 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
3 |
 |
Lượt truy cập: |
29442305 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Mỹ mưốn giúp VN lấy lại Hoàng Sa nhưng Nguyễn Phú Trọng và tay sai nhất quyết theo TQ
01.02.2016 02:06
Tại sao Mỹ lại chọn quần đảo Hoàng Sa để ra tay? Mỹ đang phá tan âm mưu của Trung Quốc hiện thực hóa đường lưỡi bò thông qua đòi hỏi vô lý 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế cho Hoàng Sa...  Tàu khu trục USS Curtis Wilbur, ảnh: Military.com.Xung quanh hành động bất ngờ của Hải quân Mỹ phái chiến hạm tuần tra bên trong 12 hải lý đảo Tri Tôn, Hoàng Sa ngày 30.1,
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã gửi đến bạn đọc bài phân tích của ông về vấn đề này.
| | Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ. |
The Wall Street Journal ngày 30.1 đưa tin, hôm qua Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thông báo, cùng ngày Hải quân Hoa Kỳ đã phái chiến hạm tuần tra bên trong 12 hải lý đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam, hiện đang bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp từ 1974 đến nay). Động thái này bất ngờ là vì lâu nay Mỹ chỉ tiến hành các hoạt động tương tự ở khu vực quần đảo Trường Sa, nơi tranh chấp phức tạp với 5 nước 6 bên yêu sách, trong đó Trung Quốc đang quân sự hóa nhanh chóng khu vực này bằng việc bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp, cản trở tự do hàng không hàng hải trong khu vực. Chưa bao giờ Mỹ có hoạt động bảo vệ tự do hàng hải ở Hoàng Sa. Theo tuyên bố của người phát ngôn Bộ Quốc phòng Mỹ, hoạt động của tàu khu trục USS Curtis Wilbur (DDG 54) di chuyển bên trong 12 hải lý đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa vẫn nhắm mục tiêu thể hiện quyết tâm của Mỹ bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông. Sự kiện này tác động, ảnh hưởng như thế nào đối với Biển Đông? Với tư cách là một bên liên quan trực tiếp, Việt Nam có bị tác động ảnh hưởng gì từ sự kiện này? Hoa Kỳ đánh đồng quan điểm của Việt Nam với Trung Quốc và Đài Loan về tự do hàng hải ở Hoàng Sa là một sự hiểu lầm đáng tiếc Lầu Năm Góc tuyên bố, hoạt động của tàu USS Curtis Wilbur nhằm thách thức các nỗ lực của cả ba bên tranh chấp, Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam muốn giới hạn các quyền hàng hải và quyền tự do xung quanh các thực thể địa lý mà họ yêu sách chủ quyền, bằng cách đòi nước khác phải xin phép hay thông báo trước khi đi qua không gây hại trong phạm vi 12 hải lý lãnh hải của các thực thể ở Biển Đông. Đầu tiên cần phải lưu ý rằng, mục tiêu, đối tượng mà Mỹ muốn thách thức trong các hoạt động tuần tra bên trong phạm vi 12 hải lý một số thực thể ở Trường Sa và bây giờ là Hoàng Sa chỉ nhằm bác bỏ các "đòi hỏi quá mức" của các bên, mà cụ thể và điển hình nhất là Trung Quốc, đối với các vùng biển hiệu lực của các thực thể này, chứ không đề cập đến yếu tố CHỦ QUYỀN của các thực thể đó thuộc về quốc gia nào. Câu hỏi đặt ra là, vậy yêu sách của Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đối với các vùng biển hiệu lực xung quanh các thực thể ở Hoàng Sa khác nhau như thế nào? Cái nào phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà Hoa Kỳ đang cố gắng bảo vệ? Cái nào chống lại UNCLOS? Trả lời được những câu hỏi này sẽ tránh được những hiểu lầm đáng tiếc. Thứ nhất, đối với Việt Nam, Luật Biển Việt Nam năm 2012 quy định rõ trong Điều 12 - Chế độ pháp lý của lãnh hải: 2. Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam. Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. 3. Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Còn Phần 3, Điều 21 UNCLOS về luật pháp và các quy định của quốc gia ven biển liên quan đến đi qua vô hại trong lãnh hải: 1. Các quốc gia ven biển có thể THÔNG QUA CÁC LUẬT VÀ QUY ĐỊNH, phù hợp với các quy định của Công ước này và các quy định khác của pháp luật quốc tế, liên quan đến đi qua vô hại trong lãnh hải, đối với tất cả hay bất kỳ những điều sau đây: (....) 3. Các quốc gia ven biển có trách nhiệm cung cấp cho công chúng tất cả các luật và quy định đó. 4. Tàu nước ngoài thực hiện quyền đi qua vô hại qua lãnh hải phải tuân thủ tất cả các luật và quy định và các quy định quốc tế được chấp nhận chung liên quan đến việc phòng ngừa đâm va trên biển. Như vậy có thể thấy rõ, Luật Biển Việt Nam không hề mâu thuẫn với UNCLOS, không hạn chế quyền đi qua vô hại của tàu nước ngoài trong lãnh hải 12 hải lý của mình bằng việc buộc các tàu này phải XIN PHÉP. Về việc tàu quân sự nước ngoài thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, điều này không những góp phần hỗ trợ các hoạt động đi qua vô hại trong lãnh hải Việt Nam của tàu nước ngoài được diễn ra thuận lợi và đúng luật, mặt khác còn bảo lưu quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam như Khoản 1 Điều 21 Phần 3 UNCLOS đã nêu. Trung Quốc thì ngược lại, họ đòi tàu nước ngoài khi đi qua 12 hải lý lãnh hải mà họ yêu sách (vô lý, phi pháp đối với Hoàng Sa, Trường Sa) phải XIN PHÉP nước này. Thời báo Hoàn Cầu ngày 30.1 dẫn lời bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng, tàu thuyền quân sự nước ngoài muốn đi qua vô hại trong lãnh hải 12 hải lý (mà Trung Quốc yêu sách), phải được chính phủ Trung Quốc PHÊ CHUẨN. 
| | Bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc. |
Rõ ràng đó là sự vi phạm trắng trợn Khoản 1 Điều 24 Phần 3 UNCLOS. Nội dung này quy định, các quốc gia ven biển không được áp đặt các yêu cầu đối với tàu nước ngoài mà trên thực tế nhằm từ chối hoặc làm suy yếu quyền đi qua vô hại. Bởi vậy, thiết nghĩ Lầu Năm Góc không nên đánh đồng Việt Nam vào một nhóm với Trung Quốc, Đài Loan trong vấn đề quyền tự do hàng hải ở Hoàng Sa, Trường Sa để có hành động phản đối. Việt Nam có chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời Việt Nam cũng là thành viên UNCLOS, tuân thủ đầy đủ quy định của Công ước, bao gồm việc bảo đảm quyền tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Trung Quốc thì đang làm ngược lại. Tại sao Mỹ lại chọn Hoàng Sa để "ra tay"? Như đã nói ở phần trên, Hoa Kỳ chỉ thách thức các "đòi hỏi quá đáng", yêu sách làm phương hại đến quyền tự do hàng không, hàng hải ở Biển Đông chứ không đứng về bên nào khi nói đến CHỦ QUYỀN đối với các thực thể ở Biển Đông, cụ thể là 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trường Sa là nơi 5 nước 6 bên có yêu sách. Quần đảo này lại án ngữ tuyến đường hàng hải huyết mạch toàn cầu và là nơi Trung Quốc đang quân sự hóa mạnh mẽ, đe dọa nghiêm trọng tự do hàng không hàng hải ở Biển Đông thì Mỹ can thiệp là điều dễ hiểu. Còn Hoàng Sa dưới góc nhìn của Mỹ là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam, không liên quan nhiều đến hoạt động hàng không, hàng hải, tại sao Mỹ lại lựa chọn làm đối tượng để thực hiện việc bảo vệ tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông lúc này? Cá nhân tôi cho rằng, sở dĩ Hoa Kỳ chọn đảo Tri Tôn, Hoàng Sa để tiến hành tuần tra bảo vệ quyền tự do hàng hải lúc này, ngoài khả năng có thể Mỹ đã phát hiện thấy Trung Quốc đang có động thái nào đó về mặt quân sự ở Hoàng Sa, Washington còn có mục đích phá vỡ mưu đồ của Trung Quốc hòng hiện thực hóa đường lưỡi bò về mặt pháp lý. Tạm gác lại câu chuyện chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chỉ riêng việc ứng dụng và giải thích UNCLOS đối với 2 quần đảo này, Trung Quốc đã bộc lộ những mưu đồ nguy hiểm nhằm độc chiếm Biển Đông về mặt pháp lý. Ngày 15.6.1996, Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS và ban hành quy định về hệ thống đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, bao gồm quần đảo Hoàng Sa. Nước này tuyên bố xác định đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa bằng phương pháp vạch đường cơ sở thẳng chỉ áp dụng cho các quốc gia quần đảo, để nối liền 28 điểm nhô ra nhất của các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm thuộc Hoàng Sa. 
