm đã cư? Tướng Dương Văn Minh chỉ huy Chiến Dịch Nguyễn Huệ bình định miền Tây. Ngày 13.4.1955 Tướng Ba Cụt đã bị bắt ở Chắc Cá Đao, cách Long Xuyên 15 cây số và bi. Tòa Án Quân Sự tuyên án tử hình. Sáng 13.7.1956, lúc 5 giờ 40 sáng, Tướng Ba Cụt đã bị hành quyết tại nghĩa địa ở đường Hoa Bình, Cần Thợ
Trong cuộc phỏng ván ngày 16.10.2004, Đại Tá Nguyễn Văn Y, lúc đó là Tỉnh Trưởng Chợ Lớn, cho biết sau khi xử bắn và chôn Ba Cụt xong, Nguyễn Văn Nhung có về gặp ông và cho ông biết Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho anh ta đào xác Ba Cụt lên đem đi thiêu rồi lấy tro rải xuống sông Cửu Long, để tay chân bộ hạ của Ba Cụt không lấy xác ông ta đem về lập đền thờ. Nhưng có nhân chứng khác cho biết Nguyễn Văn Nhung đã đào xác Ba Cụt lên, văm nhỏ rồi bỏ vào bao bố đem rải xuống sông chứ không hề thiêu.
Trong cuốn hồi ký “VN máu lửa quê hương tôi” Đỗ Mậu phịa rằng “vì ông Diệm nhiều lần dụ dỗ Lê Quang Vinh theo đạo Thiên Chúa mà Lê Quang Vinh nằng nặc không theo. Nếu theo đạo Thiên Chúa thì Lê Quang Vinh sẽ được rửa tội trong một buổi lễ long trọng tại nhà thờ Đức Bà Saigon và sẽ được trọng thưởng, và tất nhiên sẽ được tha mạng.” (trang 124).
Ngày 31.5.1956, Chiến Dịch Nguyễn Huệ kết thúc. Ông Diệm lại cử Tướng Dương Văn Minh chỉ huy Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu bình định các tỉnh Tiền Giang và Hậu Giang. Ngày 29.8.1956 ông Diệm cử Tướng Minh làm Tổng Thư Ký Thường Trực Quốc Phòng, chỉ huy Phân Khu Saigon.Chợ Lớn và tiếp tục chỉ huy Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu bình định miền Tây. Ngày 30.10.1956, chiến dịch này kết thúc với kết quả 441 bị tử trận, 948 về quy thuận, 1169 bị bắt và hơn 1.000 súng bị tịch thụ
Ngày 1.2.1957 Dương Văn Minh được thăng Trung Tướng và giữ chức Chỉ Huy Trưởng Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Chức Tổng Thư Ký Thường Trực Quốc Phòng được trao lại cho Tướng Dương Văn Đức mới đi học khóa chỉ huy và tham mưu ở Mỹ về. (Khi Tướng Đức xin đi Pháp, chức này lại được trao cho Tướng Nguyễn Khánh). Tướng Minh cũng được gởi qua Mỹ học khóa chỉ huy và tham mưu tại ỤS. Command and General Staff College ở Fort Leavenworth thuộc bang Kansas.
Đầu năm 1960, cơ quan tình báo khám phá ra Tướng Dương Văn Minh đã liên lạc với Hà Nội qua người em là Thiếu Tá VC Dương Văn Nhựt, nên Tướng Minh không được tin dùng nữa (chúng tôi sẽ tường thuật sau). Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cư? Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu mới từ Hoa Kỳ về làm Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Hành Quân với nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát Tướng Minh.
Cuối năm 1962 Tổng Thống Diệm quyết định giải tán Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Ngày 8.12.1962 Trung Tướng Dương Văn Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ được coi như “ngồi chơi xơi nước”. Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tư Lệnh Vùng I, được cử làm Tư Lệnh Lục Quân, một chức vụ mới đặt để thay thế Bộ Tư Lệnh Hành Quân.

Lúc đầu, Tướng Harking tỏ vẽ bất bình về chuyện Tướng Minh bị hạ tầng công tác. Ông ta nghĩ rằng ông Diệm sơ. Tướng Minh làm đảo chánh nên đã hành động như vậy. Nhưng sau khi biết được Tướng Minh có liên lạc với VC, cơ quan CIA cũng đồng ý về biện pháp này.
Biết Tướng Dương Văn Minh đang bất mãn với ông Diệm, nên khi muốn lật đổ ông Diệm, CIA quyết định xử dụng Tướng Minh. Nhưng sau đó chỉ cho Tướng Minh làm Quốc Trưởng 3 tháng.
Ngày 30.1.1964, theo sự sắp xếp của CIA, Tướng Nguyễn Khánh làm “chỉnh lý” xúc các tướng đảo chánh và biến Dương Văn Minh thành Quốc Trưởng bù nhìn.
Ngày 24.10.1964, Nguyễn Khánh đưa ông Phan Khắc Sửu lên làm Quốc Trưởng thay Dương Văn Minh. Ngày 24.11.1964, ông Sửu thăng cho cả Nguyễn Khánh lẫn Dương Văn Minh lên Đại Tướng. Ngày 20.12.1964, Nguyễn Khánh bắt Dương Văn Minh đi lưu vong, làm Đại Sứ VNCH tại Thái Lan. Mãi đến năm 1968, khi ông Trần Văn Hương lên làm Thủ Tướng, Dương Văn Minh mới được trở về VN. Ông đã đến Saigon ngày 5.10.1968.
Sau đây là một số bí ẩn chung quanh cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh.
VỤ BIỂN THỦ MỘT THÙNG PHUY VÀNG
Trong cuốn “Việt Nam một trời tâm sự”, Tướng Nguyễn Chánh Thi có kể lại:
Sáng ngày thứ 4, một toán thuyền và độ vài trăm người có súng đi ra với nhiều lá cờ trắng xin đầu hàng. Tiếp theo là một chiếc tàu chở ông Hồ Hữu Tường và ông Trần Văn Ân, cố vấn của Lê Văn Viễn ra điều đình. Tướng Thi kể tiếp: “Trong toán này có Thiếu Tá Tư Nhỏ trước kia ở Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ theo Bình Xuyên vì y là con rễ của Bảy Viễn. “Tư Nhỏ ra đầu hàng và tình nguyện đi chỉ chỗ vàng bạc chôn giấu của Bảy Viễn. Hắn ta nói: “- Trước đây một toán Bình Xuyên 8 người cùng chiếc du thuyền của Bảy Viễn chở 6 thùng 200 lít đựng bạc và một thùng đựng vàng, hột xoàn đem đi chôn giấu. Khi chôn xong rồi thì 8 người ấy đều bị giết ngay và lấp xuống ở gần đó. “Khi tình hình ở đây được hoàn toàn yên ổn, tôi được quan sát tận mắt sự đào hầm giấu tiền và các bộ mặt căng thẳng của Bộ Tư Lệnh của Đại Tá Dương Văn Minh và Trung Tá Nguyễn Khánh mà đâm ra hoài nghi. “Trung Tá Nguyễn Khánh lúc đó chơi trò “cao bồi”, hai tay cầm hai khẩu súng lục, miệng nói: Cấm không ai được đến gần đây cả! “Tiền!” Thật là khó coi? Chán mắt! “Tôi lạnh lùng cho chiếc tàu của tôi trở về vị trí đóng quân, trong lòng tôi suy nghĩ miên man về thái độ cử chỉ của bọn họ. Tin ít mà ngờ nhiều.” [1]
Câu chuyện về tài sản của Bình Xuyên được Tướng Thi kể lại có nhiều điểm khác với câu chuyện do Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát Quốc Gia, tường thuật lại dưới đây. Vì thế, một câu hỏi đã được đặt ra: Phải chăng đây là hai số tiền và vàng khác nhau? Chúng tôi tin rằng hai số tiền và vàng này chỉ là một, nhưng Tướng Thi chỉ được nghe nói hay nhìn thoáng qua nên không biết chính xác, còn Đại Tá Y là người đứng ra chỉ huy việc truy tìm số tài sản này nên câu chuyện được ông kể lại đầy đủ và chính xác hơn. Về sau, ông Diệm cũng chỉ ra lệnh điều tra về số tiền và vàng mà Đại Tá Y đã tìm được, chứ không nói gì đến số tiền và vàng mà Tướng Thi đã kể.
Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo của VNCH đã tường thuật như sau: Lúc đó ông là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chợ Lớn, chỉ huy Tiểu Đoàn 184. Vào khoảng tháng 5 năm 1955, sau khi đánh đuổi quân Bình Xuyên chạy vào Rừng Sát, ông đã thả các nhân viên Phòng 2 đi thăm dò ven rừng. Các nhân viên này thấy một người đang ngồi câu cá trên một chiếc xuồng ở một khu vắng, dáng điệu rất khả nghi, nên bắt về thẩm vấn. Sau nhiều cuộc tra hỏi, người này thú nhận anh ta là một cận vệ của Bảy Viễn, được phái ở lại giữ hai thùng phuy vàng và bạc đã phải nhận chìm xuống nước trước khi chạy trốn. Ông đã cho thợ lặn xuống tìm nhưng không thấy. Nhân viên Phòng 2 tiếp tục phỏng vấn, người này quả quyết nơi anh ta làm dấu đúng là nơi đã nhận 2 thùng phuy xuống. Thấy thái độ quả quyết của anh này, ông cho thợ lặn xuống mò một lần nữa, nhưng trong một phạm vi rộng hơn. Quả nhiên, thợ lặn đã vớt được hai thùng này cách xa nơi đánh dấu khoảng 100 thước, vì bị nước cuốn trôi đi. Đây là thứ thùng phuy đựng dầu xăng loại 200 lít. Công cuộc kiểm tra cho thấy một thùng đựng bạc giấy, còn một thùng đựng vàng. Bạc giấy toàn là loại 500$, được gói trong những bao nilon nhỏ, có nhiều bao bị nước thấm nước. Ông bảo nhân viên đem số bạc ướt phơi khô rồi đưa tất cả đi nạp vào ngân khố. Còn thùng vàng được chở đến giao cho Đại Tá Dương Văn Minh, Quân Trấn Trưởng Sài Gòn. Tướng Nguyễn Khánh, lúc đó là Trung Tá Chỉ Huy Phó của Đại Tá Minh, cho biết số vàng này khi giao nạp đã được bỏ vào trong hai cái rương, nhưng rồi sau đó không còn nghe Dương Văn Minh nói gì về số vàng này.
Ông Diệm đã ra lệnh cho Thẩm Phán Lâm Lễ Trinh, Biện Lý Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn, và Thiếu Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, mở cuộc điều tra vụ này.
Ông Huỳnh Văn Lang, lúc đó là Bí Thư Liên Kỳ của Đảng Cần Lao và Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái, cho biết ông Lâm Lễ Trinh đã tiết lộ rằng khi được hỏi về số vàng này, Tướng Minh đã sừng sộ và giận dữ, nói rằng ông Diệm là người bội bạc, ông đã giúp ông Diệm đánh dẹp Bình Xuyên mà còn hỏi cái gì. Ông Lang cũng cho biết ông có được đọc bản báo cáo hai trang của Đại Tá Mai Hữu Xuân. Đại Tá Xuân chỉ xác nhận số vàng Tiểu Khu Chợ Lớn tịch thu được đã giao cho Đại Tá Dương Văn Minh cất giữ và đề nghị nên đem ra chia nhau! [2]
Ông Cao Xuân Vỹ cho biết khi ông Nguyễn Ngọc Thơ đề nghị cho Tướng Dương Văn Minh chỉ huy Chiến Địch Đinh Tiên Hoàng để bắt Ba Cụt, ông Diệm đã nói với ông Nhu: “Thôi, cho nó số vàng đó đi cho yên!”
