Hy vọng rằng đây chưa phải là lời cảnh báo cuối cùng tôi gửi đến các anh chị em Yêu Nước tại Canada này. Sau loạt bài bắt đầu bằng “Lời sám hối muộn màng” tôi đăng trên DCVOnline.net năm ngoái (30-04-2015),
tiếp theo nhiều loạt bài khác cũng trên cùng trang mạng đó và vài websites khác ở hải ngoại, tôi đã cố gắng giữ im lặng để chờ đợi phản ứng của các anh chị, ít nhất là bày tỏ thái độ “yêu nước” của mình trước tình thế nguy ngập của đất nước. Tôi hy vọng bằng bước chân tiên phong “sám hối tự nguyện” tôi sẽ tìm được nhiều tiếng nói đồng cảm, ít ra cũng dám thổ lộ rằng “chúng ta đã lầm khi bước theo con đường Bác đi”. Nhưng không ngờ, sau gần một năm, chỉ có vài người bạn âm thầm đến chia sẻ “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” với tôi, so sánh với hàng chục người từng “vỗ ngực tự xưng yêu nước thời thập niên 70” nay vẫn còn ngậm miệng, thì tôi thất vọng vô cùng.
Lá thư này sẽ giải thích cặn kẽ những gì tôi tuyên bố chắc nịch trong bài “Lời sám hối muộn màng” chứng tỏ suy nghĩ tâm tư của tôi có cơ sở lý luận cá nhân độc lập, dựa trên thực tiễn, không hề theo đuôi ai hết. Hơn nữa, xuyên qua lá thư này tôi cũng xin lỗi nhiều bạn bè mới quen, họ mong chờ bài viết của tôi gần một năm nay để biết thêm những sự thật khác về cái gọi là Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada. Rồi các bạn đó sẽ thông cảm với tôi một khi hiểu rõ những khúc mắc tình cảm-lý trí dày vò tôi suốt một năm qua, khiến cho tôi phải đắn đo do dự trước khi cắn răng viết lên những giòng tâm sự này.
Bài viết này khá dài vì đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến thời cuộc, trình bày mối dây liên hệ mật thiết giữa nhà cầm quyền CS Hà Nội với một hội đoàn chính trị người Việt ở hải ngoại, mà tôi là một nhân chứng sống, một hội viên tích cực trong Hội từ 1973 đến 1990. Qua nhiều bằng chứng giấy trắng mực đen, nhiều tài liệu do anh tổng biên tập DCVOnline cung cấp đi kèm ba bài viết của tôi năm 2015, tôi mới rõ rằng mình chưa phải là nhân chứng duy nhất. Tôi không ngờ rằng bên ngoài, báo chí truyền thông Canada biết khá rõ thực trạng kinh tài của hội đoàn này kể từ khi lãnh đạo Hội dấn thân vào con đường “kinh doanh”. Do đó tôi không cảm thấy đơn độc trên con đường tìm hiểu và vạch trần sự thật.
Bài viết này xin đề cập đến những vấn đề sau:
1) Vài lời tự giới thiệu của tác giả, Lê Quốc Trinh
Để giải thích tại sao tôi đã hoạt động tích cực trong một hội đoàn thân Cộng, nhưng không hề bị tẩy não? Không chịu ảnh hưởng ngầm của Nhà Nước CS VN? Do đâu tôi nhìn thấy rõ bộ mặt thật của những “con người tự xưng yêu nước”? Và tại sao đến giờ phút này tôi mới lên tiếng trần tình? Tôi xin thưa:
- Tôi sinh trưởng ở miền Nam (Sài Gòn 1948) trong một gia đình gốc Bắc di cư 1945. Tôi mang ơn bà mẹ thân sinh tôi đã tảo tần nuôi con cái cho đến thành tài. Tôi cám ơn người cha thân sinh tôi, đã nghiêm khắc dạy dỗ con cái theo truyền thống giáo dục Việt nam. Làm công chức bình thường nhưng ông đã dám bỏ tiền mua nhiều bộ sách quý về cho con cái đọc, từ Cổ Học Tinh Hoa, Tự Lực Văn Đoàn, Liêu Trai Chí Dị, Văn Hóa Ngày Nay, cho đến bộ Tự Điển Bách Khoa (Encyclopedie) tiếng Pháp dày cộm, 6 quyển lớn đầy dẫy hình ảnh (từ năm 1960). Tôi cũng cám ơn Thư Viện Quốc Gia (Sài Gòn) đã gửi hàng trăm cuốn sách đến nhà tôi để nhờ đóng bìa da nạm chữ vàng. Nhờ thế mà tôi đã ngốn hết sạch những bộ tiểu thuyết dã sử Trung Hoa, từ Tam Quốc Chí, Tây Du Ký, Thủy Hử, Đông Châu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng v.v... Chưa nói đến những truyện tiểu thuyết tuyên truyền tư tưởng CS của miền Bắc mà trong Nam vẫn cho đọc tự do, ví dụ Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài (sau này tôi mới phát giác là công cụ tuyên truyền chủ thuyết CS), chưa hết tôi lại còn được nghe những bản nhạc xuất xứ từ miền Bắc do ca sĩ trong Nam hát, điển hình là bài Nụ Cười Sơn Cước của nhạc sĩ Tô Hải, hay bài Đợi Anh Về (thơ của thi sĩ người Liên Xô Konstantin Simonov, Tố Hữu dịch tiếng Việt, nhạc sĩ Văn Chung phổ nhạc và ca sĩ Elvis Phương hát). Sau Hiệp định Geneve 1954, trong khi miền Bắc CS ra sức tiêu diệt sạch những tác phẩm nghệ thuật tiền chiến, may nhờ miền Nam VNCH cố gắng lưu trữ và phát huy tới đỉnh cao mà kho tàng tân nhạc VN không bị mai một. Bao nhiêu kỷ niệm êm đẹp đó chứng tỏ tôi đã được sống trong một vùng đất nước có nền tự do dân chủ phôi thai. Tôi có thể nào phản bội lại được không?
- Sống trong thành phố Sài Gòn tráng lệ, tôi không nếm mùi bom đạn chiến tranh, không biết mặt mũi anh chị du kích quân VC, hay Giải Phóng Miền Nam ra sao. Nhưng kinh nghiệm gia đình của mẹ tôi đã bắt đầu gieo vào đầu tôi một nghi vấn không nhỏ. Mẹ tôi tảo tần kinh doanh đủ mọi nghề, từ đóng hộp bọc nhung, may quần áo, mở hiệu sách, đóng bìa da, nạm chữ vàng, mở nhà in để giúp thêm tài chính cho bố tôi. Không may bà bị dính líu vào chuyện kinh tài VC, bà ký giấy đứng tên mua một cỗ máy in nhỏ để bọn VC lợi dụng chở vào bưng. Nội vụ bị phát giác (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, 1960), bà bị bắt giam. Nếu không nhờ các ông chú tôi làm cho sở Mỹ tận tình cứu gỡ thì bà đã bị rục xương trong tù rồi. Vài tháng sau bà được chính quyền thả cho về làm ăn buôn bán như xưa, không hề bị trù dập quản thúc như chế độ CS thời nay. Một chi tiết nhỏ khiến tôi sửng sờ, khi biết rằng chẳng có một đồng chí CS thân mến nào đã dám lộ diện cứu giúp mẹ tôi. Trong buổi ra mắt DVD Ngày Trở Về (VN 2006) cố nhạc sĩ Phạm Duy đã ngậm ngùi tiết lộ rằng: “Trong chuyện Bà Mẹ Gio Linh (thật 100%), chỉ có hình ảnh một bà mẹ già buồn bã thất thểu đi ra chợ lấy chiếc đầu người con trai đem về chôn cất, không một cán bộ hay đồng chí CS nào có can đảm đứng ra làm chuyện đó”. Đó là sự thật muôn thuở của cái gọi là “tình đồng chí trong thiên đường CS” đấy!