| | Hình minh họa đường cơ sở Trung Quốc tự vẽ ở Hoàng Sa bằng cách "vận dụng" vô lý phương pháp xác định đường cơ sở thẳng, áp dụng cho quốc gia quần đảo theo Điều 47 UNCLOS do học giả Song Phan, Sydney, Úc đồ họa. |
Bắc Kinh có thể đang nhăm nhe công bố đường cơ sở lãnh hải đối với quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough với cùng một thủ đoạn tương tự. Nếu điều này xảy ra mà không vấp phải sự ngăn cản nào, Trung Quốc có thể hiện thực hóa đường lưỡi bò về mặt pháp lý. Vấn đề ở đây là, cả Hoàng Sa, Trường Sa, Scarborough không phải quốc gia quần đảo theo Điều 47 UNCLOS, chúng không có một đời sống kinh tế riêng, do đó không thể áp dụng quy chế xác định đường cơ sở thẳng để tính chiều rộng lãnh hải như các quốc gia quần đảo. Cả Hoàng Sa, Trường Sa hay bất kỳ thực thể riêng biệt nào trong 2 quần đảo này và Scarborough đều không đủ điều kiện hưởng quy chế 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế theo Điều 121 UNCLOS vì chúng không có đời sống kinh tế riêng. Tuy nhiên Trung Quốc lại đang tìm cách bẻ cong UNCLOS để đòi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế cho Hoàng Sa, Trường Sa, Scarborough là những đối tượng họ yêu sách. Chỉ cần từ 3 điểm này, Trung Quốc vạch bán kính 200 hải lý là gần hết Biển Đông, bằng cách này Trung Quốc hòng hiện thực hóa đường lưỡi bò về mặt pháp lý. Để ngăn chặn và phá tan âm mưu này, Hoa Kỳ không chỉ cho tàu, máy bay tuần tra ở Xu Bi, Vành Khăn của quần đảo Trường Sa, mà nay còn bắt đầu tuần tra ở Tri Tôn, Hoàng Sa. Tất nhiên có thể giữa các nước lớn họ có những tính toán khác nữa, đặc biệt là khi Mỹ và Trung Quốc đang cạnh tranh ảnh hưởng ngày càng gay gắt trong khu vực và trên Biển Đông. Trung Quốc có thể vin cớ các hoạt động này của Hoa Kỳ để đẩy nhanh quá trình quân sự hóa ở Biển Đông. Nhưng dù Mỹ tuần tra hay không thì Trung Quốc vẫn sẽ cứ làm tới. Bằng chứng là 3 đường băng quân sự và 7 đảo nhân tạo khổng lồ họ mới bồi đắp ở Trường Sa hay việc điều chiến đấu cơ ra Phú Lâm, Hoàng Sa và nối dài đường băng quân sự... Vấn đề chủ quyền và UNCLOS Qua việc Mỹ cho tàu tuần tra bên trong 12 hải lý ở Tri Tôn, Hoàng Sa, một lần nữa chúng ta với tư cách một bên liên quan trực tiếp có chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cần nhận thức rõ ràng, tách bạch giữa vấn đề CHỦ QUYỀN với vấn đề áp dụng và giải thích UNCLOS ở Biển Đông. 
| | Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter gần đây cũng đã giải thích rõ hoạt động tuần tra của tàu USS Lassen bên trong phạm vi 12 hải lý đá Xu Bi, Trường Sa, Khánh Hòa ngày 27.10 năm ngoái trong một bức thư trả lời thắc mắc của Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện John McCain. |
Một số quan điểm cho rằng các hoạt động của Hoa Kỳ ở Biển Đông nhằm "thách thức yêu sách CHỦ QUYỀN" của Trung Quốc. Tuy nhiên điều này cần phải được hiểu chính xác là, Mỹ đang phá tan âm mưu của Trung Quốc hiện thực hóa đường lưỡi bò thông qua đòi hỏi vô lý 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế cho Hoàng Sa, Trường Sa, Scarborough chứ không phải vấn đề CHỦ QUYỀN đối với các thực thể ở Hoàng Sa hay Trường Sa. Bởi nếu chúng ta nhầm lẫn điều này, vô hình chung chúng ta đang tiếp tay, tiếp sức cho Trung Quốc trong việc tung hỏa mù với dư luận, đánh tráo các khái niệm pháp lý để Bắc Kinh trục lợi phi pháp. Mặc dù chính quyền và các quan chức Mỹ rất công khai, minh bạch và nhất quán lập trường không thiên vị bên nào trong các bên yêu sách CHỦ QUYỀN ở Biển Đông, nhưng Mỹ kiên quyết chống lại các "đòi hỏi quá mức", yêu sách bành trướng trong việc áp dụng, giải thích UNCLOS gây cản trở tự do hàng không, hàng hải ở Biển Đông. Còn Trung Quốc thì vẫn cứ cố tình hiểu sai và tuyên truyền sai. Người Mỹ chưa bao giờ nói "các đảo ở Biển Đông" thuộc về quốc gia nào như Trung Quốc đang tuyên truyền. Họ chỉ quan tâm các thực thể này có hiệu lực pháp lý đến đâu. Không thể đòi 12 hải lý lãnh hải cho các bãi cạn lúc nổi lúc chìm. Càng không thể đòi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế cho bất kỳ thực thể nào ở Hoàng Sa, Trường Sa hay Scarborough. Đó là lý do tại sao ông Mã Anh Cửu vội vã ra đảo Ba Bình, Trường Sa lấy một ít rau trái, nước ngọt về để thanh minh rằng đảo này có 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế theo Điều 121 UNCLOS. Tòa Trọng tài Thường trực PCA tới đây sẽ ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc áp dụng giải thích sai UNCLOS, trong đó có nội dung các thực thể ở Trường Sa không phải là một "Island" để hưởng quy chế 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế theo Điều 121 UNCLOS. Câu chuyện về chủ quyền chúng ta phải đấu tranh theo một hệ thống pháp lý riêng, không phải việc áp dụng và giải thích UNCLOS. Tách bạch rõ hai điều này, chúng ta mới có thể đấu tranh hiệu quả trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở Hoàng Sa, Trường Sa cũng như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa hợp pháp ở Biển Đông, không bị rơi vào những cái bẫy pháp lý đối phương đang cố tình giăng ra. Thiết nghĩ chỉ có như vậy, chúng ta mới tận dụng tối đa được vai trò, ảnh hưởng của các cường quốc bao gồm Hoa Kỳ trong việc gìn giữ hòa bình, ổn định và luật pháp quốc tế ở Biển Đông, ngăn chặn mọi hành vi sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực.