CHỨA CHẤP GIÁN ĐIỆP VIỆT CỘNG
Anh Nguyễn Tư Thái, tự là Thái Đen, Phụ Tá Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt, cho biết vào đầu năm 1960, nhân viên của Đoàn thấy một người thường lui tới nhà Dương Văn Minh, ở số 3 đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi ra, anh ta thường nhìn trước nhìn sau rất kỹ, thấy không có gì khả nghi mới bước ra. Những người bình thường không ai làm như vậy. Một hôm, đợi anh ta ra khỏi nhà Dương Văn Minh một khoảng xa, nhân viên tình báo liền bắt đẩy anh ta lên xe và đem về thẩm vấn. Lúc đầu anh ta nói anh ta chỉ là người đến dạy học cho các con của Tướng Minh. Tuy nhiên, sau nhiều cuộc thẩm vấn khéo léo, anh ta nhìn nhận anh ta là một ủy viên của Huyện Ủy Thủ Đức, được phái đến gặp Dương Văn Minh để lấy tin tức. Anh này đã bị giam giữ luôn, nhưng Dương Văn Minh không hay biết gì cả. Sau vụ này, Đoàn Công Tác Đặc Biệt và Tổng Nha Cảnh Sát đã bố trí thường trực chung quanh nhà Dương Văn Minh, theo dõi từng bước đi của những người ra vào nhà ông, quay phim và chụp hình. Điện thoại của nhà ông cũng bị nghe lén. Khoảng tháng 3 năm 1960, có một người có mặt mày và hình dáng rất gióng Dương Văn Minh, đã đến ở luôn trong nhà Dương Văn Minh và mỗi lần đi đâu thường được chính Dương Văn Minh chở đi. Sưu tra hồ sơ, nhân viên tình báo biết ngay đó là Dương Văn Nhựt, em của Dương Văn Minh, có bí danh là Mười Tỵ, hiện đang là Thiếu Tá trong bộ đội miền Bắc. Vợ của Dương Văn Nhựt hiện đang sống tại Sài Gòn. Theo dõi sát, nhân viên tình báo biết được Dương Văn Nhựt đang đi vận động Phật Giáo và sinh viên chống ông Diệm.
Trong cuộc phỏng vấn ngày 16.10., Đại Tá Nguyễn Văn Y cho biết khi vợ Dương Văn Nhựt có bầu gần sinh, Dương Văn Nhựt đã đưa vợ tới ở nhà của Trung Tá Dương Văn Sơn, em của Dương Văn Minh. Lúc đó Dương Văn Sơn đang làm trưởng phòng truyền tin của Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn Nhựt. Vì thế, nhà Dương Văn Sơn cũng bị theo dõi như nhà Dương Văn Minh. Một hôm, Tổng Thống Diệm gọi ông và bảo đem tất cả hồ sơ vụ Dương Văn Minh vào gặp ông. Có lẽ trước đó Đoàn Công Tác Đặc Biệt đã trình nội vụ cho Tổng Thống biết rồi. Khi ông đem hồ sơ vào, Tổng Thống Diệm hỏi: “Dương Văn Minh có theo Cộng Sản không?” Rồi ông nói tiếp: “Võ Nguyên Giáp nhiều công trạng như rứa mà nay Cộng Sản chỉ mới cho lên Trung Tướng. Dương Văn Minh công trạng có bao nhiêu đâu mà nay đã lên Trung Tướng rồi, còn muốn gì nữa?” Đại Tá Y nói ông vốn là đàn em và là người quen biết với Tướng Minh nên chưa biết phải trả lời như thế nào. Tổng Thống liền đưa cho ông cái hộp quẹt và bảo đem tất cả hồ sơ ra đốt đi. Tổng Thống nói: “Mỹ mà nó biết được Trung Tướng của mình theo Việt Cộng thì xầu hổ lắm. Đốt hết đi! Từ rày tôi không muốn nhắc tới cái vụ này nữa.” Nhưng đốt hồ sơ rồi cũng chưa xong, nhân viên tình báo còn phải bắt Dương Văn Nhựt và dẫn ông ta ra chiến khu để ông ta đi qua Cambodia và trở về lại miền Bắc, với lời cảnh cáo: “Nếu trở lại sẽ bị thanh toán”. Câu chuyện này có lẽ Tổng Cục Phản Gián của Hà Nội không hề hay biết.
Sau đó, ông Diệm đã bảo Đại Tướng Lê Văn Tÿ, Tổng Tham Mưu Trưởng, thông báo cho Tướng Minh biết từ nay ông ta chỉ có thể xử dụng các đơn vị cấp đại đội trở xuống mà thôi. Tướng Minh biết lý do tại sao, nhưng các cố vấn Mỹ không biết chuyện gì đã xẩy ra, nên rất thắc mắc. Họ nghĩ rằng ông Diệm sợ Tướng Minh làm đảo chánh nên mới hạn chế như vậy.
Ngày 18.7.1962, ông Diệm thông báo cho Tướng Harkins biết ông quyết định hủy bỏ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân của Tướng Minh vì ông ta “thiếu khả năng.” Ngày 8.12.1962 Trung Tướng Dương Văn Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ được coi như “ngồi chơi xơi nước”.
Sau này, báo Tuổi Trẻ Chúa Nhật của Việt Cộng trong số ra ngày 1.9.1996, dưới đầu đề “Tướng Dương Văn Minh dưới mắt các nhà binh địch vận”, đã tường thuật lại mối quan hệ giữa Tướng Dương Văn Minh và người em là Dương Văn Nhựt như sau: “Năm 1960, Mười Tỵ, thiếu tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam – được lệnh về Nam nhận công tác đặc biệt. Nhiệm vụ của ông là quan hệ, tranh thủ người anh ở bên kia chiến tuyến, đại Tướng Dương Văn Minh. Sau khi vượt Trường Sơn vào Nam, Thiếu Tá Dương Văn Nhựt, tức Mười Tỵ, đã được Ban Binh Vận Trung Ương Cục tìm mọi cách đưa vào Sài Gòn. Thông qua một người em gái, ông Mười Tỵ đã đến được và ở lại nhà của Dương Văn Minh suốt một tuần lễ. Hai anh em ở hai phía chiến trận gặp gỡ hàn huyên. Bằng tình cảm gia đình, ông Mười Tỵ thuyết phục Tướng Minh. Từ đó, ông Mười Tỵ cứ phải đi về trong “vùng địch” hoặc ra nước ngoài để tiếp xúc và gặp gỡ anh mình. Khi Dương Văn Minh lưu vong ở Thái Lan, ông Mười Tỵ cũng được bố trí sang Thái Lan qua ngã Campuchia. Ông đến Nam Vang, sống trong nhà một Hoa kiều. Tại đó, trong vòng một tháng, ông vừa học bằng sách vở, vừa thực tập giao tiếp để nói tiếng Hoa hồng để nhập vai người đi buôn. Có khi từ Nam Vang ông phải bay lòng vòng sang Ý, rồi từ Ý được cơ sở Việt kiều đón về Pháp để móc nối chị dâu (vợ của Tướng Minh) từ Thái Lan qua liên lạc”. Bài báo viết thêm: “Kể từ 1972, bộ đội bắt đầu mở nhiều trận đánh lớn, nên Mười Tỵ được lệnh không ra vùng địch và ra nước ngoài nữa vì “sợ rủi ro làm hỏng ý đồ chiến lược”, nên việc móc nối với Dương Văn Minh được giao cho Nguyễn Hữu Hạnh.”
BỊ BIẾN THÀNH TÊN ĐAO PHỦ CỦA MỸ

Vì không hiểu gì về thủ đoạn chính trị, Dương Văn Minh đã bị Hoa Kỳ biến thành tên đao phủ thanh toán Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn rồi sau đó loại bỏ.
1.- Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu Biết Tướng Dương Văn Minh đang bất mãn với ông Diệm nên CIA thuyết phục ông ta làm đảo chánh lật đổ ông Diệm. Dương Văn Minh đồng ý ngay. Trên danh nghĩa, ông ta là người chỉ huy cuộc đảo chánh, nhưng bên trong CIA chỉ giao cho ông ta một nhiệm vụ duy nhất là thanh toán nhà Ngô. Còn việc lập kế hoạch và chỉ huy cuộc đảo chánh được trao cho Tướng Trần Thiện Khiêm. Khi tiến hành cuộc đảo chánh, Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh hạ sát Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân; Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, và Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt. Khi được ông Diệm báo tin đang ở nhà thờ cha Tam, Dương Văn Minh đã cho lập “toán hành quyết” đi đón và giết ông Diệm và ông Nhu. Toán này do Đại Tá Mai Hữu Xuân cầm đầu. Tướng Minh cho Đại Úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của mình, đi theo làm sát thủ. Khi xác ông Diệm đưa về Tổng Tham Mưu, một quân cảnh cho biết chính mắt ông ta thấy Tướng Dương Văn Minh đã xuống lột quần ông Diệm ra xem có “chim” hay không.
Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin hai ông đã chết, ông rất xúc động và đến hỏi Dương Văn Minh: – Tại sao hai ông ấy chết? Ông Minh có vẽ khó chịu, trả lời bằng tiếng Pháp: Ils sont morts! Ils sont morts! (Mấy ông ấy chết rồi, thì chết rồi) [3]

“Ils sont morts! Ils sont morts! (Mấy ông ấy chết rồi, thì chết rồi) ” DVM
2.- Giết ông Ngô Đình Cẩn Chính Tướng Nguyễn Khánh đã cho soạn thảo và ban hành Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 thiết lập Toà Án Quân Sự đưa ra những quy định trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật, và cử nhóm tay chân bộ hạ vào làm “phán quan” để tuyên án tử hình ông Cẩn. Sắc Luật lại quy định rằng các bị cáo không có quyền kháng cáo hay thượng tố. Bị cáo bị án tử hình có thể đệ đơn xin ân xá lên Quốc Trưởng trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Trong trường hợp phạm nhân bị xử tử hình đã đệ đơn ân xá, án tử hình sẽ thi hành trong hạn 5 ngày kể từ khi tuyên án, nếu trong hạn đó, đơn xin ân xá không được chấp thuận. Những sự quy định này nhắm gài Tướng Dương Văn Minh, lúc đó đang là Quốc Trưởng bù nhìn, vào cái thế phải chịu trách nhiệm giết ông Cẩn. Mặc dầu đứng đàng sau Tướng Khánh trong vụ làm luật giết ông Cẩn và biết chắc ông Cẩn phải bị giết, Đại Sứ Cabot Lodge giả vờ đứng ra làm con thoi, đề nghị Tướng Minh ân xá cho ông Cẩn. Tướng Minh biết mình bị gài nên nói với Đại Sứ Lodge: “Khánh luôn luôm tìm cách đặt tôi vào tình trạng khó khăn (He always tries to put me in the difficult position). Tôi sẽ bị cả nước thù ghét và tố cáo nếu tôi ân xá Cẩn.” Đại Sứ Lodge nhận xét: “Rõ ràng là Khánh đang sắp xếp các sự việc để cho Minh gánh lấy tất cả trách nhiệm nếu không hành quyết Cẩn.”

Hôm 5.5.1964 Tướng Dương Văn Minh đã ký quyết định bác đơn xin ân xá của ông Cẩn và trở thành tên sát thủ ông Cẩn!
BỊ ĐƯA RA LÀM HÀNG TƯỚNG
Vào tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ thấy tình hình miền Nam Việt Nam không còn cứu vãn được, nên đã sắp xếp cho miền Nam đầu hàng Bắc Việt để tránh sự đổ máu quá nhiều. Biết Tướng Dương Văn Minh có liên lạc với Việt Cộng, Đại Sứ Martin của Mỹ đã phối hợp với Đại Sứ Merillon của Pháp thuyết phục Tướng Thiệu từ chức và lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm hàng tướng bằng cách tạo cho ông một ảo vọng rằng chỉ có ông mới có thể nói chuyện với “phía bên kia” để hình thành một “chính phủ liên hiệp Quốc – Cộng!”