- Nhưng nhờ đâu mà tôi hiểu được vấn đề và không bao giờ bị CS tẩy não như nhiều người khác trong Hội? Xin thưa, tôi phải cám ơn những kinh nghiệm quý báu qua 40 năm ròng làm việc trong ngành công nghiệp khai khoáng, luyện kim và hóa dầu của Canada. Một bài học quý giá nhất mà tôi không bao giờ quên, đó là khóa học “Relations Authentiques dans un milieu industriel” do hãng cử đi tu nghiệp (Quebec 1980). Thật không ngờ trong khi chế độ XHCN chỉ sản sinh ra những con người dối trá lừa lọc, thì xã hội tư bản lại tổ chức khóa tu nghiệp huấn luyện nhân viên phải “giao tế trung thực, chân thật” vì đó là mấu chốt căn bản trong một môi trường sản xuất công nghiệp nặng ở nhiều tầng lớp khác nhau. Một bài thực tập trong khóa học làm cho tôi nhớ suốt đời, đó là bài học “Tạo dựng niềm tin hỗ tương với nhau”, lớp học gồm 12 người đến từ những phương trời xa lạ, không bao giờ quen nhau, chia ra làm 6 nhóm 2 người. Người này bịt mắt người kia, dẫn nhau ra đường phố đi một vòng 10 phút, không được nói chuyện với nhau, chỉ biết tuân lệnh dẫn đường, không phản kháng. Sau 10 phút trở về lớp học, lại thay đổi vai, người dẫn đường kẻ bịt mắt. Mục đích là cho khóa sinh hiểu rằng mối dây tin tưởng hỗ tương rất quan trọng trong cơ sở làm ăn chung. Không tin nhau thì không làm được gì hết.
- 2) Tư thế và lập trường chính trị của tôi đối với Hội Yêu Nước và Nhà Nước VN:
- Trước hết tôi tự xác định là “người Canada gốc Việt”, mang quốc tịch Canada sau khi về thăm gia đình lần đầu 1979. Tôi không phải là Việt Kiều, theo đúng nghĩa “người Việt mang quốc tịch VN sống ở hải ngoại”. Tôi không dám vỗ ngực tự xưng “Yêu Nước VN” tuy rằng khi tôi ký tên gia nhập Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada năm 1973, chỉ vì lúc đó tôi còn là sinh viên VN, quốc tịch VN, nghe theo tiếng gọi “yêu nước” và không hề hiểu biết chủ nghĩa CS ra sao, chưa đủ kiến thức thâm sâu về lịch sử cận đại VN, nhất là sự thật về chiến tranh tàn khốc đang diễn ra trên mảnh đất quê hương vào thời kỳ đó (1973). Tuy vậy cụm từ “Yêu Nước” đã ám ảnh tôi từ khi vào Hội cho đến ngày hôm nay, vì tôi nó cho phép tôi đo lường và đánh giá bản chất thật của những con người trí thức vỗ ngực tự xưng YÊU NƯỚC ở Canada;
- Tôi quan niệm rằng người trí thức mang bằng cấp Đại Học ở hải ngoại, sống và làm việc trong môi trường tự do dân chủ Bắc Mỹ cần phải có đức tính trung thực, độc lập, hành xử quang minh chính đại, lương tâm nghề nghiệp và can đảm phản biện khi cần để đóng góp chất xám vào xã hội. Do đó người trí thức theo đúng nghĩa cũng nên biết cám ơn khi được giúp đỡ hay biết xin lỗi và xấu hổ khi phạm lỗi;
- Tôi quan niệm rằng bàn luận chuyện chính trị chẳng là là độc quyền của riêng ai, nhờ mạng lưới Internet quảng bá, nhanh chóng và đơn giản bất cứ ai cũng có quyền tìm hiểu thông tin thời sự và cùng nhau thảo luận nghiêm chỉnh để tự xác định lập trường và chia sẻ ý kiến. Tôi cũng nghĩ rằng chuyện chính trị thời sự là những vấn đề của người đang sống, đang hiện hữu bàn cãi với nhau. Người đã chết rồi chẳng còn lý do gì để gây ảnh hưởng, do đó đừng đem những hình ảnh tôn thờ lãnh tụ quá cố ra để làm bình phong chống chế cho thế đứng của mình;
- Sống và làm việc ở Canada, tôi phải có ý thức tuân thủ pháp luật đất nước sở tại, không bao giờ làm chuyện mờ ám đi ngược tiêu chuẩn nghề nghiệp. Do đó tôi không thể chấp nhận những hành động thiếu minh bạch của tập đoàn lãnh đạo Hội cùng với một số Hội viên nhằm thao túng Hội và cam tâm làm tay sai cho một vài quan chức cán bộ Nhà Nước CSVN. Tôi sẽ đề cập đến sự kiện quan trọng này trong phần trình bày chi tiết sau, với nhiều tang chứng không chối cãi được;
- Sẽ có người thắc mắc rằng: “Tại sao đến giờ phút này, 2015-2016, tôi mới nói lên những sự thật của Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada?”. Xin thưa rằng tôi đã từng có ý định phanh phui sự thật ra cộng đồng Người Việt Hải Ngoại, từ lúc Hội đoàn này tan vỡ thành hai nhóm (1991), vì tôi không còn tư thế gì trong 2 Hội này. Tôi đã thử tìm cách liên lạc với tờ báo Hợp Lưu (Hoa Kỳ) để ướm lời. Họ cũng rất hoan nghênh ý định viết bài của tôi, nhưng sau đó tôi đành giữ im lặng, vì những lý do sau:
a)- Thời điểm đó (1991), Internet chưa phát triển sâu rộng và quảng bá, cho nên sự lựa chọn vào một tờ báo duy nhất bị hạn chế, tôi không biết gì nhiều về Hợp Lưu, tưởng tượng rất khó làm việc chung nếu có bất đồng chính kiến, nguy hiểm cho cá nhân tôi, vì tôi còn đi làm xa, bận bịu gia đình, con cái;
b)- Thời điểm đó, tôi chưa nắm vững nhiều tài liệu lịch sử cận đại, nhất là chưa biết gì về cái gọi là “Bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958” hay “Hội Nghị Thành Đô 1991”, cho nên không thể đi sâu vào vấn đề chính trị quan trọng;
c)- Thời điểm đó, tình hình VN chưa ngã ngũ, ĐCS và Nhà Nước CSVN hãy còn che đậy được khá nhiều “chuyện thâm cung bí sử”, xã hội VN chưa bị hỗn loạn như bây giờ, Biển Đông chưa dậy sóng, TQ chưa muốn gây hấn với VN, chưa thấy xuất hiện những phong trào đấu tranh tự do dân chủ, cho nên không trở thành nguyên nhân thôi thúc tôi phải lên tiếng;
3)- Phản động, Phản quốc, Ngụy quyền, Tay sai bù nhìn cho ngoại bang
Đến đây tôi xin phép tạm dừng nói về “cái tôi đáng ghét” (Le Moi est haissable, Blaise Pascal), để trình bày quan điểm của tôi về những cụm từ quan trọng mà dân chúng miền Nam không bao giờ quên, đó là những bản án vu oan giá họa mà nhà cầm quyền CS Hà Nội đã cố tình áp đặt lên đầu cổ họ sau ngày 30-04-1975. Để biện minh cho hành động gây tội ác chiến tranh xâm lược miền Nam VN, CS Bắc Việt đã tuyên truyền gieo rắc trong dân chúng bốn tội lớn của chính quyền VNCH, đó là: Ngụy quyền, tay sai bù nhìn cho đế quốc Mỹ, Phản quốc và Phản động. Tôi xin phân tích và nhận định “Ai đích thực mang bốn tội đồ to lớn đó?”.
a)- Phản động là gì? Ai phản động?