Sức mạnh khu trục hạm Mỹ đưa đến Hoàng SaUSS Curtis Wilbur là một trong những tàu khu trục lớp Arleigh Burke đầu tiên của hải quân Mỹ trang bị hệ thống tác chiến Aegis tối tân, giúp nâng cao khả năng ngắm bắn chính xác và phòng thủ trước tên lửa diệt hạm. Tàu khu trục tên lửa dẫn đường Mỹ USS Curtis Wilbur hôm 30/1 tiến vào phạm vi 12 hải lý quanh đảo Tri Tôn ở Hoàng Sa mà không thông báo trước. Đảo Tri Tôn là một cồn cát có diện tích lớn thứ ba ở quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trái phép từ năm 1974. Lầu Năm Góc nói không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Bộ Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh hoạt động của tàu USS Curtis Wilbur chỉ nhằm thách thức những "yêu sách quá mức" của các bên tranh chấp trong việc hạn chế các quyền hàng hải và tự do hàng hải xung quanh những thực thể mà họ tuyên bố chủ quyền, bằng cách đòi nước khác phải xin phép hay thông báo trước khi đi qua. Tàu USS Curtis Wilbur vừa cập cảng ở Manila, Philippines hôm 24/1 trong một chuyến thăm và bảo dưỡng định kỳ. USS Curtis Wilbur (DDG-54) là chiếc tàu khu trục tên lửa dẫn đường Aegis thứ 4 thuộc lớp Arleigh Burke. Con tàu được đặt tên theo tướng Curtis D.Wilbur, tư lệnh thứ 43 của hải quân Mỹ, phục vụ dưới thời Tổng thống Calvin Coolidge. USS Curtis Wilbur được chế tạo tại xưởng Bath Iron Works ở thành phố Bath, bang Maine, và biên chế vào ngày 19/3/1994. USS Curtis Wilbur dài 154 m, rộng 20 m, cao 9,6 m, lượng giãn nước khi đầy tải đạt 8.300 tấn. Tàu có khả năng di chuyển với vận tốc 56 km/h, tầm hoạt động 8.000 km nếu đi ở vận tốc 37 km/h. USS Curtis Wilbur trang bị hệ thống tác chiến Aegis, tích hợp toàn bộ các cảm biến và vũ khí vào một tổ hợp kiểm soát thống nhất để chống lại những mối đe dọa từ tên lửa diệt hạm đối phương. Hệ thống tác chiến Aegis có 4 bộ phận khác nhau, gồm radar đa chức năng AN/SPYT-1, hệ thống chỉ huy và ra quyết định (CDS), hệ thống hiển thị Aegis (ADS), và hệ thống kiểm soát vũ khí (WCS). Toàn bộ các dữ liệu do radar và các cảm biến trên tàu thu thập được đều được chuyển tới hệ thống chỉ huy qua vệ tinh, để người chỉ huy kịp thời nhận định tình hình và ra quyết định. Mệnh lệnh của người chỉ huy được truyền tới các màn hình hiển thị để bộ phận tác chiến lựa chọn vũ khí và có những hành động chiến đấu ngay lập tức. Dù không mang theo máy bay nhưng USS Curtis Wilbur vẫn có thể tiếp nhận một trực thăng Sikorsky SH-60 Seahawk. Tàu sở hữu một pháo MK45 cỡ nòng 127 mm có thể tiêu diệt tàu nổi, máy bay của đối phương và bắn phá các mục tiêu trên bờ biển để hỗ trợ những chiến dịch đổ bộ, hai súng máy tự động 25 mm, 4 súng 12,7 mm cùng hai tổ hợp pháo phòng không tầm ngắn Phalanx CIWS 20 mm, giúp tàu chống lại các mối đe dọa từ tên lửa diệt hạm. Ngoài ra, tàu trang bị hai hệ thống phóng thẳng đứng MK41 với 29 và 61 ống phóng. Kho vũ khí trên tàu gồm 90 tên lửa RIM-156 SM-2, BGM-109 Tomahawk hoặc RUM-139 VL-ASROC. Một trực thăng MH-60S Seahawk thuộc biên chế phi đội HSC 25 của quân đội Mỹ chuẩn bị đáp trên boong tàu USS Curtis Wilbur. Chỉ huy tàu USS Curtis Wilbur thực hiện nhiệm vụ áp sát đảo Tri Tôn lần này là nữ hạm trưởng Amy Graham. Bà được bổ nhiệm làm sĩ quan chỉ huy hồi tháng 9 năm ngoái tại căn cứ hải quân Mỹ đóng ở Yokosuka, Nhật Bản. Bà là một trong 7 hạm trưởng tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Hạm đội 7, thực thi nhiệm vụ tuần tra vùng biển Tây Thái Bình Dương giữa Nhật, Guam và Biển Đông.
Muôn đời vẫn quyết lấy lại Hoàng SaNgày 19.1.1974, Trung Quốc xua quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (bấy giờ đang thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa). 40 năm sau, tháng 5.2014, Trung Quốc bất ngờ đưa giàn khoan Hải Dương-981 hạ đặt trái phép ở vùng biển Tri Tôn, Hoàng Sa. Sự xâm phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của ngoại bang một lần nữa lại thổi bùng ngọn lửa yêu nước của toàn dân tộc, với lời hứa sắt son: Dù có bao nhiêu đời cũng quyết lấy lại Hoàng Sa. Kỳ 1: Ước nguyện cuối cùng Thế hệ trai tráng người Việt một thời chinh phục sóng gió và giữ Hoàng Sa trước ngày 19.1.1974 nay tuổi đa phần đã ngoài “thất thập”, già nua và ốm đau theo quy luật thời gian. Thế nhưng trong mỗi người vẫn chưa nguôi day dứt nỗi đau mất đảo và vẫn bùng cháy khát vọng trở lại Hoàng Sa.Tàu Trung Quốc ngang ngược xâm phạm vùng biển VN và hung hăng uy hiếp tàu chấp pháp của VN vào tháng 5.2014 - Ảnh: Lê Quân chụp lại từ clip Các tàu hộ tống Trung Quốc co cụm quanh giàn khoan Hải Dương-981 - Ảnh: Độc Lập |
Đạn bắn hơn bão biển Năm 2015, ông Nguyễn Văn Tấn bước sang tuổi 82 và tịnh dưỡng tại quê nhà làng Vĩnh Xương, xã Điền Môn (Thừa Thiên-Huế). Tuổi thanh xuân, ông đến với Hoàng Sa tình cờ khi cùng gia đình vào Đà Nẵng và được một đồng hương ở Nha khí tượng giới thiệu vào làm nhân viên tại đây. Lúc ông Văn Tấn 39 tuổi thì ông có chuyến “thử sóng” đầu tiên. Tạm biệt vợ và 5 người con, ông cùng 3 đồng nghiệp khí tượng khác lên đường đi Hoàng Sa. Từ năm 1972 đến ngày 19.1.1974, khi Trung Quốc đổ bộ chiếm đảo, tổng cộng ông đi Hoàng Sa 4 chuyến, mỗi chuyến 3 tháng làm việc. Cùng ra Hoàng Sa chuyến cuối cùng với ông Văn Tấn là ông Tạ Hồng Tấn (81 tuổi, ngụ Sơn Trà, TP.Đà Nẵng). Ông Hồng Tấn cũng là người quen của Hoàng Sa vì từ năm 1963 ông đã thường xuyên vào ra nơi này. Công việc của ông Hồng Tấn có phần phức tạp hơn khi mỗi ngày quan trắc 3 giờ/lần, lấy thông số sức gió, lượng mưa, độ ẩm rồi chuyển về đất liền. Còn ông Văn Tấn, giờ rảnh rỗi thì chăm sóc những luống rau để cải thiện bữa ăn. | | Điều ông Nguyễn Văn Tấn đau xót nhất là Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch này khi ngay trong ngày mọi người bị bắt, Trung Quốc đã đưa người lên đảo cất nhà cửa, đưa tàu cá và ngư dân cùng ngư lưới cụ vào đảo sinh hoạt, ngụy tạo việc cư dân Trung Quốc đã sinh sống ở đây, trong khi mới vài tiếng trước, người Việt Nam vẫn đang quyết liệt bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa. | |
|