Tổng Thống không tới 40 tiếng đồng hồ
Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp, một phân tích viên của CIA ở Saigon lúc đó, nói rằng tại miền Nam lúc đó, không ai tin Hà Nội có thể chấp nhận một giải pháp khi họ đang trên đà chiến thắng. Ông Vũ Văn Mẫu cũng đã nhận ra được điều đó nên khi gặp Đại Sứ Merillon, ông đã nói với ông Đại Sứ bằng tiếng Latin rằng nếu giải pháp một chính phủ liên hiệp không thành thì xin giúp ông được ra đi.
Frank Snepp cho biết thêm:
“Khi tôi đang bận đánh máy bản báo cáo thì Polgar ở trong phòng riêng với các viên chức khác của Trạm Tình Báo (Toà Đại Sứ) thảo luận về việc chuyển giao nhanh quyền hành. Một khi Thiệu từ chức, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành ngay lập tức cho Minh “Lớn”, và Quốc Hội phải sẵn sàng chấp thuận sự chuyển giao, để sự chuyển giao đó có thể được thực hiện “một cách hợp hiến” (nhấn mạnh của Đại Sứ Martin) và “nhanh chóng”. [4]
Sau khi ép buộc Tướng Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng Thống, Mỹ thúc đẩy Phó Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh để đầu hàng Việt Cộng, nhưng ông Trần Văn Hương không hiểu gì về tình hình lúc đó nên tìm cách cù cưa. Ông bí mật đến gặp Tướng Minh và yêu cầu Tướng Minh làm Thủ Tướng, nhưng Tướng Minh từ chối. Tuy nhiên, do sự thúc đẩy của CIA và một số nhân vật chính trị, cuối cùng ông cũng đồng ý trao quyền cho Tướng Minh với điều kiện phải có sự quyết định của Quốc Hội.
Ngày 26.4.1975 lưỡng viện Quốc Hội đã họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sĩ và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Đốc CSQG trình bày về tình hình, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, nhiều người cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu trường đã hoạt động rất ráo riết nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đã biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh với số phiếu 147/151.
Chiều 28.4.1975, Tướng Dương Văn Minh đã nhận chức Tổng Thống. Lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng Khánh Tiết của Dinh Độc Lập.
Cũng trong chiều 28.4.1975, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, vào Dinh Hoa Lan gặp Tướng Minh cho biết tình hình và hỏi Tướng Minh có định ra đi không. Tướng Minh cho con gái là Dương Mai, con rễ là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài và hai cháu ngoại lên tàu di tản với Đô Đốc Cang, còn ông và bà Minh ở lại.
Đêm 29.4.1975, Tướng Minh vào ngũ trong Dinh Độc Lập để tránh pháo kích. Lúc đó, ông chỉ còn hy vọng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Tướng Nguyễn Hữu Có kể lại, lúc 4 giờ 35 sáng ngày 30.4.1975, Thích Trí Quang đã nói với Dương Văn Minh qua điện thoại:
“Thưa Tổng Thống, cũng như Tổng Thống là tôi vẫn chờ đến giờ nầy và theo tôi nghĩ có lẽ với tình thề hiện tại, trong sứ mạng của tôi, người đứng trung gian bắc nhịp cầu của thế cờ chính trị, có thể nói là chấm dứt. Với trọng trách là Tổng Thống, hơn nữa là một Đại Tướng, tôi nghĩ công việc phải nhờ vào tài quân sự của Đại Tướng, chứ giải pháp chính trị của tôi coi như chấm dứt, và từ giờ phút này nếu có chuyện gì xẩy đến thì mọi trách nhiệm đều do Tổng Thống, à quên Đại Tướng quyết định với giải pháp quân sự, mà trong lãnh vực này Đại Tướng rất rành và giỏi hơn tôi. Xin chào Tổng Thống…”
Dương Văn Minh chỉ trả lời gọn một câu: “Thầy giết tôi rồi!” và cúp máy điện thoại.
Lúc đó là 4 giờ 45 phút sáng. Frank Snepp kể lại, sau đó Tướng Minh đi đi lại lại một cách bực dọc (nervously) trong dinh Độc Lập trống vắng. Đoàn sứ giả đi thương lượng ở Tân Sơn Nhứt không thấy về. Có người khuyên ông nên tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, nhưng ông không đồng ý. Ông nói rất nhiều đồng bào của ông sẽ khinh ông. (Too many of his countrymen would think ill of him). Ông muốn hoản lại chuyện này cho đến khi nội các được thành lập. Khi đó ít ra những người khác phải chia xẻ sự sỉ nhục.[5]
Lúc 8 giờ 30, ông đến Phủ Thủ Tướng thảo luận lại thành phần chính phủ của Vũ Văn Mẫu rồi quay về dinh Độc Lập làm lễ ra mắt.

“Văn Kiện” Đầu hàng
Lúc 10 giờ 15 sáng ngày 30.4.1975, khi thấy không còn gì để hy vọng nữa, Dương Văn Minh lên tiếng trên đài phát thanh Sài Gòn kêu gọi quân nhân, cảnh sát và các lực lượng bán quân sự “giữ vị trí, buông súng để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”. Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng Cộng Sản đầu tiên loại T-54 tiến trên đại lộ Thống Nhứt về phía Dinh Độc Lập, ủi sập cổng, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền… Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng nhất loạt tuân lệnh.

Hai ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời đầu hàng. Nhưng khi hai ông vào bên trong đài phát thanh thì không còn nhân viên kỹ thuật nào ở đó để làm công việc thu băng. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái phải mất hai tiếng mới tìm ra nhân viên kỹ thuật. Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo, ông Minh đọc và đài phát thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30.

Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống không tới 40 tiếng đồng hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30.4.1975 đã tuyên bố đầu hàng!

Quyết định trả tự do tại dinh Độc Lập tối 2/5/1975.
Ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Binh… được trả tự do. Quyết định trả tự do của Ủy ban quân quản được thông báo tại buổi lễ trang trọng và thân mật tại hội trường dinh Độc Lập tối 2/5/1975. Tại buổi lễ này, Phó chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định Cao Đăng Chiếm đã phát biểu với một chất giọng miền Nam trầm ấm:
“…Nhân dân Việt Nam chúng ta đã trải qua cuộc đấu tranh anh dũng và khốc liệt, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để giành thắng lợi vĩ đại và vô cùng to lớn từ xưa đến nay.
Thi hành chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chính phủ mong rằng trong tình hình mới chúng ta hãy cùng nhau nỗ lực xây dựng lại Tổ quốc của chúng ta, làm cho nhân dân chúng ta giàu mạnh, Tổ quốc của chúng ta hùng cường. Do đó, chúng tôi mong rằng mỗi người VN chúng ta đều tùy theo khả năng của mình, góp công sức vào việc xây dựng Tổ quốc của chúng ta. Bữa nay, thi hành lệnh của cấp trên, các anh được tự do về với gia đình. Chúng tôi sẽ tổ chức đưa các anh về đến nơi đến chốn…”. (Trích băng ghi âm)
Đáp lại, ông Dương Văn Minh nói ngắn gọn thế này:“ …Ngày hôm nay, đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước.Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Trích băng ghi âm)Mọi người được về với gia đình ngay sau buổi lễ đó. Chiếc xe Ford màu xanh dương đậm đưa ông Minh ra khỏi dinh Độc Lập lúc 22 giờ. Khi xe chuyển bánh, vị tổng thống 48 giờ nói:- Thôi, giã từ quá khứ chết chóc. Vĩnh viễn hòa nhập vào đời sống hòa bình.(Theo Tuổi Trẻ)
NHÌN LẠI CON NGƯỜI CỦA DƯƠNG VĂN MINHTướng Nguyễn Chánh Thi tiết lộ rằng khi còn ở Pháp, Tướng Dương Văn Minh có gởi cho ông một lá thư đề ngày 15.4.1987, trong đó có đoạn như sau:
“Thi,
“Được tin Thi tôi rất mừng. Lúc nào tôi cũng nhớ anh em thuở xưa, mà tôi còn lưu lại rất nhiều kỷ niệm.
“Từ khi tôi đến nước Pháp tới nay, lật bật đã gần sáu năm rồi, sống với một cuộc đời réfugié tuy có thong thả nhưng lúc nào cũng bận tâm. Thoát được chế độ Cộng sản với hai bàn tay không – Pháp chẳng giúp đỡ gì – mình sống ẩn thân trong một đô thị thật nhỏ, kể ra cũng tạm yên.
“Nghe Thi kể chuyện các anh em quân nhân, tôi rất khổ tâm. Lúc đó tôi bị đày ở Bangkok cho nên có nhiều việc tôi không được rõ hết.
“Anh em có đọc sách của anh Đỗ Mậu kể chuyện lại cho tôi nghe; tôi phải công nhận anh Đỗ Mậu kể chuyện như vậy là rất can đảm. Lên án Cần- lao và Công-giáo đến mức đó là cùng. Ngoài ra, anh Đỗ Mậu có trách tôi không biết tự tử như các bực tiền bối, cũng có phần đúng. Nhưng đây chỉ là một vấn đề quan niệm mà thôi.
“Theo tôi, tự tử không phải lúc nào cũng là đúng. Đôi khi mình phải dám sống để hứng nhận những hậu quả cho sự quyết định của mình gây ra…”
Thân phận của Tướng Minh đã bị Hoa Kỳ biến thành một cái mền rách, nhưng vì quá yếu kém về chính trị, nên cho đến khi gần tới giờ về cỏi âm, ông vẫn chưa nhận ra được! Lãnh đạo mà như thế, mất miền Nam là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên.
Nhìn lại con người của Dương Văn Minh, chúng ta thấy có 3 đặc điểm sau đây:
Thứ nhất là tham nhũng và thiếu trách nhiệm:
(1) Biển thủ một thùng phuy vàng lấy được của Bình Xuyên và một số tiền bạc thu được sau cuộc đảo chánh 1.11.1963. Cho một tay chân bộ hạ nổi tiếng tham những là Tướng Mai Hữu Xuân kiêm ba chức quan trọng cùng một lúc để truy lùng tài sản và khảo của các viên chức chế độ cũ, đó là Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo và Đô Trưởng Sài Gòn. Tướng Xuân đã nhận cả tiền của Việt Cộng để thả các cán bộ cao cấp của Việt Cộng ra.
(2) Không quan tâm đến tình hình miền Nam sau cuộc đảo chánh và có quyết định sai lầm: Ra lệnh phá hủy các ấp chiến lược đã được thiết lập để đối phó với Cộng Sản, đưa miền Nam tới bờ vực thẳm khiến Hoa Kỳ phải thực hiện “Pentagon’s coup” để lật đổ và đưa quân vào miền Nam cứu vãn tình thế.
Thứ hai là ngố:
Mặc dầu làm việc với Hoa Kỳ và hành động theo sự xúi biểu của Hoa Kỳ, ông không hiểu gì về chính sách và thủ đoạn của Hoa Kỳ trong từng giai đoạn, nên đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ:
(1) Ông bị biến thành một tên sát thủ giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn thay cho người Mỹ khi Hoa Kỳ muốn thay đổi chính sách. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó ông bị Hoa Kỳ loại và đưa những tay chân bộ hạ của CIA lên cầm quyền.
(2) Khi Miền Nam sắp sụp đổ, ông bị Hoa Kỳ lường gạt bằng chiêu bài “hoà giải hoà hợp” để đưa ông ra làm Hàng Tướng!