Hãy thử vào truy cập Google từ ngữ “phản động” là gì:
Đây là cụm từ do phe XHCN sử dụng từ những phong trào CS Đệ Tam, Đệ Tứ Quốc Tế, dựa trên quan điểm “đấu tranh giai cấp”. Sau này nhiều người theo chủ nghĩa xã hội xem những người ủng hộ xã hội tư bản là "phản động" vì lý thuyết của họ cho rằng nhân loại tiến lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu của lịch sử (trích từ Google).
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, phản động biểu hiện ở những việc làm chống lại các phong trào cách mạng, dân chủ và giải phóng dân tộc; hăm doạ, săn lùng và đàn áp các tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị, đàn áp nhân dân lao động; tệ phân biệt chủng tộc, nhen nhóm và khích lệ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa chống cộng (trích từ Google).
Và quan sát tình hình kinh tế chính trị xã hội thế giới sau hơn một thế kỷ (100 năm) sẽ thấy nhân loại tiến bộ vượt bậc nhờ rất nhiều phát minh khoa học kỹ thuật từ các quốc gia phát triển tư bản đi đôi với công nghệ ứng dụng, công nghiệp nặng, giúp cho đời sống con người được nhiều tiện nghi, có cơ hội tiếp xúc trao đổi thường xuyên, gần nhau hơn. Mọi quyền tự do cơ bản của người dân được bảo đảm trong các xã hội tư bản. Trong khi đó thì các quốc gia bị đặt dưới chế độ XHCN hà khắc, thì cuộc sống ngày càng bị thu hẹp, nghèo nàn, dân trí bị hao mòn vì chính sách tuyên truyền ngu dân, mỵ dân. Trong một thế kỷ chế độ CS đã thanh trừng, tù đầy, đàn áp tiêu diệt hơn 100 triệu người trong các nhà tù, trại học tập cải tạo, con người chết dần mòn trong đói khát, nghèo túng vì thiếu phương tiện. Tình trạng đạo đức xuống cấp trầm trọng trong các nước theo XHCN, con người trở nên vô cảm, giả dối, lừa lọc nhau dưới vỏ bọc tuyên truyền một chiều của Nhà Nước CS.
Quan sát kỹ tình trạng xã hội VN qua 40 năm sống dưới chế độc XHCN sẽ thấy kinh tế lụn bại, xã hội bang hoại, tội ác lên ngôi, Nhà cầm quyền áp dụng chính sách Công An Trị để theo dõi hăm doạ, săn lùng và đàn áp các tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị, đàn áp nhân dân lao động. Tất cả bằng chứng hiển nhiên đó cho phép kết luận rằng: “Chế độ XHCN dưới ách thống trị của ĐCS và Nhà Nước VN hiện nay là một chế độ phản động, đi ngược lại trào lưu tiến hóa của nhân loại”. Thử so sánh tình hình VN với Miến Điện hiện nay thì rõ ngay.
b)- Ai phản quốc?
Ít nhất có ba bằng chứng lịch sử hiển nhiên còn lưu lại cho thế hệ trẻ VN tham khảo, đó là:
- Bức Công Hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14-09-1958, công nhận chủ quyền TQ trên toàn thể khu vực Biển Đông, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên những yêu cầu công khai của TQ (04-09-1958). Câu tuyên bố mở đầu trong bức công hàm đó là một bằng chứng ngắn gọn, chắc nịch không thể chối cãi rằng “Nhà Nước VN thời VNDCCH (Cs Bắc Việt) đã ngang nhiên đặt bút công khai ký một bản văn tự bán nước, nhượng chủ quyền Biển Đảo cho ngoại bang TQ” để đổi lấy viện trợ dung ống, đạn dược, nhiên liệu, nhu yếu phẩm nhằm mục tiêu xâm lược chiếm đóng toàn thể miền Nam VN (dưới vĩ tuyến 17). Nếu không có viện trợ ồ ạt và tiếp tế đạn dược tầm vóc lớn của TQ, thì quân đội miền Bắc (VNDCCH) không thể nào tiến công thực hiện một cuộc chiến tranh vận động chiến kéo dài cả tháng trời, tràn khắp mọi mặt trận, đối đầu với quân lực VNCH tinh nhuệ, vũ khí tối tân hơn;
- Trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, do TQ khởi động xâm lược biển đảo của VNCH, đã hiển nhiên cho thấy Nhà Nước CS miền Bắc cùng với MTGPMN đã cố tình ngậm miệng chấp nhận “hành vi xâm lăng của ngoại bang”. Đây là một sự im lặng cúi đầu ô nhục “của bè lũ bán nước, phản quốc” không chối cãi được. Trận hải chiến đó chứng tỏ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và quân lực VNCH không bao giờ bán nước, không phản quốc, vì đã có can đảm điều chiến hạm ra chống trả quân xâm lược, tuy rằng bị hạn chế đạn dược, nhiên liệu vì viện trợ Hoa Kỳ bị cắt đứt (thể theo tinh thần Hiệp Định Paris, 1973). Đừng quên rằng ở thời điểm đó quân đội miền Bắc CS và MTGPMN hãy còn hiện diện ở miền Nam luôn đe dọa an ninh nhân dân miền Nam. Có nghĩa rằng quân đội VNCH đã phải đối đầu với ba thế lực quân sự hung hăng tàn bạo, trong tư thế chiến đấu đơn độc của mình;
- Bằng chứng hiển nhiên thứ ba là trận hải chiến trên đảo Gạc Ma 1988, tàu chiến TQ tiến công ồ ạt, quyết chiếm gọn đất đai lãnh thổ VN. Thay vì ra lệnh phản công, Đại Tướng Bộ Trưởng Quốc Phòng lúc đó là Lê Đức Anh đã ra lệnh “cấm không cho quân đội được phép cầm súng bắn trả”. Kết quả là 64 chiến sĩ hải quân đã phải đưa thân mình ra cho quân xâm lược TQ nã súng tiêu diệt, một cách ô nhục, không khác gì 64 hình nộm bị đem ra làm bia cho quân xâm lược tập bắn tự do”. Đây là một hành vi “phản quốc” tồi tệ nhất trong lịch sử VN, nói theo lời của vị tướng về hưu Nguyễn Trọng Vĩnh ngày đầu năm 2016 vừa qua;
Chỉ cần nêu lên ba chứng cứ lịch sử không chối cãi đó tôi có thể kết luận rằng: “ĐCS và Nhà Nước VN hiện nay là kế thừa của một tập đoàn phản quốc, hại dân kể từ khi ông HCM về nước thành lập Đảng”. Vì giới hạn của bài viết tôi chưa muốn phân tích nhận định về “trận chiến Điện Biên Phủ 1954” xem như là một chiến thắng ngầm của quân đội TQ mà ĐCS, ông HCM và ông Võ Nguyên Giáp cố tình che đậy, tôi sẽ trình bày sau;
c)- Ai là tay sai, bù nhìn cho ngoại bang?