“Sáng 19.1.1974, Trung Quốc đưa tàu chiến qua nhiều lắm, tôi chạy ra trên lầu thì thấy chúng rất đông. Trước đó một tuần, Trung Quốc cũng đã đưa tàu bè tác chiến rảo vô rảo ra, với ý dọa địa phương quân. Chúng tôi báo về đất liền, Nha khí tượng báo vào trong Sài Gòn, sau đó họ động viên chúng tôi yên tâm, cứ chuẩn bị sẽ cho tàu hoặc máy bay ra đón vô”, ông Văn Tấn kể lại. Nhưng tàu và máy bay chưa thấy đâu thì sáng sớm 19.1.1974 - ông Văn Tấn nhớ rõ đó là ngày thứ bảy cuối cùng của năm cũ - mọi người đã nghe những tiếng pháo long trời lở đất từ tàu chiến của Trung Quốc bắn theo đường vòng cung trút xuống đảo. “Tàu Trung Quốc bắn chặn trước và chặn sau đảo để bộ binh đổ bộ, hình như không cho chúng tôi chạy, nhưng đảo nhỏ thì chạy đường mô cho thấu, 4 anh em Nha khí tượng tay không nên chạy vô rừng bụi phía sau dãy nhà. Pháo bắn rát, chúng tôi tưởng cú này chết chắc rồi chứ sống chi nổi”, ông Văn Tấn nhớ lại. Từ phải qua: Ông Tạ Hồng Tấn, ông Ngô Tấn Phát, ông Võ Như Dân (những nhân viên Nha khí tượng cũ từng ra Hoàng Sa) thăm phòng trưng bày các tư liệu lịch sử của UBND huyện đảo Hoàng Sa - Ảnh: Nguyễn Tú |
Ông Hồng Tấn thì nhớ đạn pháo của Trung Quốc còn ghê gớm hơn trận bão biển kinh hoàng năm 1964 với những con sóng cao cả chục mét tưởng vùi lấp cả Hoàng Sa mà ông và đồng nghiệp đã từng trải qua. Bất ngờ, mọi người nghe lính Trung Quốc phóng loa nói tiếng Việt lơ lớ, đọc vanh vách tên từng người còn trốn, dọa nếu không ra đầu hàng thì sẽ cho quân đi càn quét, châm xăng đốt trụi dãy rừng. | | Trong quá trình thực hiện loạt bài này, chúng tôi đã tìm gặp lại nhiều người lính địa phương quân thuộc Bộ chỉ huy Tiểu khu Quảng Nam nhận nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa trước ngày 19.1.1974 như đôi bạn Nguyễn Văn Dữ (62 tuổi, ngụ phường Thọ Quang) và Trần Văn Sơn (68 tuổi, ngụ phường Phước Mỹ, cùng quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng). Với các ông được cống hiến tuổi xuân ở vùng biển trời xa nhất của Tổ quốc là một niềm tự hào, nhưng niềm tự hào đó chưa trọn vẹn khi quần đảo của nước ta đã bị chiếm đóng. “Sự kiện 40 năm Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa còn chưa nguôi, thì vừa qua Trung Quốc lại đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào Hoàng Sa như trêu ngươi. Hành động này cũng giống như thời chúng tôi canh giữ, Trung Quốc cũng từng đưa tàu cá có vũ trang vào khiêu khích tàu Việt Nam ở Hoàng Sa. Nay dù tuổi cao nhưng nếu được chọn thì tôi cũng tình nguyện đi bảo vệ biển đảo Hoàng Sa như thời trẻ đã từng”, ông Sơn quả quyết. Còn ông Dữ có phần điềm tĩnh hơn, ông tin tưởng rằng, với việc kiên trì đẩy đuổi giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc thì chắc chắn Nhà nước sẽ có biện pháp sáng suốt giành lại Hoàng Sa cho Việt Nam. “Chứ không lẽ để Trung Quốc làm tới luôn”, ông Dữ trăn trở. Nguyễn Tú | |
|
“Chúng vào dãy đồn trú địa phương quân và nhà khí tượng lấy tài liệu, hồ sơ của chúng tôi nên biết số lượng người trên đảo, nắm danh tính nên dễ dàng lùng bắt. Chúng còn cẩn thận kiểm đếm nhiều lần từ sáng đến tối cho đủ người rồi mới áp tải mọi người xuống tàu đưa về đảo Hải Nam. Sáng hôm sau, chúng tôi ngủ được 4 tiếng thì tiếp tục bị đưa đi suốt 1 ngày đến Quảng Đông và tống vào trại giam”, ông Văn Tấn ngậm ngùi. Theo ông Hồng Tấn, sau khi bị bắt giam, nhiều lần cán bộ Trung Quốc qua phiên dịch nói với những người bị bắt rằng Hoàng Sa là của Trung Quốc nhưng bị Việt Nam chiếm, nay Trung Quốc lấy lại. Tuy nhiên, tất cả người Việt bị bắt đều cực lực phản đối việc này. Lúc này ở nhà, vợ con ông Văn Tấn đều tưởng chồng, cha đã chết nên lập bàn thờ nghi ngút khói hương. Mãi 28 ngày sau ông Tấn được trao trả, Nha khí tượng bảo lãnh ông về Đà Nẵng thì cả gia đình mới gặp lại nhau trong ngậm ngùi. “Cướp biển” lần nữa Những ngày này, sức khỏe ông Văn Tấn không được tốt bởi cái lạnh thấu xương ở quê nhà. “Tiếc quá, năm này tôi yếu rồi nên không vào Đà Nẵng tham dự buổi gặp gỡ nhân chứng do UBND huyện đảo Hoàng Sa tổ chức thường niên vào ngày 19.1 tới đây”, giọng ông thoáng buồn. Mỗi khi nhắc đến Hoàng Sa, ông già 82 tuổi này vẫn run giọng bởi chưa nguôi nỗi uất ức năm xưa. Điều ông đau xót nhất là Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch này khi ngay trong ngày mọi người bị bắt, Trung Quốc đã đưa người lên đảo cất nhà cửa, đưa tàu cá và ngư dân cùng ngư lưới cụ vào đảo sinh hoạt, ngụy tạo việc cư dân Trung Quốc đã sinh sống ở đây, trong khi mới vài tiếng trước, người Việt Nam vẫn đang quyết liệt bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa. Đối với ông, sự kiện tháng 5.2014 Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, cách nam Tri Tôn 17 hải lý là hành động tính “cướp biển nước ta một lần nữa”. “Họ lại âm mưu chiếm biển của ta trong khi món nợ cướp đảo năm xưa còn chưa trả, qua đó để thấy sự lộng hành của Trung Quốc trên biển Đông, tuy nhiên nước ta đã kiên trì đấu tranh, buộc giàn khoan phải rút về nước”, ông Văn Tấn nói. “Tôi già rồi, cũng còn sống không bao lâu nữa, nhưng vẫn muốn kể những câu chuyện cho con cháu biết Hoàng Sa luôn luôn là của Việt Nam, để mong thế hệ trẻ giữ lửa rồi một ngày nào đó tụi nó sẽ lấy lại Hoàng Sa”, ông Văn Tấn tin tưởng. Ông Nguyễn Văn Tấn kể lại câu chuyện Hoàng Sa với ông Dương Trung Quốc (phải) - Ảnh: Nguyễn Tú | Ông Trần Văn Sơn mong muốn được trở lại Hoàng Sa - Ảnh: Nguyễn Tú |
Cùng bước qua tuổi “bát thập” như ông Văn Tấn, ông Hồng Tấn cũng đã già yếu, nhưng trí nhớ vẫn in đậm hình ảnh Hoàng Sa bởi 11 năm thường xuyên ra đây công tác. Ông còn nhớ rõ chuyến ra Hoàng Sa đầu tiên vào năm 1963, sau một đêm nghỉ ngơi, sáng hôm sau ông đã chạy ra hòn đá lớn trước đảo và khắc lên đó dòng chữ Tạ Hồng Tấn - Nha khí tượng - 1963 bên cạnh chằng chịt tên của những người Việt khác từng làm nhiệm vụ tại đó với niềm tự hào. Ông Hồng Tấn chỉ có một ước nguyện, đó là được một lần nhìn lại tên mình đã khắc trên hòn đá ở đảo Hoàng Sa, như minh chứng của một thời tuổi trẻ cống hiến cho biển trời Tổ quốc.