Thứ ba là hèn:
(1) Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, cận vệ thân tín của ông, được ông phái đi giết Đại Tá Lê Văn Tung và Thiếu Tá Lê Văn Triệu, sau đó hạ sát ông Diệm và ông Nhu. Ấy thế mà sáng 30.1.1964, khi linh Nhảy Dù bắt Thiếu Tá Nhung trước mặt ông và dẫn đi, rồi tối hôm đó hạ sát, ông chẳng có một lời nào!
(2) Sáng ngày 30.4.1975, bộ chỉ huy 3 chiến thuật của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đang quần thảo với Việt Cộng trước cổng Bộ Tổng Tham Mưu ở Lăng Cha Cả thì Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng. Thiếu Tá Phạm Châu Tài, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy 3 chiến thuật, đã nói chuyện với Tổng Thống Dương Văn Minh qua điện thoại:
– Tôi là chỉ huy trưởng cánh quân đang tử chiến với Việt Cộng ở Bộ Tổng Tham Mưu, tôi đang cố liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu thì lệnh ngưng chiến đã ban ra và quân của Việt Cộng vẫn còn đang tiến về thủ đô. Tôi vào trong Bộ Tổng Tham Mưu thì không còn một tướng lãnh nào ở đây, họ đã bỏ chạy hết, do đó tôi muốn nói chuyện với Tổng Thống để xin quyết định.
Tổng Thống Minh trả lời:
– Các em chuẩn bị bàn giao đi.
Thiếu Tá Tài hỏi lại:
– Có phải là đầu hàng không?
Tổng Thống Minh trả lời:
– Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng của Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập.
Thiếu Tá Tài nói:
– Nếu xe tăng của Việt Cộng tiến về Dinh Độc Lập thì chúng tôi sẽ đến cứu Tổng Thống. Nếu Tổng Thống ra lệnh đầu hàng thì Tổng Thống có chịu trách nhiệm với hơn 1000 quân đang tử chiến ở Bộ Tổng Tham Mưu hay không?”
Tổng Thống Minh trả lời:
– Tùy ý các anh em.
Nói xong cúp máy!
(3) Ký giả Borries Gallasch, phóng viên tờ Der Spiegel của Đức, người ký giả ngoại quốc duy nhất có mặt trong Dinh Độc Lập vào sáng 30.4.1975, đã kể lại thái độ của Tướng Dương Văn Minh khi đối diện với các bộ đội cộng sản đến bắt ông đầu hàng như sau: Đại Tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò… Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?”.
Làm tướng mà phải đầu hàng là nhục rồi, nhưng lại còn hèn hơn nữa khi nói mé cho những tên bộ đội nhỏ bé của Cộng quân biết rằng ông có người em theo Việt Cộng là Dương Văn Nhựt để chứng tỏ ta đây cũng thuộc “gia đình Cách Mạng”!
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG
Ngày 8.8.1983, Dương Văn Minh, được chính quyền Hà Nội cho phép di cư sang Pháp và sống với hai người con trai là Dương Minh Đức và Dương Minh Tâm. Khoảng năm 1988, ông âm thầm qua Pasadena, Nam California, Hoa Kỳ, và sống với con gái là Dương Mai đang định cư ở đó. Trong những những ngày còn lại của cuộc đời, Tướng Dương Văn Minh phải sống trong bóng tối, không dám gặp cộng đồng người Việt tại đây.

Ngày 5.8.2001, ông bị té từ xe lăn, được đưa vào bệnh viện Huntington Memorial Hospital và qua đời ngày hôm sau, hưởng thọ 86 tuổi. Linh cữu ông cũng được phủ cờ vàng ba sọc đỏ, được di chuyển lên xe bởi 6 người thân gồm các ông Hoa Hải Đường, Nguyễn Hồng Đài, Trịnh Bá Lộc, Hoa Hải Thọ, Ngô Long và Nguyễn Trí Dũng. Sau đó, linh cửu ông đã được hoả thiêu trưa thứ bảy 18.8.2001 vào lúc 12 giờ tại vãng sanh đường Skyrose thuộc nghĩa trang Rose Hill, Nam California.
Lữ Giang
29.4.2009
Ghi chú:
[1] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một trời tâm sự, Xuân Thu, Hoa Kỳ 1987, tr. 27 và 28.
[2] Huỳnh Văn Lang, Nhân chứng một chế độ, Tập II, California, Hoa Kỳ, tr. 66 – 70.
[3] Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, Xuân Thu, California, Hoa Kỳ 1989, tr. 231.
[4] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr. 382 – 383.
[5] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr. 54
DƯƠNG VĂN MINH, TÊN VC NỘI TUYẾN, TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC.
" BAO GIÀN chính phủ BÀN GIAO giặc.
TƯỚNG GIAN nội tuyến, TÁN DƯƠNG lầm".
Nhân vật Dương Văn Minh, được coi là có quan hệ vô cùng mật thiết đến vận mệnh lịch sử, nhất là những việc làm của hắn ta, có tác động đến sự suy vong, tang tóc của nước Việt Nam qua hai cuộc biến động lịch sử miền nam tự do trước 1975.
Là một tướng lãnh hàng đầu trong quân lực VNCH, chỉ đứng sau cố thống tướng Lê Văn Tỵ, tuy nhiên đại tướng Dương Văn Minh là kẻ gây ra hai cuộc biến động lịch sử, tác động sâu xa, hệ quả đến ngày nay là: cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 và ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Dương Văn Minh, cùng với chuẩn tướng" nội tuyến" Nguyễn Hữu Hạnh, bàn giao toàn miền nam cho giặc Cộng, đưa đất nước vào xiềng xích thống trị của bầy súc vật Việt Cộng.
Trong thời gian miền nam tự do trước năm 1975, hình ảnh đại tướng Dương Văn Minh được một số người lầm lẫn là người theo Phật Giáo, có lòng nhân từ, hiền đức… dù là theo khối Ấn Quang, trong thời kỳ thượng tọa Thích Trí Quang được nhiều Phật tử tôn vinh như là" thánh tăng", ở Huế gọi là Ôn, thay gì ông, bình thường.
Đại tướng Dương Văn Minh gây ra nhiều tội ác đối với dân tộc và đóng góp tích cực cho súc vật Việt Cộng, đưa đến sự sụp đổ miền nam từ đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 đến 30 tháng 4 năm 1975; tội ác của Dương Văn Minh, cộng với Nguyễn Văn Thiệu quá lớn, mỗi tên mỗi cách, gây ra cái chết của rất nhiều người, nhưng từ lâu, bình phong sĩ quan cấp tướng của hai người khỏa lấp tội ác, nhưng họ khó có thể che đây được lâu, khi mà:" những lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ" đã bị phanh phui theo dòng thời gian.
" Nguyễn Văn Thiệu, máu xương di tản.
Dương Văn Minh, tội ác bàn giao".
Sau khi làm những việc thầm kín, móc nối với Việt Cộng qua hai biến động lịch sử 1 tháng 11 năm 1963 và 30 tháng 4 năm 1975, chính Dương Văn Minh và một số thuộc cấp thân tính, biện minh là:" chuyện đầu hàng vô điều kiện với Việt Cộng chỉ nhằm để tránh đổ máu cho dân chúng". Nhưng thực ra, nếu Việt Cộng với các sư đoàn chánh qui bắc việt và du kích miền nam tràn vào, thì bài học trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968 tái diễn, chính Việt Cộng mới bị đổ máu nhiều và tình hình có khả năng đảo ngược do: quân lực VNCH có nhiều kinh nghiệm, dân chúng biết quá rõ Việt Cộng từ năm 1968, có thêm lực lượng nhân dân tự vệ ( có khả năng giữ xóm làng, phường xã..dù vũ khí thời đệ nhị thế chiến, cũng bắn chết địch), nếu khi chiến trận ác liệt diễn ra, thì quốc tế, các nước trong khối tự do nhìn thấy sự quyết tâm chiến đấu của quân dân miền Nam, họ sẽ không làm ngơ, nhất là về mặt nhân đạo là cảnh Việt Cộng tấn công vào khu đông dân cư, có lợi cho miền nam nhiều về mặt công luận quốc tế.
Những biện bạch, tung hỏa mù của tên tướng nội tuyến Dương Văn Minh và thuộc cấp thân tín, không thể nào thuyết phục dân chúng, nhất là quân nhân VNCH, nên chiến thuật chạy tội theo kiểu" chén úp đầu voi" để dấu con coi là không có tác dụng.
Bức màn lịch sử lần lượt được vén lên, dưới ánh mặt trời không có gì là bí mật, ngay cả những chuyện thuộc loại" thâm cung bí sử" cùng phơi bày sau thời gian dài dấu kín. Đại tướng Dương Văn Minh, tội đồ dân tộc, tên Việt Cộng nội tuyến vô cùng nguy hiểm, chính là một trong những thủ phạm đưa đến sự thất thủ miền nam, nhất tướng công thành vạn cốt khô và Dương Văn Minh là:" nhất tướng đầu hàng, triệu thác oan".
Sự đầu hàng, bàn giao miền nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, là theo ý muốn của đảng súc vật Việt Cộng qua việc móc nối bí mật từ nhiều năm, đưa đến cái chết của hàng ngàn người bị hành quyết trong những ngày đầu tiên khi Việt Cộng tiếp thu, trả thù những chiến sĩ can trường trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, hàng trăm ngàn quân nhân cán chính miền nam bị hành hạ trong các trại tù dã man, ngụy trang là" cải tạo", hàng triệu người bị lùa đi kinh tế mới, tài sản bị cướp hàng triệu người chết trên đường tìm tự do….nên con số người chết sau khi bị Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh bàn giao miền nam cho giặc Cộng, còn cao rất nhiêu so với con số người chết trong cuộc chiến của miền nam. Thà rằng tử chiến, một mất một còn, hơn là bị giặc Cộng cầm tù, hành hạ.
Đó là tội ác của tên phản quốc, Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh đối với dân tộc, nhất là quân nhân cán chính miền nam. Những kẻ nầy không còn xứng đáng, tư cách đứng chung trong hàng ngũ quốc gia, chúng là những tên Việt Cộng nằm vùng vô cùng nguy hiểm hơn kẻ thù ngoài chiến trường. Nhất là chúng là tướng lãnh, quyền lực, tác hại khôn lường, nên trên thế giới nầy, không có một quân đội hùng mạnh nào tồn tại, nếu cấp chỉ huy là nội ứng cho giặc.
Đại tướng Dương Văn Minh cũng là tổng thống" vi hiến" sau cùng nước Việt Nam Cộng Hòa, sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Thân phụ là ông Dương Văn Huề, gốc Hoa, khi đi học, mượn tên của một người bà con là Dương Văn Mau, đầu tiên làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi hàm đốc phủ sứ.
Ông Dương Văn Huề kết hôn với bà Nguyễn Thị kỷ, ăn ở nhau có 7 mặt con : 4 trai, 3 gái. Dương Văn Minh là con cả, kế là Dương Thanh Nhựt là người tham gia hoạt động cho Việt Minh Cộng Sản từ năm 1944, là một tên Cộng Sản nguy hiểm, thâm niên, có mặt trong cái gọi là:" đánh Tây giành độc lập và đánh Mỹ cứu nước", nên tên Dương Thanh Nhựt được đảng súc vật Việt Cộng phong quân hàm đại tá, đóng góp một phần rất lớn qua công tác móc nối, quan hệ mật thiết trong công tác binh vận với anh là Dương Văn Minh, trong thời gian là tướng lãnh miền Nam. Đứa em thứ 5 trong gia đình tên là Dương Thanh Sơn, là sĩ quân lực VNCH
Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sau đó trở thành sĩ quan dự bị của Pháp từ năm 1942. Năm 1946 mang cấp bậc thiếu úy, chức vụ đại đội phó, sau đó lần lượt thăng cấp tá, được gởi sang học trường Võ Bị Pháp.