Xin phép nói ngay, đó là ĐCS và Nhà Nước XHCNVN qua 70 năm theo đuổi con đường CS. Kể từ khi ông HCM lân la tiếp xúc với lãnh đạo ĐCS TQ (Mao Trạch Đông) và Liên Xô (Staline) rồi tìm cách tổ chức đưa người sang TQ học tập quân sự. Nhất nhất mọi điều ông HCM và tập thể lãnh đạo đảng cộng sản và Nhà Nước CSVN đã chịu sự điều khiển, sai khiến của ngoại bang CS. Từ chiến lược quân sự Điện Biên Phủ 1954, cho đến chính sách Cải Cách Ruộng Đất, tiêu diệt hàng trăm ngàn người dân vô tội ngoài Bắc (1954-1956). Sau này vì kinh tế kiệt quệ, nạn đói đe dọa mà HCM và ĐCS đã nhắm mắt để cho Phạm Văn Đồng đặt bút ký Bức Công Hàm Bán Nước 1958. Cứ bình thản theo dõi diễn biến Đại Hội ĐCS kỳ 12 vừa qua cũng thấy biết bao bằng chứng về bản chất tay sai bù nhìn của nhà cầm quyền Hà Nội, thông qua vai trò “thái thú” của TBT Nguyễn Phú Trọng.
d)- Ai là ngụy quyền?
Đó là tập đoàn lãnh đạo ĐCS và Nhà Nước XHCN VN từ hơn 70 năm qua. Ngụy có nghĩa là giả tạo, giả dối, không thật, không có chính danh, không có tư cách công khai chính thức. Trong trào lưu tiến hóa tự nhiên của nhân loại tiến bộ, một tập thể lãnh đạo quốc gia phải tuyệt đối do toàn dâu bầu lên thông qua một cuộc đầu phiếu công khai, gồm nhiều người ứng cử bàn cãi thuyết phục toàn dân. Sau một nhiệm kỳ do Hiến Pháp xác định, nếu tập đoàn lãnh đạo không đủ phẩm chất đáp ứng nguyện vọng toàn dân thì sẽ có một cuộc bầu phiếu khác thành lập để tìm người tài giỏi hơn. Tất cả diễn biến công khai trong một bầu không khí tự do dân chủ trọn vẹn, không mang hình thức trù dập, đe dọa, khủng bố ngầm.
Bao nhiêu yếu tố chính yếu đó đã chứng tỏ rằng “ĐCS và Nhà Nước VN hiện nay hoàn toàn là giả dối”, không hề do người dân tín nhiệm bầu lên bao giờ, mà chỉ là một màn kịch do ngoại bang chi phối quyết định trước. Gọi đó là Ngụy quyền CS Hà Nội, không sai tý nào.
Vài lời đề nghị với Cộng Đồng Người Việt (người Canada gốc Việt):
Tôi chỉ có vài lời đề nghị các Trang Mạng cộng đồng, các tờ báo truyền thông đang phổ biến ở Canada hãy cho phép đăng tải bài viết này của tôi để rộng đường dư luận, để mọi người nhận chân sự thật về cái gọi Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada. Đây là một chi tiết rất quan trọng vì tôi muốn tránh một sai lầm trong quá khứ là “làm sao nhận diện được ai là CS, ai là Việt gian bán nước”, tôi gọi đây là bài học Trọng Thủy Mỵ Châu thời nay, để góp phần tranh đấu giành lại chủ quyền đất nước, bảo đảm tự do, dân chủ, Phát triển Dân Trí, Chấn hưng Dân Khí, Cải thiện Dân Sinh cho người dân VN (Phan Chu Trinh).
Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Kitô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng.Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên…, Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế. Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…
Còn nhớ ngày 30 Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kềm, Mỹ hãm” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước… Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…
Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…
Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!
Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi… Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:
“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…
Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:
“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”
Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc! Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh …
Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.
Tiến Sỹ Lê Hiển Dương
Cựu Hiệu Trưởng-Đại Học Đồng Tháp Đồng Tháp 36 năm sau ngày những người cộng sản chúng tôi cướp nước của Người Miền Nam
Các lực lượng vũ trang và chính quyền Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị và thực tập diễu binh 'kỷ niệm 40 năm Đại thắng Mùa Xuân, Giải phóng Miền Nam, Thống nhất đát nước.'
Nhiều người Việt sau 1975 còn giữ thói quen dùng từ “giải phóng” trong các cụm từ “giải phóng Sài Gòn”, “ngày giải phóng”, “trước giải phóng”, “sau giải phóng”, “quân giải phóng”, v.v…, đó cũng là cách gọi có chủ đích tuyên truyền của chế độ này sau khi Bắc Việt thôn tính toàn bộ miền Nam.
Từ trước đến nay, chính quyền cộng sản vẫn luôn lập luận rằng nước Việt Nam là một dải thống nhất từ Bắc chí Nam, tạm thời bị chia cắt tại vĩ tuyến 17 do kết quả hội nghị Geneva 1954, đồng bào miền Nam gánh chịu ách nô lệ và áp bức của “Đế quốc Mỹ xâm lược” và “ngụy quyền tay sai”; do vậy, quân dân miền Bắc có nhiệm vụ “giải phóng” miền Nam, thống nhất đất nước.
Tuy nhiên, lập luận nêu trên tự mâu thuẫn và hiển nhiên bị bác bỏ bởi các sự kiện lịch sử hiện đại mà chúng ta đều đã biết. Dưới đây là một số nhận định xung quanh cái gọi là “giải phóng” nhân dịp chính quyền đang khơi gợi quá khứ, mà chính họ luôn hô hào gác lại, bằng các buổi lễ kỷ niệm và diễu binh chướng mắt trên các đường phố Sài Gòn.
Sau khi đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ, chính ông Hồ Chí Minh và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới áp lực của Trung Quốc, đã đồng ý ký kết Hiệp định Geneva 1954 chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền, trong lúc đại diện của chính phủ quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng hoàn toàn bác bỏ sự phân cắt đó. Nói cách khác, những người cộng sản đã góp tay vào việc chia đôi đất nước, nên việc tự trao cho mình nhiệm vụ thống nhất đất nước chỉ là hành động đạo đức giả, che đậy ý đồ chính trị và quân sự riêng.
Gắp lửa bỏ tay người
Thoạt đầu, sau năm 1954, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế và giúp huấn luyện các đơn vị vũ trang của chính quyền Sài Gòn với mục đích tái lập trật tự xã hội sau chiến tranh với Pháp. Đến khi chiến sự leo thang do Bắc Việt lén lút chuyển quân vào Nam, Hoa Kỳ mới chính thức can dự quân sự từ năm 1965. Tuy nhiên, sự tuyên truyền về “Đế quốc Mỹ xâm lược” đã được những người cộng sản tung ra ngay từ lúc Hiệp định Geneva còn chưa ráo mực, tức có sự hoạch định cố ý từ trước nhằm chuẩn bị nguyên cớ phát động chiến tranh. Một hành động “gắp lửa bỏ tay người” không hơn không kém của giới lãnh đạo Bắc Việt lúc ấy.