Thuyền trưởng Lê Minh Phúc và vết thương khâu vội tại thực địa - Ảnh: Độc Lập |
Những ngày dài từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2014, những người lính kiểm ngư, cảnh sát biển đã sát cánh cùng ngư dân Việt kiên trì ngăn cản, đẩy đuổi giàn khoan khổng lồ. Mồ hôi, nước mắt và cả máu đã đổ xuống trong hơn 70 ngày cam go đó, nhưng chưa phút giây nào những người giữ biển nản chí sờn lòng. Máu đổ giữa biển Đối với Lê Minh Phúc, nguyên thuyền trưởng tàu KN-22, mới nhận nhiệm vụ ở tàu khác, ký ức về 74 ngày đẩy đuổi giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc vẫn còn vẹn nguyên. Anh Phúc kể: Lúc 7 giờ ngày 25.5.2014, tàu KN-22 đang làm nhiệm vụ ở cách giàn khoan 10 hải lý thì bị 3 tàu Trung Quốc điên cuồng tấn công (Hải cảnh 32101 ép sau lái, Hải cảnh 32102 ép và va húc vào phía sau mạn phải, tàu kéo Hữu Liên 09 tăng tốc, đâm vào mạn trái, phun nước chính diện cabin). Đứng ở vị trí chỉ huy, thuyền trưởng Phúc hứng trọn hàng chục mảnh kính vỡ do vòi rồng bắn vỡ và áp lực nước cực mạnh quật gục anh xuống sàn. Giữa ngổn ngang kính vỡ, thiết bị hỏng đổ ngổn ngang, nước biển từ vòi rồng điên dại đè những thân hình mong manh áo ngắn, các kiểm ngư viên vừa điều khiển tàu vòng tránh tàu Trung Quốc vừa dìu thuyền trưởng Phúc xuống buồng y tế. “Lúc ấy tôi không biết gì, sau xem lại đoạn clip anh em quay lúc sơ cứu mới biết ngất vì mất máu quá nhiều, chảy tràn cả sàn!”, thuyền trưởng Phúc, “Tỉnh dậy là bắt anh em đưa lên buồng hành trình để chỉ huy con tàu. Không ai có thể nằm an dưỡng những lúc ấy!”. Cùng với thuyền trưởng Phúc, 3 nhân viên kiểm ngư khác là Hà Văn Minh, Nguyễn Duy Trình và Cao Văn Chiến đang đi ca cũng bị thương, nhưng 4 người họ ai cũng lắc đầu khi cấp trên liên lạc, đề nghị về bờ cứu chữa. | Tiếng chim cu giữa biển Tôi có may mắn được cùng những con tàu KN hồi đầu tháng 5.2014. Mỗi buổi sáng Hoàng Sa, biên đội 5 chiếc tàu của Chi đội KN 4 dập dềnh gần nhau, chờ lệnh áp sát giàn khoan và khoảnh khắc ban mai trong lành ấy, đều líu ríu tiếng chim sáo, gù gù tiếng chim cu lăn tròn trên mặt biển. Chủ nhân của những tiếng chim thanh bình ấy là Hoàng Văn Việt, KN viên tàu KN-769. Việt sinh năm 1979, quê Nghệ An, tự bé đã lăn lóc với hạt lúa củ khoai, hết giờ học là mê mải trèo cây, nhặt chim con mang về nuôi. Hôm nhận lệnh ra gấp Hoàng Sa, tàu KN-769 cũng chỉ làm công tác chuẩn bị trong 2 tiếng đồng hồ. Hoàng Văn Việt phóng xe máy ra Mỹ Ca mua vội rau cỏ, thịt cá, thực phẩm mang đi biển và không quên rẽ qua hàng quen, mua đủ cám trứng cho chim sáo và hạt mè, đậu, lúa cho chú chim cu, cơ số thức ăn cũng đủ 1 tháng như anh em trên tàu. | |
|
Ít ai biết, suốt 74 ngày thực hiện nhiệm vụ thực thi pháp luật trên vùng biển Hoàng Sa, con tàu KN-22 cũ kỹ đã thực hiện 268 lần đẩy đuổi giàn khoan Hải Dương - 981 và nhiều lần bị tàu Trung Quốc phun vòi rồng, đâm va húc ủi, gây hư hại. "Mình là chỉ huy..." Nguyễn Xuân Hưng là thuyền trưởng tàu KN-766, thuộc Chi đội Kiểm ngư 4. Hưng năm nay vừa tròn 30, quê ở Đô Lương, Nghệ An và đứng trong đội ngũ những người canh giữ biển từ tháng 9.2005, khi mới tròn 20 tuổi. Giữa năm 2013, Hưng cưới vợ là Bùi Thị Duyên, sinh năm 1992, quê Quảng Bình, mới tốt nghiệp Trường trung cấp Y Nha Trang và đang là nhân viên y tế hợp đồng của Trường tiểu học Cam Linh (Cam Ranh, Khánh Hòa). Được nhận vào làm hợp đồng ở “thành phố lính” Cam Ranh đã là việc khó. Lại càng khó hơn khi mức lương hợp đồng từng năm, cũng chỉ khoảng 2 triệu đồng/tháng với mỗi ngày đi từ nhà trọ đến trường, hơn 20 km bụi bặm. Vậy mà cô gái Bùi Thị Duyên vẫn cố gắng đến cùng cực để chồng yên tâm đi biển. Ngày 2.5.2014, trước khi nhận lệnh “ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ đặc biệt”, Hưng (khi ấy vẫn là Thuyền phó KN-766) chỉ đảo qua phòng trọ vài chục phút, động viên cô vợ trẻ chỉ 1 tháng nữa sinh con, rồi phóng xe máy hơn 20 km về lại tàu, kịp nhổ neo ra biển đuổi giàn khoan. Ngày 5.5.2014, tàu KN-766 bị tàu hải cảnh, hải giám Trung Quốc tấn công 2 lần liên tục bằng vòi rồng và đâm trực tiếp, làm vỡ 5 kính ở mạn và đài chỉ huy bên trái, làm chập điện hệ thống máy hàng hải. Tiếp đó, tàu Trung Quốc còn tấn công quyết liệt, khiến quạt thông gió khoang máy bị