Trong thời gian làm lớn, Dương Văn Minh đã từng giúp cho Việt Cộng nằm vùng thoát khỏi mạng lưới an ninh, điển hình như can thiệp cho người em trai của bà Bùi Thị Mè, là thiếu tá trong quân lực VNCH, đang bị tình nghi, điều tra có quan hệ hoạt động nội tuyến cho Việt Cộng. Do tàng lộng lớn từ tướng Dương Văn Minh, nên người đang bị điều tra thoát được, nhưng thực tế thì đây là đường dân gián điệp có quan hệ đến tên Nguyễn Minh Triết, tức là Bảy Trung.
Trung tướng Dương Văn Minh là người cầm đầu cuộc đảo chánh phản loạn ngày 1 tháng 11 năm 1963, hạ sát tổng thống Ngô Đình Diệm và em trai là ông Ngô Đình Nhu, là hai đối tượng hàng đầu mà Việt Cộng cũng như súc vật Hồ Chí Minh muốn thanh toán, Dương Văn Minh lập công đầu và rất lớn đối với Việt Cộng. Rồi sau đó, những cuộc tranh quyền từ chỉnh lý Nguyễn Khánh đến chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu, cuối cùng chính Dương Văn Minh lại nhảy ra để bàn giao miền nam cho giặc Cộng ngày 30.4.1975, được an toàn, bình an sống tại căn nhà ở số 98 Đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai.
Một tên nằm vùng nguy hiểm, lộ rõ bản chất vô liêm sĩ, phản bội đê hèn sau khi bàn giao đất nước cho Việt Cộng, muối mặt nhận" quyền công dân" của các gọi là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đoạn trân tráo tuyên bố trong lần bầu cử quốc hội bù nhìn đầu tên cả hai miền năm 1976:" lần đầu tiên trong đời, được cầm lá phiếu trong cuộc bầu cử dân chủ" (sic).
Trong khi đó, cụ Trần Văn Hương, hạ sĩ danh dự, từ chối không thèm nhận quyền" công dân" và cả 100 kí gạo hàng tháng của VC, ông khẳng khái nói là: " anh em binh sĩ bị đói trong tù".
Công Dân Dương Văn Minh sống rất là thoải mái, bình thản, dù trong lúc bị mang chứng tiểu đường, thường quan hệ mật thiết với lãnh đạo bí thư thành ủy là Võ Văn Kiệt qua trung gian của bà Bùi Thị Mè, là người có thân nhân Việt Cộng nằm vùng, từng được Dương Văn Minh giải cứu trước đây.
Năm 1983 Dương Văn Minh được " bố trí" xuất ngoại, đầu tiên sang Pháp với lý do chửa bịnh và thăm con, dù chính phủ Pháp đề nghị giúp vé phi cơ, chi phí, nhưng hắn từ chối và cho là:" đã có chính phủ Việt Nam lo rồi". Ông sống ở Pháp thoải mái, không cần trợ cấp của chính phủ…hình như ông cũng có" lương" của Việt Nam?
Nhìn hai cuộc biến động lịch sử năm 1963 và 1975, một số người lầm tưởng là Dương Văn Minh chỉ làm theo cảm tính cá nhân là ghét chính phủ Ngô Đình Diệm, hay chịu ảnh hưởng phe Ấn Quang, nhất là cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm, em là Ngô Đình Nhu, có nhiều nghi ngờ, tin đồn là do một số tướng như Mai Hữu Xuân, Đổ Mậu…thù hằn cá nhân mà giết để trả thù. Nhưng thực ra, trung tướng Dương Văn Minh đã làm nội ứng cho Việt Cộng từ năm 1962, được móc nối với một số tổ chức tình báo, gián điệp Việt Cộng là: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 ( phụ trách vùng Saigon-Gia Định), ban Trí vận...nên có thể là Dương Văn Minh là thủ phạm giết Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, theo chỉ thị của đảng Cộng Sản Việt Nam để loại trừ hai đối tượng nguy hiểm hàng đầu của VC. Một điều không ai phủ nhận là: sau khi đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, Dương Văn Minh đã thả hầu hết những tên gián điệp Việt Cộng nằm vùng về bưng, trong đó có tên trùm tình báo là Mười Hướng ( Nguyễn Ngọc Ban).
Được biết, vào tháng 9.1972, Ban An ninh T4, phụ trách vùng Saigon-Gia Định, tiến hành việc hành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng gián điệp nằm vùng bí mật trong một số đối tượng, mà trong đó có thành phần thứ ba, đặc biệt là có nhóm Dương Văn Minh, bao gồm các thành viên trong bộ phận đầu não của nhóm nầy, gồm có các báo Điện Tín, Đại Dân Tộc….
Đầu năm 1975, tên Trần Quốc Hương, bí danh Mười Hương, là Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo cho cụm tình báo chiến lược A10 tìm cách thâm nhập vào thành phần thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động thành phần này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Thời gian này, Cụm tình báo chiến lược A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt, tức là Huỳnh Bá Thành được bố trí ở luôn trong nhà Dương Văn Minh để chỉ đạo công tác và tham gia viết và in tuyên cáo, từng bước từ việc “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức tổng thống, đoạn đưa Dương Văn Minh lên cầm quyền, hầu tiến hành công tác cuối cùng là chiếm trọn miền nam mà không bị thiệt hại lớn như trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968 trước đây, điều Việt Cộng rất sợ, vì lần nầy thất bại, thì Việt Cộng bị thiệt hại rất lớn, có khả năng đưa đến sự sụp đổ miền bắc. Công tác nội tuyến cuối cùng của tên Dương Văn Minh là:" bàn giao miền nam cho Việt Cộng", là công rất lớn đối với đảng súc vật Việt Cộng.
Kể từ ngày 1 tháng 3 và đến cuối tháng 3 năm 1975, tên Huỳnh Bá Thành còn được tăng cường thêm một số tên Việt Cộng như Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…để thực thi theo chỉ thị của súc vật Mai Chí Thọ, lúc đó là bí thư thành ủy, được góp ý của tên Trần Thanh Vân, phó ban an ninh T 4, nên Mai Chí Thọ khẳng định:
“...Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.
Nhưng thực ra thì chúng rất sợ bị hỏa lực của quân lực VNCH tiêu diệt, khi chúng dốc toàn lực vào toàn thành thị, thôn ấp miền nam như là" trận cuối là trận nầy", khi dân quân miền nam một lòng tử chiến để sống còn.
Công tác nằm vùng của tên Dương Văn Minh đã được chuẩn bị khá kỷ từ năm 1960, theo yêu cầu của Ban Binh Vận Xứ Ủy Nam Bộ, là tiền thân của Trung Ương Cục Miền Nam, đề cử tên Việt Cộng là Võ Văn Thời, cục trưởng cục chính trị quân đội Nhân Dân Việt Nam trong việc điều động tên Dương Thanh Nhựt, bí danh Mười Ty, là em ruột của Dương Văn Minh, về công tác tại cục, với mục đích để móc nối với tướng Dương Văn Minh làm nội ứng.
Đến cuối tháng 12 năm 1960, thì Dương Văn Nhựt mới chính thức hoạt động và làm công tác móc nối. Do tình cảm anh em, nên công tác binh vận không gặp khó khăn, nhất là Dương Văn Minh là sĩ quan cấp tướng trong quân lực VNCH.
Đến tháng 8 năm 1962 tên Mười Ty móc được với gia đình qua tiến trình sau đây: trước hết là liên lạc với ông Nguyễn Văn Di, là cậu ruột. Qua người cậu nầy, tiến hành móc nối vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty bí mật thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội VNCH và em thứ tám là Dương Thu Vân.
Sau khi dàn dựng công tác có hệ thống, nhận thấy tình hình thuận lợi, nên tên Mười Ty hướng dẫn cán bộ, bí mật đem ý kiến của lãnh đạo đảng súc vật Việt Cộng để thảo luận với trung tướng Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm.
Khai thác sự bất mãn của Dương Văn Minh, sau khi dẹp Bình Xuyên và Hòa Hảo, bị chính phủ Ngô Đình Diệm không tin cậy, cho ngồi chơi xơi nước, vì sau khi đánh chiếm được căn cứ địa của Bình Xuyên, chính Dương Văn Minh đã tịch thu nhiều tiền, vàng của Bảy Diễn, nhưng lại ém nhẹm, không chịu giao nộp chiến lợi phẩm cho chính phủ để dùng vào việc công ích; đây là điều mà chính phủ Ngô Đình Diệm không ưa, chứ không phải là chính phủ Ngô Đình Diệm phủ nhận công lao của hắn. Tuy nhiên, Dương Văn Minh tung hỏa mù để khỏa lấp bản chất tham lam của hắn, hầu được tiếng tốt và gây thù hằn, phân hóa trong hàng ngũ quân đội, chính quyền miền nam.
Do sự móc nối và chỉ đạo của Việt Cộng, nên ngày 01 tháng 11 năm 1963, Trung tướng Dương Văn Minh, kết hợp cùng với một số phản tướng, phản tá, đảo chánh thành công và lên làm Chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Được biết, kế hoạch đảo chánh đã được tên Mười Ty nắm vững và đã báo về Ban binh vận Trung Ương Cục trước khi hành động. Như vậy, cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 là do chỉ đạo của Việt Cộng qua tên đại tá Mười Ty, em ruột của Dương Văn Minh.
Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, tên Mười Ty có bí mật vào nhà Dương Văn Minh cư trú, và sau đó sang nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, tên Mười Ty được Dương Văn Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược…thực thi lịnh của Việt Cộng, nhưng bề ngoài, tên Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh biện bạch, ngụy trang là:" cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà..".
Sau đó, Dương Văn Minh ra lịnh hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược, khiến đại sứ Mỹ Cabot Lodge ngạc nhiên hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế ? Ông trả lời, đại ý: "Người VN có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó, tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình".
Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu trung tướng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng, làm tê liệt kinh tế miền bắc, dân chúng có khả năng đứng dậy vì đói, chiến tranh sẽ sớm chấm dứt... nhưng Dương Văn Minh từ chối. Nếu áp dụng đúng, thì Việt Cộng đã đầu hàng và đại họa không di truyền đến ngày nay, đất nước lạc hậu và sắp rơi vào vòng nô thuộc của Trung Cộng. Tháng 1.1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A, gởi biệt kích ra bắc, nhưng Dương Văn Minh không phúc đáp.
Theo sự yêu cầu của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nên tên Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do theo mưu đồ của Việt Cộng, nhưng bề ngoài được ngụy trang trong vỏ bọc: miền nam với một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp với Việt Cộng. Tuy nhiên Hoa Kỳ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập và hầu hết những người có kinh nghiệm với Cộng Sản đều không chấp nhận, nên mới có những câu: liên hiệp với Cộng Sản là tự sát.
Dương Văn Minh có những hành động có lợi cho Việt Cộng, dù các cơ quan an tinh, tình báo như C.I.A, chưa tìm ra bằng chứng. Nhưng để Dương Văn Minh càng lâu, càng tạo điều kiện cho Việt Cộng thắng lợi, nên sau đó, vào cuối tháng 01.1964, trung tướng Nguyễn Khánh tổ chức đảo chánh, gọi là chỉnh lý và lên làm quốc trưởng. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay CS”. Dương Văn Minh trở thành đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan.
Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của tên Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, tên Dương Văn Nhựt, tức là Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân, có thời gian, tên Mười Tỵ cư trú tại nhà Dương Minh Đức ( con trai của Dương Văn Minh). Được biết, sau khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng lúc đó cơ quan tình báo CIA nghi ngờ nên khuyên cáo Dương Văn Minh nên về Thái Lan.