Cần lưu ý, gần mười năm trước khi Hoa Kỳ gửi quân sang chiến đấu chống cộng sản tại miền Nam, quân đội Trung Quốc đã hiện diện ở miền Bắc. Sau đó lần lượt Liên Sô và Bắc Triều Tiên cũng cử quân nhân sang trực chiến. Vậy nếu sự kiện Mỹ đưa quân tham chiến, dù được sự chấp thuận của chính quyền Sài Gòn, bị xem là “xâm lược”, thì hành động của Trung Quốc, Liên Sô và Bắc Triều Tiên nên gọi là gì? Phải chăng giới lãnh đạo Bắc Việt đã thiếu sáng suốt trong nhận định về "địch ta" hay vì lý do nào khác?
Image caption Hòa đàm Paris 1973 mở đường cho 'hòa bình' và Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng chỉ hai năm sau, miền Bắc đã 'giải phóng' miền Nam bằng biện pháp chiến tranh.
Trong giai đoạn từ 1955 đến 1974, Trung Quốc đã liên tiếp xác lập chủ quyền và chiếm đóng các hải đảo thuộc Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, nhưng vì lý do nào hành động của Trung Quốc lại không được bộ máy tuyên truyền Bắc Việt đương thời gọi là “xâm lược”? Cuộc chiến tranh “giải phóng dân tộc” vì sao chỉ tập trung vào miền Nam mà bỏ qua mục tiêu giải phóng các hải đảo, vốn cũng là một phần lãnh thổ thiêng liêng và quan trọng của tổ quốc? Chiến thắng đang được ca ngợi thiết nghĩ hãy còn dang dở, và liệu có thể hãnh diện với một chiến thắng như vậy?
Đặt ngược vấn đề
Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chính trị và hành chính hợp pháp trên phương diện công pháp quốc tế, tương tự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi hành động chính trị và quân sự của bất kỳ nhà nước nào đều phải đặt trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, nên việc tự trao nhiệm vụ “giải phóng miền Nam” không đương nhiên biện minh quyền sử dụng vũ lực xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền khác. Đặt ngược lại vấn đề, nếu cách hành xử của Bắc Việt là đúng, thì đương nhiên quân đội Sài Gòn cũng có quyền tương tự là mang quân xâm chiếm miền Bắc? Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không hành xử như vậy, không phải vì thiếu khả năng, mà do họ tôn trọng luật pháp quốc tế.
Ngay trong nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đương thời đã có nhiều tiếng nói phản đối chiến tranh và đề xuất giải pháp hòa bình hợp tác giữa hai miền Nam Bắc. Lịch sử thế giới hiện đại cũng cho thấy sự thống nhất nước Đức bằng con đường thương lượng ôn hòa đã mang lại kết quả tốt đẹp cho dân tộc Đức. Tuy vậy, chủ trương hòa bình trong Đảng Cộng sản bị dập tắt, phe chủ chiến thắng thế và muốn tiến hành chiến tranh bằng mọi giá. Và cái giá phải trả để thống nhất đất nước bằng giải pháp chiến tranh là sinh mạng của hàng triệu người Việt ngã xuống vô nghĩa, nỗi đau ấy vẫn còn đến tận ngày nay.
Tuy chiến tranh diễn ra khốc liệt, song những đô thị miền Nam vẫn luôn duy trì sự phát triển phồn thịnh. Điều đó một mặt nói lên rằng chính quyền Sài Gòn đã duy trì bộ máy quản lý quốc gia rất tốt về phương diện dân sự, bất chấp hoàn cảnh khó khăn. Mặt khác, liệu có thể tin rằng đoàn quân đói rách đến từ vùng đất nghèo nàn hơn về kinh tế lại mang sứ mệnh “giải phóng” xứ sở phồn thịnh hơn? Tình huống đó lẽ ra nên gọi là “cướp” hoặc “chiếm đoạt”, thì thích hợp hơn. Tất nhiên, chẳng ai tin, trừ phi bị lừa dối, và chính các chiến sĩ Bắc Việt đã ngây thơ nghĩ rằng đồng bào miền Nam đang rên xiết ngày đêm trong cảnh nghèo đói và nô lệ (!).
Sự lố bịch của giải phóng
Kẻ “được giải phóng” lẽ ra phải hàm ơn người "giải phóng", nhưng ngoại trừ những gia đình sống bám hoặc kiếm tiền nhờ vào chế độ cộng sản, khó tìm thấy thường dân nào ở miền Nam đang chật vật mấy bữa cơm hàng ngày cảm thấy mang ơn đoàn quân “giải phóng” mỗi khi có dịp nhắc lại biến cố bi thảm đó. Đấy là chưa nói, nhiều năm sau 1975 hàng triệu kẻ “được giải phóng” đã phải tự giải phóng mình một lần nữa bằng cách vượt biên, gây nên thảm cảnh thuyền nhân nhức nhối trong lòng dân tộc. Vậy sự ly tán của các gia đình Việt Nam tưởng đã chấm dứt khi chiến tranh kết thúc, nhưng lại vẫn tiếp diễn một cách đáng buồn vì "giải phóng".
30/4/1975 - Ngày Giải phóng?
Luật sư Lê Công Định
Nhiều khẩu hiệu, áp phích chào mừng 'Đại thắng Mùa Xuân' 1975 và 'Giải phóng Miền Nam' lại được chính quyền trưng ra trong dịp này.
Giải phóng bao hàm sự bao dung đối với bên thua cuộc, nhưng thay cho chính sách hòa giải dân tộc là các trại cải tạo mọc lên như nấm sau cơn mưa để giam cầm không qua xét xử hợp pháp các quân nhân và công chức của chế độ Sài Gòn. Mang hận thù và chia rẽ đến giữa lòng dân tộc thì giải phóng ai và vì cái gì? 40 năm sau biến cố "giải phóng", xã hội ngày càng trở nên vô đạo đức nghiêm trọng, vậy phải chăng con người đã bị giải phóng khỏi đức hạnh và văn minh để quay trở về thời kỳ hoang dã?
Thời trung học, tôi cũng quen dùng từ "giải phóng" một cách vô thức như bao người. Song từ lúc vào đại học, do ngán ngẩm lối giáo dục đầy dối trá, tôi bắt đầu tự tìm hiểu sự thật lịch sử để trang bị lại kiến thức cho mình và nhờ đó nhận ra sự lố bịch của hai chữ "giải phóng".
Tất nhiên, lịch sử không có chữ nếu, nhưng giá mà không có cái gọi là "giải phóng" ấy từ năm 1954, rồi 1975, hẳn đất nước không trì trệ và lạc hậu như ngày nay, mà thay vào đó người Việt ở các giai tầng xã hội khác nhau đã cùng nắm tay đưa con thuyền tổ quốc đến bến bờ mới của nền thịnh trị và xã hội thịnh vượng từ lâu
Tháng Tám vừa qua vào cao điểm mùa gió mùa ở Biển Đông, một chiếc thuyền bị rò rỉ nước trôi giạt vào bờ biển Indonesia. 64 người tỵ nạn Việt Nam cả người ướt đẫm, đói, và sợ hãi cố tiến vào bờ.
Sự kiện này lẽ ra hầu như bị lãng quên trong toàn bộ lịch sử đau khổ mà thuyền nhân Việt Nam chịu đựng, ngoại trừ một điều: Trong 64 người sống sót ấy có Trương Như Tảng, nhà cách mạng Việt Nam cao cấp nhất đào thoát sang Phương Tây.
Trong suốt sáu tháng kế tiếp ở trại tỵ nạn trên đảo Anambas, lý lịch của Tảng là người thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và là bộ trưởng tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời vẫn còn là một bí mật mà chỉ vợ ông biết. Bí mật ấy vẫn còn giấu kín ngay cả sau khi Tảng được phép định cư ở Pháp, nơi một ủy ban người Việt lo nhà cho ông ở tại Poitiers và việc làm công nhân cho ông ở nhà máy lốp xe Michelin.