hỏng, đồng thời làm hỏng cả hệ thống hàng hải và ra đa chỉ thị mục tiêu... Ngay sau đó, hình ảnh con tàu biến dạng, móp méo xuất hiện trên chương trình thời sự của VTV, cô gái Bùi Thị Duyên một thân một mình trong căn phòng trọ khóc ngất, khiến hàng xóm phải tìm số điện thoại mẹ Duyên, gọi thông báo tình hình. Thương con, bà Võ Thị Thủy (45 tuổi) bỏ dở mảnh ruộng đang gặt, tất tả bắt xe đò từ Quảng Bình vào Nha Trang, về nhà trọ thu dọn đồ đạc đưa con gái ra Bắc. Ngồi ôm con từ ga Nha Trang, đến ga Đồng Hới bà đành về nhà chăm gia đình, thu hoạch vụ mùa và cô gái Bùi Thị Duyên lại một thân đến ga Vinh, mới òa vào vòng tay bố mẹ chồng, mới từ Đô Lương chạy xuống đón con. 4 tháng kể từ khi hoàn thành nhiệm vụ, về lại bến đậu quen thuộc Cam Ranh, Hưng vẫn mướt mải với chức trách thuyền trưởng mới được giao phó và cuối ngày, khi công việc lắng xuống, Hưng lại thừ người ngắm hình con gái Nguyễn Thị Ngọc Hân (sinh ngày 12.6.2014), do vợ chụp lại bằng điện thoại gửi qua email đều đặn mỗi ngày. Nguyễn Văn Nam, Bí thư Chi bộ tàu KN-766 kể: Bố mẹ Hưng ở Thịnh Sơn (Đô Lương, Nghệ An) đã già yếu, trên dưới 60 tuổi, nhưng vẫn gắng sức lo lắng cho vợ con Hưng và 2 đứa cháu nhỏ là con anh chị Hưng, đang đi làm ăn xa. Ngồi trên cầu cảng Chi đội KN 4, tôi tò mò: “Sao không xin tranh thủ mấy ngày về thăm con?”. Hưng nhè nhẹ lắc đầu: “Mình là chỉ huy, phải để anh em tranh thủ hết đã!” và ngập ngừng: “Chỉ lo sau kỳ sinh, vợ em bị cắt hợp đồng lao động, thì khổ!”. Biển bình yên, khát vọng tròn vẹn lãnh thổ, lãnh hải vẫn là niềm mong mỏi lớn nhất của những chàng trai cảnh sát biển, kiểm ngư. Nhưng hễ biển “động”, chủ quyền dân tộc có sự đe dọa, thì họ lại luôn sẵn sàng, lên đường giữ biển Hoàng Sa... Thuyền trưởng Lê Minh Phúc (đứng giữa) ra ngoài mặt boong tàu KN-22 quan sát mặt biển, ra mệnh lệnh chỉ huy - Ảnh: Độc Lập | Thuyền trưởng Lê Minh Phúc (đầu tiên từ trái qua phải) và kíp điều khiển con tàu làm nhiệm vụ trên vùng biển Hoàng Sa - Ảnh: Độc Lập | Kiểm ngư viên Vũ Hoàng Sơn, tàu KN-951 và chiếc máy ảnh mất nắp - Ảnh: Tùng Sâm | Thuyền trưởng Nguyễn Xuân Hưng, tàu KN-766 tác nghiệp trên bản đồ - Ảnh: Mai Thanh Hải | Kiểm ngư viên Hoàng Văn Việt và 2 chuồng chim huyền thoại - Ảnh: Mai Thanh Hải |
Tối 23.6.2014, hàng triệu người Việt Nam đã sững sờ khi xem đoạn video clip quay cảnh tàu KN-951 nhỏ bé, cũ kỹ của Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chính diện, gần như nát đuôi và mạn phải tàu. Những hình ảnh chân thực không phải do phóng viên VTV thực hiện mà được quay bởi kiểm ngư viên Vũ Hoàng Sơn, quê ở Nghĩa Hưng, Nam Định. Nhớ lại thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc”, Vũ Hoàng Sơn kể: “Tàu Trung Quốc lao đến rất nhanh. Tôi chọn vị trí gần khoang chứa hàng phía sau tàu và 1 tay bám vào cột dựng bạt, 1 tay giơ máy ảnh cá nhân ghi lại hành động hung hãn của tàu Tân Hải 285” - Vũ Hoàng Sơn thuật lại vậy và bức bối: “Sau khi đâm thủng thành tàu, đâm nát buồng y tế của tàu KN 951, chiếc Tân Hải 285 còn đâm thêm lần nữa, nhằm làm chìm tàu tôi”. Cú đâm hiểm độc của tàu Trung Quốc khiến Vũ Hoàng Sơn gục ngã, đầu đập xuống sàn tàu đau điếng. Quên đau, anh vẫn cố giữ thăng bằng, ghi trọn những hình ảnh mũi tàu Tân Hải 285 đâm va sát cạnh mình, rít lên tiếng xé những miếng sắt dày vỏ tàu và xuồng cứu sinh chực rơi xuống đầu. Tùng Sâm |
Mai Thanh Hải - Nguyễn Tú Bàn về hai cách thoát khỏi Công hàm 1958Hà Sĩ Phu Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai đã “đóng đanh” bức Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 bằng những chứng cứ trên giấy trắng mực đen như sau: - Thực chất của công hàm đó là “công khai tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là “rất tai hại, rất phản động”, “là một tai họa cho Việt Nam”, là “có tác hại phản quốc phải hủy bỏ”. - Đó là một CÔNG HÀM cấp nhà nước (hình bên), giữa hai đại diện cao nhất của hai chính phủ, vì thế không thể tùy tiện hạ thấp tầm quan trọng của công hàm này thành một “công thư”, coi văn bản này “không có giá trị, vì anh không thể đem cho cái không phải quyền của anh”. Tác giả cho thấy cách lập luận nhằm hủy bỏ tầm quan trọng của một Công hàm như vậy là “hời hợt”, chỉ là “cãi chày cãi cối”, là “vô trách nhiệm”!