Khi Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là Dương Văn Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua việc dùng Dương Thu Vân và cháu là Dương Văn Đức truyền đạt ý kiến của cấp trên là đảng Cộng Sản cho Dương Văn Minh. Sau đó Dương Minh Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần". Nhưng việc nầy rất khó thực hiện khi mà Hoa Kỳ vẫn còn giúp miền nam, vì Dương Văn Minh không có quyền hành nữa
Trước tình hình nầy, tên Mười Ty trở về Hà Nội để gặp súc vật Lê Duẩn. Trong bửa cơm với Lê Duẫn, có Mười Ty và Võ Văn Thời để bàn thảo kế hoạch. Sau khi nghe Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, tên súc vật Lê Duẩn khen Dương Văn Minh có tinh thần hợp tác và có nhận định chính xác.
Đến cuối năm 1970, theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận, tăng cường với tên nội tuyến Việt Cộng Dương Văn Minh trong việc phối hợp công tác nội gián. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của Việt Cộng trong hàng ngũ sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh dễ dàng và thuận lợi. Đồng thời bọn Việt Cộng cử thêm tên Nguyễn Tấn Thành, tứ là Tám Vô Tư, là bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh trong công tác nội ứng.
Tháng 3 và 4 năm 1975, tên Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh để giao công tác. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Tám Vô Tư gợi ý với chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh để tiếp cận với Dương Văn Minh ngay, nếu khi tên Dương Văn Minh lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến để tạo thắng lợi cho Việt Cộng, theo đúng ý đồ của Việt Cộng.
Cho nên sau khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28 tháng 4 năm 1975, từ Cần Thơ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Saigon gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng quân lục VNCH. Với các cương vị này, tên tướng nội tuyến Nguyễn Hữu Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Saigon “án binh bất động”, tan rã tại chỗ qua lịnh, không nổ súng làm thiệt hại lớn cho Việt Cộng trên đường tiến vào Saigon và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao cho Việt Cộng.
Tiến trình công tác nội ứng trong việc bàn giao miền nam cho Việt Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975 còn có sự tham dự của cụm siêu điệp VĐ2, nằm trong phòng tình báo chiến lược M22, thuộc trung ương cục miền nam, chúng thúc đẩy, chỉ đạo, cố vấn để giúp cho" tổng thống vi hiến" Dương Văn Minh mau hoàn thành công tác đầu hàng, được thông qua tên kỷ sư Tô Văn Cang.
Do đó vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, tên Tô Văn Cang đến tiếp xúc và" hội ý" với tên đại tá Việt Cộng là Nguyễn Văn Khiêm, bí danh Sáu Trí, đang cư trú tại nhà tên Ba Lễ ( thuộc cơ sở gián điệp nằm vùng Việt Cộng), ở một con hẻm, đường Triệu Đà, Saigòn làm trung gian, liên lạc qua một người tên là Nguyễn Văn Diệp ( thuộc chính phủ Dương Văn Minh) trong việc" liên hệ công tác" là gặp phía tổ chức Việt Cộng, của các gọi là:" chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam".
Tên đại tá Việt Công Sáu Trí chỉ đạo Dương Văn Minh thực hiện công tác đầu hàng vô điều kiện qua sự liên lạc của Nguyễn Văn Diệp, sau đó trình lại cho Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu…nên miền nam rơi vào tay giặc Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975 một cách tức tưởi, trong khi đó miền nam vẫn còn hơn 100 ngàn quân, vùng 4 chiến thuật có kế hoạch phản công và nhất là miền tây còn có lực lượng Hòa Hảo.
Cuộc bức tử miền nam Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975 là do tên phản quốc, Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh thực hiện" đầu hàng vô điều kiện" và Nguyễn Hữu Hạnh: " bàn giao trong vòng trật tự", làm gảy cả kế hoạch phản công từ vùng 4 chiến thuật do các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai…đảm trách để cứu nước, nên sau đó, các vị đã tuẫn tiết, đền xong nợ nước.
Kẻ phản gian, Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh phè phởn sống trong niềm tự hào" công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", đoạn được bố trí xuất ngoại, hình như cũng làm công tác của đảng ở nước ngoài? Điều nầy cũng có thể đặt ra đối với trường hợp của Dương Văn Minh, từng có quá trình làm nội tuyến cho Việt Cộng qua hai cuộc biến động lịch sử: phá nát miền nam qua đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 và bàn giao miền nam cho giặc Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Sự bàn giao miền nam" trong vòng trật tự" cho giặc Cộng của tên Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh và đồng bọn nằm vùng ngày 30 tháng 4 năm 1975, đưa đất nước đến tang thương, nên ngày nầy là ngày QUỐC HẬN. Tuy nhiên, bọn Việt Gian muốn xóa hết tội ác, chúng tìm đủ mọi cách thay đổi tên" từ ngày quốc kháng, ngày tỵ nạn và nay là NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO…chúng" hồ hởi phấn khởi" phát động" diễn hành" để ăn mừng" như có bác trong ngày vui đại thắng" ngay tại vùng đất của người bỏ nước ra đi tìm tự do, là một thách thức nghiêm trọng, khinh thường mọi người. Nếu ai diễn hành là đồng bọn, cùng nhau mừng ngày Việt Cộng chiếm miền nam.
Quân lực VNCH kiên cường, giữ đất suốt hơn 20 năm, tạo những chiến công lẫy lừng: Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972..và làm chủ tình hình trên khắp chiến trường từ Quảng Trị đến Cà Mau. Tuy nhiên, cấp lãnh đạo trung ương đã làm cho miền nam sụp đổ sau vụ đảo chánh phản loạn của tên Việt Cộng nội tuyến, trong vai trò trung tướng Dương Văn Minh. Nếu miền nam không bị đảo chánh, ấp chiến lược được duy trì, thì Việt Cộng khó mà vùng dậy, miền nam có khả năng vượt xa hơn nhiều nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai…có thể sánh cùng với Nam Hàn ngày nay.
Sau đảo chánh, tình hình chính trị trung ương rối loạn, là điều mà súc vật Việt Cộng rất mong muốn, đó là công đầu của tên Dương Văn Minh, tiếp theo là thời đại tướng Nguyễn Khánh cầm quyền, nhưng ông nầy lại tìm cách móc nối với Việt Cộng bằng cách thả vợ của tên Huỳnh Tấn Phát là Bùi Thị Nga vào mật khu, có mang theo mật thư móc nối.
Sau đó là thời thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, xảy ra cuộc tranh quyền với trung tướng Nguyễn Văn Thiệu. Cuộc bầu cử năm 1971, tên Nguyễn Cao Kỳ, vì quyền lợi cá nhân nên đã lấy 2 ngàn quả lựu đạn M-K 3 của quân đội, cung cấp cho đám Việt Cộng nằm vùng là Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi…để phá hoại phòng phiếu.
Đến thời Nguyễn Văn Thiệu, phá nát quân đội ở quân khu 1 và 2 bằng cuộc rút quân hổn loạn, được gọi là:" tái phối trí lực lượng" và biến thành" di tản chiến thuật", gây cái chết của hơn 150.000 dân, để lại cho Việt Cộng hơn 100 phi cơ và 70 ngàn tù binh ( nhiều người bị hành quyết)…Nguyễn Văn Thiệu cũng là tội đồ dân tộc, chính hắn phá nát quân đội VNCH qua những việc làm: ban lịnh bất nhất" sáng rút, chiều tàu chiếm", rút hết các đơn vị tổng trừ bị là Thủy Quân Lục Chiến, Dù, trói chân trung tướng Ngô Quang Trưởng, sau đó mất quân khu 1, ép thiếu tướng Phạm Văn Phú rút quân, nhưng tướng Phú phản đối, nên tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm thăng cấp chuẩn tướng cho đại tá Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc di tản trên tử lộ là quốc lộ 7, khiến nhiều người bị chết.
Một điều đau lòng là: vấn đề an ninh, tình báo, có mặt yếu kém, khi các giới chức an ninh phát giác ra Việt Cộng nội tuyến, nhưng gốc lớn như tướng lãnh, nên người phát giác trình lên cấp trên, bị vạ lây, nhiều khi mất chức, bị đổi đi nơi khác. Do ảnh hưởng lối suy nghĩ xưa "quan lại" nên những tên Việt Cộng nằm vùng cao cấp, như trung tướng Dương Văn Minh, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh vẫn nằm vùng trong bình phong cấp tướng. Việt Cộng không tài giỏi, nhưng miền nam vấp phải những sai phạm nghiêm trọng về mặt an ninh, tình báo…hậu quả bài học nầy kéo dài đến ngày nay./.
Trương Minh Hòa
TÌNH NGHĨA và CHÍNH TRỊ

Mời quí vị đọc một bài viết về chuyện năm xưa: ông Bang Trưởng Mã Tuyên ở Chợ Lớn bị Tù vì Tội đã đón tiếp Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trong đêm Tổng Thống đi khỏi Dinh Gia Long năm 1963.
Bài của người viết Phạm Thắng Vũ.
Hàng năm, cứ đến ngày 1 tháng 11 nhiều người dân Việt miền Nam Việt Nam nhớ lại ngày này trong năm 1963 mà ngày hôm sau, dẫn đến cái chết của Tổng Thống Ðệ Nhất Cộng Hòa Ngô Ðình Diệm và người em ruột là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu.
Có quá nhiều bài viết, tài liệu và sách báo đã nói về cái chết của hai người này. Ai là kẻ ra lệnh giết và tại sao họ bị giết chết khi họ (anh em Tổng Thống) đã chấp nhận đầu hàng (với đám tướng lãnh cầm đầu phe đảo chánh) thì sách báo (trong và ngoài nước) đã viết rất nhiều nên không cần phải viết lại. Tác giả xin viết khác một chút.

(Ảnh năm 1960, Sài Gòn)
Một người không chút dính dáng gì đến chính quyển và quân đội miền Nam VNCH, cũng không phải là dân Bắc kỳ di cư 1954 mà chỉ vì một chút tình cảm riêng với cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm mà gánh họa vào thân ngay sau khi đám tướng lãnh đảo chánh thành công. Người đó là ông Mã Tuyên, một thương gia Việt gốc Hoa Triều Châu. Ông chuốc họa là vì ông đã chứa chấp anh em cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm-Ngô Ðình Nhu trong đêm 1-11-1963.
Khi đó ông Mã Tuyên tuổi độ trên 50, ông là Tổng Bang trưởng của 10 Bang người Hoa tại vùng Chợ Lớn ( thuộc Quận 5 nội thành Sài Gòn). Thực sự, nhiều người biết chuyện anh em Tổng thống Ngô Ðình Diệm-Ngô Ðình Nhu trong đêm lẩn trốn (từ Dinh Gia Long) đã đến tá túc tại nhà ông Mã Tuyên nhưng hầu như không ai biết gì về thân thế ông Mã Tuyên. Mặt mũi ông, gia cảnh ông? Ông Mã Tuyên đã kể lại giờ phút Rồng đến nhà Tôm như sau:
Lời ông Mã Tuyên: “Khi đó độ 5 giờ chiều, tôi đang nghe tin tức radio thì chuông điện thoại reo. Tôi bắt máy, người gọi đến là ông Ðô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn, ông ngỏ ý muốn gặp tôi gấp tại Trụ sở Thanh Niên Cộng Hòa Quận 5 ( khi trước là Khu Sòng bạc Ðại Thế Giới của Bẩy Viễn, người cầm đầu Lực lượng vũ trang Bình Xuyên). Tôi bảo tài xế của tôi chở tôi đến đó, chờ đến 6 giờ 30 thì ông Ðô trưởng đến, ông nói với tôi :
“Tổng thống muốn đến nhà ông lánh nạn.”