Tuy nhiên, vào tháng Sáu, Tảng đã trút bỏ vỏ bọc người tỵ nạn bình thường và thông báo lý lịch ông tại cuộc họp báo Paris.
“Là người đã dành trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho sự nghiệp quốc gia Việt Nam,” ông tuyên bố, “tôi phải nói cho quý vị biết rằng công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã bị phản bội.”
Để trốn thoát Tảng đã phải trải qua bao giông tố ngoài biển khơi, chạm trán với đội tuần tra an ninh Việt Nam, và thậm chí cả cuộc tấn công của hải tặc. Trải qua tất cả những khó khăn này, ông vẫn mơ về ngày ông có thể công khai nói thật ra những điều ông nghĩ ở Paris, và kêu gọi tất cả những người Việt Nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đấu tranh chống lại chế độ mới.
Cách đây vài tuần, trong cuộc phỏng vấn chứa đựng nhiều thông tin và chi tiết nhất từ trước đến nay, Trương Như Tảng cho phóng viên này biết sự đấu tranh có tổ chức đang bắt đầu thành hình ở Việt Nam. Đó không chỉ là kháng chiến rải rác của các lực lượng cũ, cánh hữu, thân Mỹ mà đã và đang tiếp tục từ năm 1975. Quan trọng hơn là, Tảng nói, nhiều người trước kia thuộc về “lực lượng thứ ba” và ngay cả những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam bất đồng chính kiến đang tự tổ chức thành những ổ kháng chiến.
Thừa nhận Lê Duẩn (tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác trong giới lãnh đạo Hà Nội vẫn kiểm soát chặt chẽ đất nước, Tảng tóm tắt một số nhân tố đang phá hoại sự ổn định của chính quyền của họ. Ông nhắc đến sự thiếu hụt lương thực nghiêm trọng, đàn áp chính trị, mà ông nói “thậm chí còn tệ hơn thời chế độ Thiệu ở Sài Gòn,” thương vong nặng nề trên chiến trường ở Cambodia, Liên Xô không cung cấp viện trợ kinh tế đầy đủ như đã hứa, và sự rạn nứt trong giới lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt về chính sách đối ngoại thân Liên Xô và lập trường thù địch đối với Trung Quốc của Việt Nam.
“Nhân dân Việt Nam không muốn đánh Trung Quốc,” Tảng khẳng định. “Cho dù bao nhiều lần đi nữa Lê Duẩn nói với nhân dân rằng Trung Quốc chịu trách nhiệm về những vấn đề kinh tế của đất nước, nhưng nhân dân thấy rất rõ ràng Hà Nội phải chịu trách nhiệm chuyện ấy.”
Trong ánh sáng lờ mờ trong căn nhà hầu như chẳng bày biện gì ở Poitiers, ông có vẻ như chẳng màng đến cái giá riêng tư ông phải trả để được nói thẳng công khai. Khác với đa số những người tỵ nạn Việt Nam trốn thoát khỏi cảnh đói kém và đàn áp sắc tộc để có cuộc sống tốt hơn ở Phương Tây, ông đã đổi biệt thự sang trọng có người giúp việc, xe hơi riêng, khẩu phần thịt và đường cao hơn bình thường để lấy sự tồn tại nghèo nàn và bấp bênh của một công nhân di dân ở Pháp.
“Tôi không thể im lặng mãi,” ông nói về lý do ông trốn thoát. “Tôi không thể nào đứng nhìn một cách thụ động để thấy mọi thứ mà nhân dân tôi đã đấu tranh suốt 20 năm trời bị hủy diệt.”
Cách đây 20 năm Trương Như Tảng đã quay lưng lại với nền giáo dục từ Sài Gòn giàu có và học vấn đại học từ Paris của mình để gia nhập cách mạng Việt Nam. Ông là một trong 60 người Miền Nam tham gia thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào năm 1960.
Chẳng bao lâu sau đó bị tù vì những hoạt động cách mạng, ông thoát khỏi có lẽ cái chết dưới tay nhà cầm quyền Sài Gòn khi ông được trao đổi lấy ba tù binh Mỹ vào năm 1968. Rồi ông biến mất vào những căn cứ bưng biền của Việt Cộng.
Khi chính phủ cách mạnh lâm thời được thành lập vào năm sau, Tảng được bổ nhiệm làm bộ trưởng tư pháp. Mặc dù các đội tìm-và-diệt của Mỹ thường đến gần công sự trong rừng của Tảng trong vòng 100 mét, nhưng trong suốt thời gian chiến tranh ông tập trung thảo ra những kế hoạch để chuẩn bị cho bộ tư pháp hoạt động ở Miền Nam Việt Nam mới sau chiến thắng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.
Chiến thắng đến, nhưng Tảng không bao giờ có cơ hội thực hiện những kế hoạch của mình. Khi duyệt binh từ lễ đài trong buổi lễ chào mừng chiến thắng ở thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) vào tháng Năm 1975, ông bị cú sốc lớn đầu tiên: Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm thời không nhìn thấy đâu cả. Khi ông hỏi tướng Văn Tiến Dũng (bộ trưởng quốc phòng Việt Nam hiện nay) về lý do tại sao chỉ có cờ Miền Bắc Việt Nam tung bay, tướng này đã trả lời ông một cách khinh thường, “Quân đội đã được thống nhất.”
Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn vỡ mộng đối với Tảng. Ông cố gắng tập hợp ban chuyên gia pháp lý cho bộ tư pháp, nhưng những ai mà các cán bộ cộng sản không thích đều lặng lẽ bị đưa đến các trại “cải tạo”. Những người dân thường đòi biết ông, với tư cách bộ trưởng tư pháp, làm được gì cho bạn bè và người thân của họ bị tịch thu tài sản hay cho những người bị buộc phải dọn lên các vùng kinh tế mới.
“Tôi chứng kiến một chế độ độc tài phát-xít đang được xây dựng lên,” Tảng buồn bã nói, “và mặc dù tôi đã tranh cãi, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Các mệnh lệnh đều xuất phát từ Hà Nội, và quân đội và công an mật luôn luôn sẵn sàng ủng hộ họ.”
Vào năm 1976 Việt Nam được thống nhất theo cách ông mô tả là “bạo lực và trả thù.” Hồ Chí Minh thường tuyên bố khi thống nhất đến quá trình thống nhất nên chậm và theo từng bước một. Nhưng vào năm 1976, vấn đề thống nhất bị áp đặt lên Miền Nam, và họ không có cơ hội phản đối điều ấy.
“Lê Duẩn ra sức củng cố quyền lực này rất nhanh chóng,” Tảng tin.“Ông ta không thể nào để Miền Nam phát triển thành nơi cuối cùng phản đối cương quyết các chính sách của ông.”
Trong số 24 thành viên của Chính phủ Lâm thời vào thời điểm hiệp định hòa bình Paris được ký vào năm 1973, chỉ có ba thành viên được trao cho những chức vụ trong chính phủ thống nhất sau năm 1976. Tảng nói ngoại trừ một vài người khác là các viên chức quân đội, còn tất cả những người còn lại của Chính phủ Lâm thời cũ đều sống trong cảnh hoàn toàn ẩn dật và trong lòng họ rất ghê tởm những gì đã diễn ra.