- Vì vậy. để hủy bỏ được công hàm tai hại ấy, tác giả thấy phải đưa ra một giải pháp khác là “Quốc Hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy”. Đấy là những kết luận dứt khoát dựa trên những chứng cứ không thể chối cãi. Nhưng một khi đã công nhận những kết luận ấy không thể không tiếp tục đặt ra những câu hỏi khác và bàn thêm về hai cách giải thoát khỏi Công hàm 1958 ấy cho thật cặn kẽ. 1/ Một Công hàm đã bán chủ quyền, đã “phản động, phản quốc” như vậy thì tác giả của Công hàm ấy, cá nhân cũng như tập thể, cần được phán xét ra sao, chịu trách nhiệm thế nào với hậu thế, với sự tồn vong của đất nước? Bài học rút ra là gì? 2/ Thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách nào? Mọi người đều thấy Công hàm 1958 là sự ràng buộc nguy hiểm nên đều thấy phải tìm cách thoát khỏi Công hàm đó. Nhưng tùy thuộc mục đích ưu tiên bảo vệ đất nước hay ưu tiên bảo vệ chế độ mà phát sinh hai kiểu thoát hiểm. - Muốn bảo vệ cái nền móng, bảo vệ thể chế, sợ dứt dây động rừng thì lái cho thiên hạ quên đi tầm quan trọng của Công hàm đó, hạ thấp tính chính thống và tính pháp lý của Công hàm, coi Công hàm là thứ chẳng đáng quan tâm. Song ngụy biện kiểu này chỉ để tự che mắt mình và che mắt dân, chứ không thể cãi được với kẻ xâm lược tinh quái đã “nắm đằng chuôi”, và cũng không thuyết phục được công lý quốc tế khách quan. Thật vậy, ai có thể tưởng tượng một Thủ tướng lại dễ dãi đến mức quyết định “cho” nước láng giềng một phần lãnh thổ của Tổ quốc chỉ vì nghĩ rằng phần lãnh thổ ấy đang thuộc phần quản lý của đồng bào mình ở miền Nam thì cứ việc “cho” cũng chẳng hại gì? Trong khi vị Thủ tướng này luôn nhắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chịu trách nhiệm cao nhất bấy giờ, rằng “Tổ quốc Việt Nam là một,… chân lý ấy không bao giờ thay đổi” kia mà? Thêm nữa, đã tâm niệm “Tổ quốc Việt Nam là một” thì khi Trung Quốc chiếm mất Hoàng Sa năm 1974 phải hiểu là một phần Tổ quốc của mình bị xâm lược (dù đồng bào nửa nước bên kia đang quản lý), sao không có một lời phản đối bọn xâm lược. lại phấn khởi vui mừng vì một vùng biển đảo của Tổ quốc đã vào tay nước bạn để nước bạn giữ cho? Thật tiếu lâm, khôi hài đến chảy nước mắt. - Tóm lại là cố gắng vô hiệu Công hàm 1958 kiểu này không có giá trị thực tế gì, rất dễ bị đối phương bẻ gãy. Nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc, chỉ một Công hàm Phạm Văn Đồng đủ làm cho Việt Nam đuối lý (chưa cần đến những hiệp ước nhượng bộ, đầu hàng về sau mà Trung Quốc đã thủ sẵn trong tay). Khi Trung Quốc đã chốt được tính pháp lý chính danh của Công hàm 1958 thì mặc nhiên đã vô hiệu được tất cả những chứng cứ lịch sử trước 1958 và cả những tranh cãi sau 1958 đến nay. Chính phủ Việt Nam cũng biết vậy nên cứ trì hoãn không dám kiện Trung Quốc, viện lý do rất “đạo đức” là sợ làm đổ mất “bát nước đầy” (cái bát nước hữu nghị mà phía Trung Quốc đã phóng uế vào!). Kiểu chống đỡ lúng túng này chỉ bởi vì ưu tiên bảo vệ chế độ, bắt Tổ quốc phải hy sinh cho chế độ. - Vậy phải thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách khác, “bằng một tuyên bố công khai có giá trị pháp lý cao hơn” ví dụ “Quốc hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy” như bác Nguyễn Khắc Mai đề xuất. Giải pháp này có hiệu quả đến đâu? Vấn đề là một chính phủ với tư cách hậu duệ kế tục của chính phủ Phạm Văn Đồng - Hồ Chí Minh thì đương nhiên có trách nhiệm thi hành những tuyên bố của chính phủ hợp pháp trước đây đã ký, Trung Quốc có quyền đòi hỏi theo luật như vậy, điều Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có trách nhiệm thực hiện, một khi ông Thủ tướng sau đã nguyện kế tục sự nghiệp của ông Thủ tướng trước. Chỉ còn một cách: Muốn khước từ thi hành Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 buộc Chính quyền Việt Nam hiện nay phải nhân danh nhân dân Việt Nam tuyên bố khước từ và tẩy chay những sai lầm “phản động, phản quốc” của chế độ cũ, lập chế độ mới. Liệu cái Quốc hội Cộng sản hiện nay có dám cắt đứt cái mạch máu huyết thống này để kiến tạo một quyết định thoát Cựu, thoát Trung, ích nước lợi nhà như vậy không? Khó khăn cốt lõi vẫn ở chỗ: Muốn thoát Hán, mà bước một là thoát khỏi Công hàm phản quốc 1958, chỉ có cách phải giải Cộng, thoát Cộng! 3/ Thoát Cộng được lợi những gì? Trong thực tiễn Việt Nam hiện nay nói thoát Cựu, thoát Cộng hay “vượt qua chính mình” thực ra cùng một nghĩa, tuy “vượt qua chính mình” là cách nói dễ nghe hơn, nhưng tôi xin được dùng chữ thoát Cộng vì đúng thực chất nhất. Nếu giữ chủ nghĩa Cộng sản thì phải gánh chịu những tai hại gì? - Toàn bộ kế hoạch “đô hộ Việt Nam kiểu mới” mấy chục năm nay của Trung Cộng được thiết kế trên hai chữ Cộng sản, giữ cái nền Cộng sản là giúp cho mưu đồ Hán hóa có một ưu thế ở tầm chiến lược. - Giữ Cộng sản thì Việt Nam bị ràng buộc bởi quá khứ đầy nợ nần và lầm lỡ, khó thoát ra, chẳng hạn như công hàm 1958, cam kết Thành Đô, các ký kết thời Lê Khả Phiêu, thời Nông Đức Mạnh, thời Nguyễn Phú Trọng… - Còn giữ Cộng sản thì quan hệ ràng buộc Trung-Việt như quan hệ giữa “thú dữ và con mồi” cứ thít chặt lại, trong khi các khối đoàn kết để kháng cự thì bị lỏng ra, ví dụ giới lãnh đạo thì bị chia thành phái thân Tàu và nhóm lợi ích, lãnh đạo thì ngày càng đối lập với dân, quốc nội với hải ngoại vẫn còn cách biệt, các liên kết Việt Mỹ, Việt Âu, Việt ASEAN… đều bị yếu tố Cộng sản hạn chế một phần, không thể thanh thoát… Như thế lấy đâu ra sức mạnh? Trái lại, chỉ cần thoát Cộng thì tất cả những trở ngại trên sẽ được giải tỏa, đặc biệt là toàn bộ dân Việt khắp nơi khắp chốn tự nhiên sẽ ôm lấy nhau mà reo hò, không cần bất cứ một nghị quyết “hòa hợp hòa giải” nào hết, niềm mơ ước một hội nghị Diên Hồng từ đó mới có cơ sở để mở ra, nếu không thì Diên Hồng mãi mãi chỉ là một lời hô hào suông, không có thực chất. 4/ Thoát Cộng dễ hay khó? - Sẽ quá khó, quá gay go, nếu Đảng Cộng sản cứ ôm lấy vinh quang quá khứ và lợi quyền hiện tại khiến cho Đảng ngày càng xa dân, đối lập với dân, mỗi động tác dân chủ hóa, dẫu còn ở mức độ “cải lương” thôi cũng đã là một cuộc cọ xát nảy lửa, đã xảy ra bắt bớ cầm tù, nói gì đến sự đổi mới thể chế, đổi mới hệ thống? - Nhưng không, sẽ vô cùng dễ dàng nếu Đảng biết “tự vượt qua mình”, lấy lợi ích dân tộc trên hết mà vượt trên quá khứ, chuyển sang nền dân chủ đa nguyên như các nước tiên tiến thì Đảng có mất chỉ mất cái danh hão mà được tất cả. Chẳng những không ai chỉ trích quá khứ nữa làm gì, mà các vị cầm quyền còn được nhân dân yêu quý và biết ơn thật sự, không còn tình trạng “thấy mặt là tắt tivi” như bấy lâu nay. Về tinh thần đã thanh thỏa như vậy, về vật chất cũng cơ bản được đảm bảo; có phải nhân dân đã từng bắn tiếng rằng nếu người lãnh đạo biết đổi mới để cứu nước, thoát Hán thì dân sẵn sàng độ lượng cho tận hưởng bổng lộc đấy thôi? Triển vọng xán lạn ấy có thể lắm chứ, sao lại không? Quả bóng cứu dân cứu nước hiện đang trong chân người cầm quyền, dân rất mong mỏi những người cầm quyền biết xử lý thông minh, khôn ngoan, ích nước lợi nhà. Chỉ trừ trường hợp chẳng may, đợi mãi, vô vọng (chẳng hạn như tiền đạo họ Phùng cứ sút mãi bóng vào lưới nhà) thì tất nhiên dân phải đứng dậy giành quả bóng về chân mình mà xử lý theo đúng ý nguyện của dân, để “nâng thuyền hay lật thuyền” như quy luật của muôn đời mà Nguyễn Trãi đã diễn tả bằng một hình ảnh lưu danh bất hủ… H.S.P. (2-6-2014) Tác giả gửi BVN. Lấy lại Hoàng Sa: Những điều bất khả thi Dương Danh Huy, nhà nghiên cứu về Biển Đông 