Tôi nhận lời ngay và đi ngay về nhà chuẩn bị. Khoảng 7 giờ 30 tối, hai xe Citroen chạy đến nhà tôi ( Số 34 đường Ðốc Phủ Thoại ) với 8 người: Tổng thống Ngô Ðình Diệm, Cố vấn Ngô Ðình Nhu, ông Ðỗ Thọ, ông Ðô trưởng và 4 nhân viên bảo vệ.”
Ông Mã Tuyên cho biết, nghỉ ngơi tại nhà ông cho đến nửa đêm thì Tổng thống Ngô Ðình Diệm đưa cho ông một số giấy tờ nhờ ông đốt. Tổng thống nhờ ông canh chừng máy điện thoại dưới nhà và Tổng thống liên tục sử dụng điện thoại trên lầu để gọi đi nhiều nơi, có nhiều nơi gọi điện thoại đến cho Tổng thống. Nhà ông Mã Tuyên là 3 căn phố liền nhau gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu. Ông gắn điện thoại trong các tầng lầu.
Chuông điện thoại reo liên tiếp từ nửa đêm cho đến sáng. Tổng thống xuống tầng trệt khi trời đã sáng, khi đó tiếng súng chỉ còn nổ thưa thớt trong đô thành, sắc diện của Tổng thống Ngô Ðình Diệm cho ông Mã Tuyên biết tình thế đã trở nên tuyệt vọng…
Tổng Thống cho ông Mã Tuyên biết Lữ Ðoàn Phòng Vệ – có nhiệm vụ bảo vệ Dinh Gia Long – đã ngưng chống cự. Ông Mã Tuyên kể hai ông Diệm, Nhu ngồi cầu nguyện, sau đó dùng điểm tâm món bánh bao, xíu mại và uống cà phê cùng với ông. Tổng thống hỏi ông Mã Tuyên về nhà thờ lớn nhất vùng Chợ Lớn ở gần đấy là Nhà Thờ Phanxico, nhà thờ được gọi là Nhà Thờ Cha Tam. Tổng Thống cho biết hai anh em ông sẽ đến thánh đường đó. Sau khi Tổng thống và ông Cố vấn thay y phục khác xong thì Tổng thống Diệm bảo ông Mã Tuyên đừng đi theo. Ông Mã Tuyên bảo người tài xế của ông, lái chiếc xe Traction mầu đen, chiếc xe thường đưa đón các con ông đi học, đưa Tổng thống, ông Cố vấn cùng người tùy viên Ðỗ Thọ đến Nhà Thờ Cha Tam. Những diễn biến kế tiếp ở Nhà thờ Cha Tam thì báo chí đã đăng đầy nên bài này không kể tiếp.
5 ngày sau đó, ông Mã Tuyên bị Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng (HÐQNHCM) bắt giam trong 3 năm. Tài sản của ông bị chính quyền tịch thu, đem bán đấu giá nhưng những người đồng hương của ông – những người Việt gốc Hoa – mua được hết trong cuộc bán đấu giá, và hoàn trả cho gia đình ông.
Nhiều nguồn tin đã nói là tư gia của ông Mã Tuyên là một hang ổ của Cộng Sản và đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. (…Hai ông Diệm-Nhu phạm vào một lỗi lầm ngoại giao to lớn là khước từ sự giúp đỡ về an ninh của Ðại sứ Mỹ Cabot Lodge, hai ông chạy vào nhà Mã Tuyên, nhà này là Trung Tâm Liên Lạc xưa nay của ông Nhu với MTGPMN (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam). Không phải cuộc binh biến 1-11-63 đã đưa đến cuộc thảm sát hai ông, mà chính quyết định liều lĩnh này, đã làm cho hai ông gánh lấy thảm họa! Sao lại đi đến một trung tâm liên lạc với CS mà Mỹ đã biết từ lâu rồi! Hồi ký của Tướng Tôn Thất Ðính).
Việc Tổng thống Ngô Ðình Diệm và Cố vấn Ngô Ðình Nhu đến nhà ông Mã Tuyên có người đã đặt nghi vấn là hai ông Diệm-Nhu định nhờ ông nầy liên lạc với MTGPMN để họ đưa hai ông vào mật khu như kiểu họ suy diễn từ trường hợp Trung tá Vương Văn Ðông sau cuộc đảo chánh bất thành ngày 11-11-1960 đã kể ông ta nhờ MTGPMN giúp đưa qua Cam Bốt. Trong số những người đi theo ông Vương Văn Ðông khi đó có Phan Lạc Tuyên, tác giả bài thơ được phổ thành bài hát Chiếc Ðò Vĩ Tuyến, thi sĩ Thủy Thủ-Thái Trần Trọng Nghĩa. Sau đó không lâu, thi sĩ Thủy Thủ tự sát trong mật khu của Việt Cộng.
Nếu cho là nhà ông Mã Tuyên là một cơ sở của CS thì tại sao bọn Việt Cộng lại bắt ông ngay sau khi chúng chiếm được miền Nam VNCH ngày 30-4-1975. Ông bị giam lần đầu là 4 tháng rồi ông được thả nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Việt Cộng bắt ông lần nữa. Lần bắt thứ hai, bọn CS đã giam ông tới 4 năm tù. Tù cấm cố trong Nhà Tù Chí Hòa.
Chỉ vì cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố Vấn Ngô Ðình Nhu tá túc qua một đêm tại nhà mà ông Mã Tuyên đã bị giam tù trong 3 lần tổng cộng trên 7 năm. Cả hai chính quyền – sau ngày 1-11-1963 và 30-4-1975 – đều bắt và tra hỏi ông về tội… Cái Ðêm Hôm Ấy (mượn tựa một bài viết của nhà văn quá cố Phùng Gia Lộc) có những gì xẩy ra trong nhà ông. Tại sao Tổng thống Ngô Ðình Diệm và Cố vấn Ngô Ðình Nhu lại đến tá túc ở nhà ông mà không đến nhà người nào khác?
Chính quyền CS cũng tịch thu cả 3 căn nhà của ông Mã Tuyên. Ông Mã Tuyên có 3 bà vợ và 13 người con – theo lời kể của con gái ông là Mã Huệ Phương.
Ông Mã Tuyên đã không than van một lời nào về những tai ương đổ xuống gia đình và bản thân ông sau cái đêm định mệnh đó. Năm 1983, ông Mã Tuyên và gia đình chính thức rời Việt Nam đi định cư tại Ðài Bắc-Taiwan rồi đến tháng 2 năm 1992 ông Mã Tuyên cùng một số người trong gia đình ông về lại Việt Nam. Ông Mã Tuyên trở về Chợ Lớn, ông qua đời trong Tháng 9-1994.
Ông đã định cư tại Taiwan nhưng ông lại trở về Việt Nam, ông dặn trước thân nhân ông chuyện khi ông chết chôn ông ở Nhị Tì Triều Châu, Biên Hòa.
( .. .. .. )
Lật đổ Tổng thống Ngô Ðình Diệm xong, Tướng Dương Văn Minh khai tử Luật 10-59 – Luật đặt bọn Cộng Sản ra khỏi vòng pháp luật – Tướng DV Minh hủy bỏ Quốc sách Ấp Chiến Lược. Khi chính quyền miền Nam VNCH dồn dân vào sống trong các ấp chiến lược, ấp có hàng rào bao quanh, cổng ra vào ấp được nghĩa quân miền Nam VNCH kiểm soát, dân lành buổi sáng sớm khi đi ra khỏi cổng ấp chiến lược, đi làm ruộng, bắt cá.., mỗi người chỉ mang theo phần ăn trong ngày cho bản thân nên chỉ trong thời gian ngắn, đám Việt Cộng sống lẩn lút ở ngoài rừng-núi, đồng trống… không còn nguồn tiếp tế chúng lấy của người dân nên đành phải ra hồi chánh hoặc liều lĩnh đến gần các ấp để tìm cách móc nối (với dân lành, nhiều tên bị nghĩa quân phục kích diệt gọn.
( .. .. .. )
Năm 1982, chính quyền Cộng Sản Thành phố Hồ Chí Minh ra lệnh dẹp bỏ tất cả những nghĩa trang trong nội thành Sài Gòn, họ cho một thời hạn để các thân nhân lo việc cải táng đưa hài cốt những ngôi mộ đi nơi khác. Phần mộ Tổng thống Ngô Ðình Diệm và mộ hai ông Ngô Ðình Nhu-Ngô Ðình Cẩn trong Nghĩa Trang Mạc Ðĩnh Chi được đưa về nghĩa địa Gò Dưa-Lái Thiêu thuộc tỉnh Bình Dương. Người chi số tiền 25.000 $ US cho việc cải táng ba ngôi mộ trên là ông Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ Nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong ở Hoa Kỳ.
( Ngưng trích Hồi Ký của Tác giả Phạm Thắng Vũ )
oOo
Ai là Người Gửi Tiền về Việt Nam để Cải Táng và Xây Mộ Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Nhị Vị Bào Ðệ?
Người viết Lệ Tuyền :
Như quý độc giả đã biết, trước đây, qua bài: “Nền Ðệ Nhất Cộng Hòa Sụp Ðổ: Miền Nam Tự Do Sụp Ðổ,” hiện vẫn còn lưu trữ trên Trang Ðiện báo Hồn Việt khi nói đến ba ngôi Mộ của Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cùng nhị vị Bào đệ của Tổng Thống là Ông Cố vấn Ngô Ðình Nhu và Ông Ngô Ðình Cẩn, tôi đã viết như sau:
“Ba ngôi mộ của ba vị tại Lái Thiêu, Việt Nam không phải do các con, các cháu của ba vị bỏ công, bỏ của ra để xây..”
Nhưng trong bài ấy tôi không viết ai là người đã bỏ tiền ra để xây ba ngôi mộ đó. Vậy, hôm nay, tôi tự thấy tôi cần phải viết cho thật rõ:
“Người gửi tiền về Việt Nam để cải táng và xây ngôi mộ của Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, cùng mộ nhị vị bào đệ là Ông Cố vấn Ngô Ðình Nhu và Ông Ngô Ðình Cẩn, là Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Bán Nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong. Một tờ báo do ông Nguyễn Thanh Hoàng sáng lập ở Sài Gòn năm 1956.”
Và để quý độc giả được biết một cách chính xác, nên nhân đây, tôi xin ghi lại đầy đủ từng việc từ bước khởi đầu trong việc cải táng và xây mộ như sau:
Sau ngày 30-4-1975, do « Lệnh Cấm Vận Việt Nam CS » của Hoa Kỳ – trong Lệnh có điều “Cấm gửi Mỹ Kim về VNCS” – nên những người Việt ở Mỹ, không thể gửi đô-la Mỹ về Việt Nam. Cần gừi đô-la My~ về VN, họ phải qua những đường giây chuyển tiền tại Pháp. Song lúc đó, mặc dù Pháp là nước đã « trợ cấp nhân đạo » cho Việt Nam nhiều nhất, nhưng chính phủ Pháp cũng không cho phép chuyển một lần với số tiền nhiều, nên đã có một số đường giây chỉ chuyển những thùng thuốc Tây về Việt Nam, và những người Việt bên Mỹ cũng đã gửi cho thân nhân còn ở quê nhà những số tiền Ðô Mỹ chuyển qua tiền Quan Phàp, và những thùng thuốc Tây qua những nhà chuyển ở Paris, để người thân của họ ở Việt Nam, khi nhận những thùng thuốc Tây, đem bán lấy tiền mà sống.
Cho đến mãi sau này, khi « Lệnh Cấm Vận VNCS» được bãi bỏ, thì người Việt ở Mỹ mới được gửi tiền về Việt Nam một cách tự do.