Nhằm cố gắng giữ ông trong đoàn thể, sau thống nhất giới lãnh đạo Hà Nội ban cho ông chức vụ nhỏ trong bộ lương thực. Ông từ chối, không muốn tiếp tục đồng lõa với chính quyền ông chống đối, ông cũng không muốn bị giám sát thường xuyên ở Hà Nội. Khi ông cuối cùng chấp nhận công việc làm giám đốc công ty cao su vào năm 1978, lý do ông làm thế là để tạo vỏ bọc nhằm tổ chức kế hoạch đào thoát.
Trong sáu tháng ở trại tỵ nạn ông có nhiều thời gian suy nghĩ về chuyện tại sao cách mạng Việt Nam không thành công. Bây giờ ông tố cáo giới lãnh đạo hiện nay đã từ bỏ định hướng về thống nhất dân tộc và phi liên kết quốc tế được Hồ Chí Minh đề ra. Từ ngữ mị dân Mác-xít, ông nói, chỉ là ngôn ngữ áp bức mới ở Việt Nam.
“Ở Việt Nam hiện nay không có chuyên chính vô sản,” ông nói. “Chỉ có điều mà chúng tôi gọi bằng tiếng Việt là ‘gia đình trị’-tức độc tài của các dòng họ. Trong trường hợp này đó là các gia đình của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (trưởng ban tổ chức Đảng) kiểm soát tất cả mọi thứ.”
Để chứng minh điều này là đúng, Tảng kể ra danh sách gồm các con trai, anh em, anh em vợ của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đang giữ những chức vụ chủ chốt từ đứng đầu công an mật tới bí thư chính ủy lực lượng không quân.
Tiếng Pháp rất giỏi của ông hay cách nói năng nhẹ nhàng của ông vẫn không có thể che giấu sự cay đắng trong giọng nói khi Tảng nói. Nhưng bất chấp những từng trải của mình, lý tưởng của ông vẫn còn nguyên vẹn. Ông nhất định không từ bỏ giấc mơ của mình về xã hội công bằng và dân chủ ở Việt Nam.
Mặc dù ông ban đầu dự định hoạt động chính trị từ từ trong lúc ông thích nghi với cuộc sống mới ở Paris, nhưng bây giờ ông thấy mình thường xuyên đến Paris để tham gia vào các nỗ lực nhằm củng cố phong trào kháng chiến Việt Nam và để hình thành cầu nối với các lực lượng kháng chiến Lào và Cambodia. Ông đã tiếp xúc với bạn học cũ vào thời trung học - hoàng thân Norodom Sihanouk, cựu quốc trưởng Cambodia - và hai người đã trao đổi những lời hứa đoàn kết.
Tảng không mất đi sự mỉa mai khi ông nói về mặt trận chung của nhân dân Việt Nam, Cambodia, và Lào chống lại những kẻ mà ông gọi là “kẻ thù chung”: giới lãnh đạo Hà Nội và những kẻ ủng hộ Liên Xô của họ. Ông ý thức rằng điều ông đang đề xuất thể hiện sự bắt đầu lại từ đầu hội nghị thượng đỉnh của nhân dân Đông Dương vào năm 1970, nơi các nhà lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam, Cambodia, và Lào đã gặp nhau ở Trung Quốc để thành lập liên minh chung chống lại Hoa Kỳ và chế độ Sài Gòn.
Trên đất Pháp ngoại quốc, Trương Như Tảng lại bắt đầu lại từ đầu, làm những gì ông đã làm cách đây 20 năm ở Sài Gòn - đặt nền tảng cho cuộc cách mạng Việt Nam.
Hồn Nhiên (Danlambao) - Cứ mỗi khi tháng 4 đến, trong tôi lại ùa về trùng trùng những ký ức. Tôi không có thói quen sống hoài niệm, nhưng có những khoảnh khắc làm cho tôi không thể nào quên.
Ba Mẹ tôi rất đông con, ngày mất nước mẹ tôi còn ôm cái bụng bầu em bé út thứ 10 sắp khai hoa nở nhụy. Thường thì gia đình đông con người ta gọi là Phúc, nhưng phúc đâu không thấy, chỉ thấy tai họa ập xuống đầu gia đình tôi khi cộng quân tràn về chiếm đóng. Ngày đó, với trí óc non trẻ, tôi nghĩ chắc không bao lâu đâu, rồi việt cộng sẽ rút, giống như xem phim những căn cứ địa bị vc chiếm đóng rồi sau đó có một quân đoàn dù hay thiết giáp gì đó sẽ tới giải vây. Nhưng không phải vậy. Tôi thấy trên gương mặt Ba tôi vẻ đăm chiêu thường xuyên xuất hiện. Mẹ tôi thì cáu gắt hơn mọi ngày. Anh chị tôi thì ngơ ngác, duy chỉ có các em tôi là vô tư nô đùa. Còn tôi thì đắm mình trong sách báo, hay nghe ngóng radio (hồi đó tôi mê nghe đài Mẹ Việt Nam lắm).
Cái ngày thảm họa đó cũng đến, Mẹ tôi đưa hết anh chị em tôi về quê lánh nạn theo lệnh di tản ban hành. Chỉ còn tôi, bà chị cả và cô giúp việc ở lại quyết giữ lấy căn nhà. Ngày đó hay có nạn hôi của, và tôi đã chứng kiến nạn hôi của ấy khi có một kho hàng của cơ quan từ thiện bị người ta cạy cửa vào lấy sạch, thủ quản kho hàng này đã di tản từ lâu. Ai nghe đến danh từ “cộng sản” là le lưỡi khiếp đảm. Có một câu chuyện vui vui được kể lại như thế này: Một đoàn bộ đội cs từ rừng về đi ngang qua nhà một người dân. Thình lình đoàn người dừng lại, vừa nhác thấy một người đàn bà trạc tuổi 57, 60 đang ngồi nhai cơm mớm cho con ăn, người bộ đội ra dáng chỉ huy quay hỏi người đàn bà:
- Chị chỉ cho chúng tôi quán nước gần đây, chúng tôi vừa từ bưng về khát nước lắm.
- Vâng, các đồng chí cứ đi thẳng tới cuối đường thì rẽ trái, quán nước ở ngay đầu đường.
Rồi chừng như muốn làm đậm đà thêm câu chuyện, ắt hẳn muốn lấy cảm tình của người chiến thắng chăng, bà huyên thuyên nhanh nhẩu:
- Cám ơn các đồng chí cách mạng. Nhờ có các đồng chí mà người dân thành phố chúng tôi không còn sợ bị cộng sản pháo kích nữa. Cám ơn các đồng chí nhiều lắm(!)
Cả đoàn bộ đội nín khe, mặt mày tái mét, không biết trạng thái này là vì sốt rét rừng hay vì tác động bởi câu nói vô tình của người đàn bà kia. Riêng người bộ đội chỉ huy thì khuôn mặt đanh lại, lạnh lùng bước đi, chả buồn nói một lời cám ơn, hay chí ít một nụ cười.
Rồi thì những “hồ hởi, phấn khởi”gượng tạo ban đầu cũng qua, gia đình tôi bắt đầu phải đối mặt với những trận cuồng phong không thể tránh được. Đầu tiên Ba tôi bị ném vào trại “tập trung cải tạo”, nhưng thực chất là trại nhục hình dành cho quân nhân cán chính VNCH. Suốt một tháng ròng rã cs nhốt Ba tôi ở một nơi bí mật không ai hay biết. Mẹ tôi, người yếu như con sên sau khi sinh nở. Vì lo lắng cho Ba tôi mà Mẹ tôi gầy rộc đi, mắt Mẹ tôi lúc nào cũng mờ lệ. Tuy nhiên, khi có ai tò mò hỏi về Ba tôi, bà giữ im lặng bằng một nụ cười buồn không trả lời.