Chính vì thế, khi được tin bọn Việt-gian-Cộng-sản Hồ Chí Minh quyết định phá bỏ Nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, đồng thời lại được biết chuyện tên Cộng sản Nằm Vùng ác ôn là « Hòa thượng » Thích Trí Dũng, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Ấn Quang, đã từng cạy nắp mộ của Ông Ngô Ðình Cẩn – ở Bắc Việt Nghĩa Trang – để bỏ vào đó vũ khí của Lữ đoàn 316 VC, và đã nuôi tên Thiếu tướng Việt công, là Trần Hải Phụng và nhiều tên VC khác ở trong chùa Phổ Quang, và đã bắt cái xác chết của Ông Ngô Ðình Cẩn, mà lúc sinh tiền Ông là một người chống cộng tuyệt đối, phải giữ một số súng đạn của Lữ đoàn 316, và Biệt Ðộng Thành Sài Gòn-Gia Ðịnh.
Xin quý độc giả hãy đọc lại bài: “Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân, 1968-2008,” mà tôi đã viết vào ngày 26-01-2008, hiện vẫn còn lưu giữ trên trang điện báo Hồn Việt để biết rõ hơn về những hành vi tàn ác của Phật giáo Ấn Quang trong cuộc thảm sát Mậu Thân.
Vì biết những chuyện kể trên, ông Nguyễn Thanh Hoàng rất sợ bọn Việt-gian-cộng-sản sẽ phá hủy mộ phần của ba vị họ Ngô Ðình, nên ông đã tìm cách gửi tiền về Việt Nam để cải táng cả ba Ngôi mộ của Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cùng nhị vị bào đệ là Ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu và Ông Ngô Ðình Cẩn. Ba ngôi mộ được cải táng từ Nghĩa Trang Mạc Ðĩnh Chi đưa về chôn ở một nghĩa trang trên Lái Thiêu, và sau đó đã đưa cả di hài của Mẫu Thân của ba vị về tại Lái Thiêu. Tôi xin ghi lại từ đầu như sau:
Nhiều lần ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng nhờ ông Trần Trung Quân chuyển tiền về Sài Gòn. Ông Trần Trung Quân là tác giả nhiều cuốn sách giá trị như: “Trong Lòng Ðịch, Cụm A 22: Tình Báo Dinh Ðộc Lập v…v…”
Lần thứ nhất, Ông Trần Trung Quân, là một người thân thiết của Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, đã trao tận tay một số Mỹ Kim cho ông Trần Tam Tiệp, vì ông Trần Tam Tiệp biết cách gửi tiền về Việt Nam, vào tháng 10 năm 1977, tại tiệm Café Balto, 15, Rue Mazarine, 75006 Paris. Số tiền thứ nhất này là US$ 9,000 (Chín ngàn Mỹ kim).
Lần thứ hai, vào tháng 7 năm 1978, cũng do Ông Trần Trung Quân trao tận tay cho Ông Trần Tam Tiệp tại Thánh Thất Cao Ðài của Cô Ba Lê Kim Huê, tức Bà Lễ Sanh Lê Kim Huê, tại địa chỉ số 12, Rue Xavie Privas, 75005 Paris. Số tiền thứ hai này là US$10,000 ( Mười ngàn Mỹ kim).
Lần thứ ba vào tháng 3 năm 1978, tại tiệm Café Notre – Dame de Paris, 3, Boulevard du Palais, Paris. Lần này ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng sang Paris và ông trao tận tay cho ông Trần Tam Tiệp số tiền US$ 6,000 (Sáu ngàn Mỹ kim) trước sự chứng kiến của Ông Trần Trung Quân.
Tổng cộng ba lần, ông Trần Tam Tiệp đã nhận của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàngsố tiền là $25,000 ( Hai mươi lăm ngàn Mỹ kim ). Ông TT Tiệp gửi tất cả 25,000 MK về Sài Gòn cho người lo việc cải táng mộ ba ông Ngô Ðình.
Những việc làm đó của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng ít ai được biết, kể cả những người trong gia đình Bà Ngô Ðình Nhu. Cho đến năm 1980, Ông Ngô Ðình Luyện mới biết, ông Nguyễn Thanh Hoàng và ông Trần Trung Quân được Ông Ngô Ðình Luyện mời đến tư gia. Trong dịp này, ông Ngô Ðình Luyện ngỏ lời cám ơn ông Nguyễn Thanh Hoàng và ông Trần Trung Quân.
Sau đó, từ Hoa Kỳ, ông Nguyễn Thanh Hoàng gửi tiền về Việt Nam, để bốc mộ Cụ bà Thân Mẫu của Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm về nghĩa trang Lái Thiêu.
Ông Trần Tam Tiệp trong những năm 1980 từng kêu gọi người Việt ở Pháp góp tiền cho ông gửi về Việt Nam để giúp đỡ các văn nghệ sĩ sống khó khăn. Nhưng riêng về ba ngôi mộ của Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cùng nhị vị bào đệ là Ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu và Ông Ngô Ðình Cẩn là hoàn toàn do số tiền bán báo Văn Nghệ Tiền Phong của Ông Nguyễn Thanh Hoàng..
Người viết bài này là người thân thiết với cả hai ông Nguyễn Thanh Hoàng, Trần Trung Quân. Ngày xưa khi viết trên Văn Nghệ Tiền Phong tôi dùng bút danh là Hàn Giang. Thời đó có người gọi tôi là « thằng Hàn Giang », có người còn đòi đi « kiện thằng Hàn Giang ra tòa » nữa. Vì thế, ông Nguyễn Thanh Hoàng đã cho tôi làm « thằng Hàn Giang » luôn, mà tôi cũng đã im lặng, bởi thấy vui, khi tự nhiên, mà mình trở thành một « đấng tu mi nam tử », chứ không phải vì tôi sợ bị kiện ra tòa mà không dám cho mọi người biết rằng mình là một phụ nữ.
(Ngưng trích bài của Nữ Ký Giả Lệ Tuyền)
Hồ sơ về Tướng Dương Văn Minh
nguồn Hồn Việt Quốc Học 5/29/2009
Phạm Văn Hùng/ Hồn Việt
http://sachhiem.net/LICHSU/N/NgvHung.php
28 tháng 2, 2010
L.T.S: Hồn Việt số 11 (tháng 5/2008) đã đăng một số ý kiến về Tướng Dương Văn Minh. Đó là một số ý kiến bước đầu quan trọng, giúp ta tìm hiểu sâu hơn một sự kiện lịch sử, một con người. Kỳ này, Hồn Việt xin công bố bản tóm tắt của một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu mới với độ tin cậy cao của ông Phạm Văn Hùng. Hi vọng rằng, với công trình nghiên cứu này, sự kiện về Tướng Dương Văn Minh sẽ được sáng tỏ thêm. Nó chứng minh thêm tầm vóc của ngày 30/4 lịch sử dưới sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát, kiên trì… của Bộ Chỉ huy tối cao đứng đầu là Lê Duẩn và của những người trực tiếp tham gia ở chiến trường miền Nam, của Trung Ương Cục miền Nam. Nó cũng chứng tỏ sự phối hợp tuyệt đẹp giữa quân sự - chính trị - địch vận… trong cuộc chiến tranh giải phóng. Nó nói lên sự phong phú vô tận của cuộc sống, của cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc của lòng yêu nước Việt Nam…
Chúng tôi mong nhận được thêm nhiều ý kiến. (HV)
THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH
- Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm).
Ông Dương Văn Huề và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gái. Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là sĩ quan chế độ cũ.
Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.
- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp. Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “Việt Nam Cộng Hoà”.
Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người. Sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè (1) là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “Việt Cộng” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), cán bộ của ta và là em bạn dì ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…
- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30/4/1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dày. Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là Đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.
Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ Việt Nam lo rồi”.
Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.
QUÁ TRÌNH BINH ĐỊCH VẬN ĐỐI VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH
Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1962, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định), Trí vận…
1/ Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam
Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam), đồng chí Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động đồng chí Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Đồng chí Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty. Cuối tháng 12/1960, đồng chí Mười Ty lên đường.
Tháng 8/1962, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội Sài Gòn và em thứ tám là Dương Thu Vân.
Thấy tình hình thuận lợi, đồng chí Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình trị, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.
Ngày 01/11/1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.
Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.
Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:
+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người Việt Nam có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.
+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.
+ Tháng 1/1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.
+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.
- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng ý đồ “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, cuối tháng 01/1964, chính quyền Mỹ đã đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay Cộng sản”.
Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, nhưng khó điều khiển nên chỉ thị cho Chính quyền Sài Gòn phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA, làm con bài dự trữ.
Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp. Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.
Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…
Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được đồng chí Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, đồng chí Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được…”
Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.
Tháng 3 và 4/1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.
Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28/4/1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Sài Gòn gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Sài Gòn “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.
2/ Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”
Tháng 9/1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Sài Gòn - Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).
Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.
Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).
Ngày 01/3 và cuối tháng 3/1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các đồng chí Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.
3/ Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh
Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28/4/1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Sài Gòn, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Sài Gòn. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.
4/ Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị
Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7/1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.
Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba.
Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6/1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02/1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.
Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh . Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.
- Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4/1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh.
5/ Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn
Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Sài Gòn ngày 10/10/1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20/4/1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.
MỸ, PHÁP VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH
* Mỹ: Năm 1971, Mỹ yêu cầu Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu để tỏ ra chế độ Cộng hòa miền Nam có dân chủ, nhưng phải thất cử để trở thành lãnh tụ của phe đối lập trong nghị viện. Tướng Dương Văn Minh từ chối. Đại sứ Mỹ Bunker còn trắng trợn hỏi ông Minh cần bao nhiêu đô-la cho cuộc tranh cử. Ông Minh cố nén giận, nhưng giữ lịch sự, đưa tay chỉ đại sứ Mỹ về phía của phòng (không tiếp đại sứ Mỹ nữa). Cuộc bầu cử đó, Tướng Dương Văn Minh có ra ứng cử, nhưng đến giờ chót quyết định rút lui, chỉ còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành ứng cử viên Tổng thống “độc diễn”, làm bẽ mặt Mỹ – Thiệu.
Sau khi Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị nhân dân và báo chí Sài Gòn đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26/4/1975, lưỡng viện Sài Gòn đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa với 147/151 phiếu.
* Pháp: Theo đồng chí Phan Nhẫn, ngày 27 (hoặc 28/4/1975), Bộ Ngoại giao Pháp gặp đồng chí Phạm Văn Ba (Giám đốc Trung tâm thông tin Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam) gợi ý Chính phủ Cách mạng lâm thời nên đi vào đàm phán. Lúc đó, Pháp hi vọng “giải pháp Dương Văn Minh” và khả năng thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.
Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.
TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỚI 3 NGÀY LÀM TỔNG THỐNG
15 giờ chiều ngày 28/4/1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.
Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.
Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ Trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).
17 giờ ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.
Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).
Đêm 28/4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).
Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28/4/1975, hai đại tá phi công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy; không thể nào bỏ dân chúng Sài Gòn, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn mất đầu”.
Ngày 29/4/1975
Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.
Đến 16 giờ chiều ngày 29/4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).
Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29/4/1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.
Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Sài Gòn không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29/4/1975).
Từ chiều và tối ngày 29/4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngõ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”.
Ngày 30/4/1975
- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).
Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.
- 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm.
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.
9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.
Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.
Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.
11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
KẾT LUẬN
1/ Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc.
2/ Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29/4/1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..
3/- Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần chúng ở thành phố Sài Gòn – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30/4/1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất. Chúng ta biết rõ giành được thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương Văn Minh.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30/10/2004
____________
(1) Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế – xã hội – thương binh Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam.
(2) Phát biểu của ông Dương Văn Minh trong cuộc Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản TP. Hồ Chí Minh tuyên bố trả quyền công dân cho toàn bộ viên chức Chính phủ “Việt Nam Cộng Hoà”.
(3) Bộ đội Nam bộ tập kết ra Bắc, ở Sư đoàn 330. Sau đó chuyển ra nông trường quân đội.
(4) Sách “Gởi người đang sống” (tr 334-335) của Thượng tướng Trần Văn Trà.
(tài liệu CSVN)