Thời điểm đó, không ai dám tin ai. Không ai dám nói thật những suy nghĩ của mình về chế độ mới, sợ người ta báo cáo lên phường để dâng công với chế độ. Hàng xóm láng giềng trước kia thân là thế, tối lửa tắt đèn có nhau, thế mà giờ trở nên e dè nhau, quan sát nhau. Ngày đó, các em tôi còn nhỏ dại, con nít chơi đùa với nhau, thằng em trai áp út của tôi lỡ tay ném viên gạch vào cửa sổ làm bằng kính của nhà hàng xóm, thế là họ làm lớn chuyện, đòi thưa em tôi vào tù. Mẹ tôi sợ lắm, vì gia đình có Ba làm cho chế độ cũ thì đã là cái gai trong mắt của chế độ mới rồi, cho nên mất bao nhiêu tiền Mẹ tôi cũng không tiếc, chỉ mong sao họ im lặng và bỏ qua cho. Thế là họ treo giá, một cái giá cắt cổ, Mẹ tôi bấm bụng bồi thường. Con dại cái mang, Mẹ tôi bảo vậy. Hàng xóm được nước càng lấn tới, ăn hiếp anh chị em tôi. Em gái tôi phẫn uất chịu không nổi, xin Mẹ đi học võ. Ban đầu Mẹ tôi ngần ngừ không cho, nhưng em tôi thuyết phục mãi, nào là “con học võ không phải đánh lộn với ai đâu, chỉ là giúp cho cường thân kiện thể thôi”, nào là “con gái phải biết võ, lỡ bị kẻ xấu tấn công thì cũng biết đường tự vệ” v.v… cuối cùng Mẹ tôi bằng lòng. Cũng nhờ có cô em gái biết võ, chúng tôi sống tự tin hơn.
Một ngày kia có người từ chỗ tạm giam Ba tôi trở về, lúc đi ngang nhà tôi, người đó ngó dáo dác xem chừng không có ai mới ném vào nhà tôi một mẩu giấy được xé từ hộp thuốc lá Captain, loại thuốc thường ngày Ba tôi vẫn hay hút. Mẹ tôi nhận ngay ra tuồng chữ của Ba tôi, và bà như ngất đi vì quá đỗi vui mừng. Ba tôi bị nhốt vào một phòng giam mà trước kia Ba tôi thường làm việc, để hỏi cung những người cộng sản nằm vùng chuyên đặt mìn trên xe đò, đặt plastic ở rạp hát làm chết dân hàng loạt. Người giúp chuyển lá thư của Ba tôi về cho Mẹ tôi là một cô gái ăn sương tốt bụng, cô nhìn thấy hoàn cảnh của Ba tôi đáng thương nên bất chấp sự hiểm nguy, nhận đưa thư về để mong Ba tôi được có người thân thăm viếng. Nếu không, vc sẽ nhốt Ba tôi dài hạn mà không cần kết án. (Đã có nhiều người lâm vào trường hợp giống Ba tôi mà đến nay vẫn còn ngồi tù, vẫn chưa có người thân đi thăm nuôi). Sau đó không bao lâu, Ba tôi chính thức đi trại nhục hình với lời hứa hẹn của vc là “chỉ đi 10 ngày rồi sẽ trở về nguyên quán”. Thật là một lời nói láo trơ trẽn nhất mà vc đã dùng để dối gạt người dân miền Nam, đặc biệt là đối với quân nhân cán chính VNCH và thân nhân của họ!
Giai đoạn năm 1978, 1980, phong trào vượt biên nở rộ. Đi đâu cũng nghe thiên hạ xầm xì chuyện vượt biên. Làm sao không vượt biên cho được khi quyền làm người đã bị tước đoạt? Chính sách bao tử trị của vc xem ra khá hiệu nghiệm, Người dân bị khuất phục và trở nên thụ động chỉ vì… Đói! Thật vậy, đói làm cho con người mất đi khả năng đối kháng, trở nên hèn yếu và nhu nhược. VC cố tình triệt hạ miền Nam bằng ba lần đổi tiền, đồng thời “Đánh tư sản mại bản”, dùng chữ cho hay thế thôi chứ thật ra là ăn cướp. Cướp sạch, cướp tới tận cùng của người dân miền Nam. Nhiều gia đình làm ăn tích lũy từ thời cha ông của họ, trở thành trắng tay qua một ngày “đánh tư sản mại bản”, có người treo cổ tự tử, có người bị sốc nặng trở thành điên loạn. Và ý tưởng vượt biên bắt đầu nhén nhúm trong lòng họ. Thế rồi những chuyến tàu vượt biển đầu tiên ra khơi. Có người đến được bến bờ tự do đã gởi thư về, càng thôi thúc những những chuyến tàu sau tiếp nối. Có người còn nói: “thà chết ngoài biển làm mồi cho cá mập còn hơn làm nô lệ cho chế độ khốn nạn này”. Và thế là họ đi. Già có, trẻ có, gái có, trai có, họ đi mà không nhận thức được nguy hiểm đang chờ họ phía trước. Họ phó thác cho số mạng, đi cái đã, rồi ra sao thì ra.
Tôi có một cô bạn, nhỏ hơn tôi vài tuổi. Khuôn mặt đẹp thánh thiện, và tâm hồn cô cũng thánh thiện. Cô đang học lớp 9 thì bỏ học ngang xương. Tôi hỏi: “sao em lại nghỉ học?”. Cô buồn buồn trả lời: “Học làm gì chị ơi. Học cho lắm lên ĐH cũng bị đánh rớt à”. Tôi biết cô nói đúng, “học tài thi lý lịch” là câu châm ngôn mà bọn trẻ thời đó thường hay nói. Nhưng tôi cũng cố tìm lời an ủi: ‘Thì kệ đi, mình học để tích lũy kiến thức cho mình, chứ bỏ học là mình chịu dốt sao?”. Cô nháy nháy mắt: “mà chắc gì em ở lại VN đâu mà học chị?”. Tôi chột dạ: “Cái gì? Em tính đi đâu mà không ở VN?”. Cô đưa ngón tay trỏ lên môi: “suỵt!” Tôi hiểu ý, không nói nữa.
Một tháng sau, tôi nhận được tin báo: “H.T đi vượt biên vì hết nước uống và lương thực, nên bị ăn thịt chết rồi!”. Bàng hoàng, sửng sốt, tôi không tin vào tai mình. Cách một tháng trước tôi còn nói chuyện với cô ấy mà. Không, tôi không tin có chuyện đó. Người dân xứ tôi hay đồn thổi lắm. Nên chuyện này chắc chắn chỉ là lời đồn thôi. Nhưng không, khi tôi tìm tới nhà cô bạn tôi để xác minh, thì trời ơi, ngay giữa nhà là một chiếc bàn thờ với tấm di ảnh của người bạn nhỏ. Tôi òa khóc nức nở. Lòng tôi tê điếng. Trở về nhà với tâm trạng nặng trĩu như mang một tảng đá trong lòng, tôi nhủ thầm: “Mình sẽ viết lại những gì mình chứng kiến, hầu để cho lớp trẻ sau này hiểu rõ hơn cái gọi là “giải phóng” của csVN. Tất cả người dân, Bắc cũng như Nam, đều bị vc dối gạt hết rồi”.
Và đến bây giờ, sau hơn 40 năm, dân mình vẫn còn bị gạt…