Chính phủ Việt Nam vẫn dè dặt trong việc kỷ niệm tử sĩ Hoàng Sa Kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa đã nhắc lại vết thương mất lãnh thổ chưa lành của người Việt. Vết thương đó đã đem lại nhiều bức xúc trong 40 năm qua, và đã có một số ý tưởng cho việc giành lại Hoàng Sa hoặc củng cố lập luận pháp lý của Việt Nam. Nhưng trong số đó có một số ý tưởng không khả thi: 1: Kiên trì đàm phán với Trung Quốc. Trung Quốc chủ trương không đàm phán về chủ quyền đối với các đảo Trường Sa. Đối với Hoàng Sa, Trung Quốc còn không công nhận là có tranh chấp. Hiện nay không có việc đàm phán cho vấn đề chủ quyền đối với đảo, do đó ý tưởng kiên trì đàm phán về vấn đề chủ quyền đối với đảo là kiên trì trong một việc không hiện hữu, và sẽ không đi đến đâu. Giả sử các bên trong tranh chấp có đàm phán về chủ quyền đối với đảo đi nữa, cũng khó mà Trung Quốc sẽ trả dù chỉ là một phần các đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Ở Trường Sa, nếu có đàm phán, không nước nào sẽ chấp nhận mình không được đảo nào. Khó có chính phủ Philippines, Trung Quốc hay Việt Nam nào dám đối đầu với dư luận trong nước của họ để chấp nhận không giành được phần lớn các đảo. Vì vậy, dù các bên có kiên trì đàm phán thì cũng khó giải quyết tranh chấp đảo. Việc đưa tranh chấp đảo cho một tòa án quốc tế phân xử sẽ là khách quan nhất. Nó cũng là một lối thoát để cho các chính phủ đi đến một giải pháp trong khi tránh búa rìu dư luận trong trường hợp giải pháp đó không được như yêu sách ban đầu. 2: Đơn phương kiện Trung Quốc như Philippines "Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc." Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc. Việc Philippines có thể đơn phương kiện Trung Quốc là dựa trên việc thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho phép Tòa thụ lý một số vấn đề liên quan đến việc giải thích UNCLOS cho tranh chấp biển và thềm lục địa, mặc dù Trung Quốc đã bảo lưu theo Điều 298 của UNCLOS, và cho dù Trung Quốc có vắng mặt. Nhưng những vấn đề đó không bao gồm phân xử chủ quyền đối với đảo. Vì vậy, không nước nào có thể dùng thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS để đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo. Bên cạnh đó, ngoài thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS hiện nay không có cách nào khác để chúng ta đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo. Đối với vấn đề chủ quyền, Tòa chỉ có thể thụ lý nếu tất cả các bên chấp nhận thẩm quyền của Tòa. Vì vậy, hiện nay chưa có điều kiện để ra tòa về vấn đề chủ quyền đối với đảo. Điều Việt Nam cần làm là công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa. Mặc dù Trung Quốc sẽ không chấp nhận, điều đó sẽ cho thế giới thấy Trung Quốc là bên sợ lẽ phải và cản trở việc giải quyết tranh chấp. 3: Tuyên bố thừa kế di sản VNCH 
Hơn 70 quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã tử trận trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa 40 năm trước Ý tưởng này là quan điểm cho rằng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và bây giờ phải tuyên bố thừa kế “di sản Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)” thì mới thừa kế. Nó còn có thể bao gồm cả CHXHCNVN cần tuyên bố cắt đứt với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) để vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa. Ý tưởng này không có cơ sở trong luật quốc tế. Tòa sẽ đặt vấn đề: sau khi CHXHCNVN được thành lập như một quốc gia vào năm 1976 thì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào? Nếu phía Việt Nam cho rằng vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng đã thừa kế khi tuyên bố thừa kế “di sản VNCH”, thí dụ như vào năm 2014, câu chuyện Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam sẽ bị kết liễu. Lý do là nếu vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và không những thế cho đến năm 2014 vẫn chưa thừa kế, thì chủ quyền đó sẽ rơi vào tay một trong những quốc gia khác đã đòi chủ quyền từ trước 1976. Ý tưởng sai lầm rằng từ năm 1976 đến 2014 CHXHCNVN không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa có nghĩa Tòa sẽ khó tránh kết luận trong thời gian đó chủ quyền đã rơi vào tay Trung Quốc hoặc Philippines. Giả sử như năm 2014 CHXHCNVN có tuyên bố “thừa kế di sản VNCH” đi nữa, Tòa cũng sẽ khó tránh kết luận rằng đến 2014 thì chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về Trung Quốc hoặc Philippines từ trước rồi, không còn để cho CHXHCNVN thừa kế nữa. Ý tưởng sai lầm đó có nghĩa kết liễu chủ quyền Việt Nam vào năm 1976 với hứa hẹn làm cho nó tái sinh sau hơn 35 năm bằng cách tuyên bố “thừa kế di sản VNCH”, một hứa hẹn sẽ không bao giờ hiện thực Ý tưởng đó cũng là ngược với thực tế. Trên thực tế, gần như không nước nào trên thế giới cho rằng CHXHCNVN chưa thừa kế vùng lãnh thổ hay quyền chủ quyền nào đó từ VNCH, gián tiếp qua CHMNVN, kể cả những khu vực có tranh chấp với Lào, CPC, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, thậm chí cả với Trung Quốc. Không có lý do hợp lý để cho người Việt lại cho rằng Việt Nam chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Ý tưởng cần tuyên bố cắt đứt với VNDCCH nhằm vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa cũng không có cơ sở trong luật quốc tế. “Cắt đứt” với VNDCCH, một chính thể vốn không còn tồn tại, hay không là một vấn đề nội bộ của Việt Nam. Việc chủ quyền pháp lý trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào là một vấn đề luật pháp quốc tế. Luật quốc tế không công nhận việc tuyên bố cắt đứt trong nội bộ hay với quá khứ để đơn phương hủy bỏ nghĩa vụ pháp lý (nếu có) giữa các quốc gia. Để Việt Nam ngày nay hay trong tương lai có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, chỉ có hai trường hợp: CHXHCNVN phải có chủ quyền đó ngay từ 1976, nếu không thì Trung Quốc và Philippines phải có hành vi bị cho là từ bỏ danh nghĩa hay yêu sách chủ quyền của họ. Sẽ khó có trường hợp thứ nhì, do đó chúng ta phải chứng minh được trường hợp thứ nhất. Ý tưởng 4: Tuyên bố hủy công hàm Phạm Văn Đồng 
Công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng vẫn còn là điều gây tranh cãi Đây là một biện pháp bất lợi cho Việt Nam. Hiện nay câu hỏi “CHPVĐ có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho CHXHCNVN liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không?” là một vấn đề còn tranh cãi. Nếu Quốc hội Việt Nam chính thức tuyên bố hủy CH đó, thì tuyên bố đó có thể bị cho là gián tiếp công nhận rằng nó có gây ra nghĩa vụ pháp lý cho CHXHCNVN có cho tới ngày nó bị hủy - vì nếu nó không gây ra nghĩa vụ pháp lý nào cho CHXHCNVN thì tại sao cần hủy? Sự công nhận gián tiếp đó là bất lợi cho Việt Nam. Hơn nữa, nếu Việt Nam gián tiếp công nhận rằng CHPVĐ đã gây ra một nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam đối với Trung Quốc, thí dụ như cho đến 2014, thì luật quốc tế cũng không công nhận việc Việt Nam đơn phương hủy nghĩa vụ đó. Như vậy Việt Nam sẽ tự bước vào một cái bẫy và sẽ không thoát ra được. *** Tóm lại, Việt Nam cần công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa,cũng như cần lập luận rằng CHXHCNVN đã có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa ngay từ 1976 và CHPVĐ đã không làm cho mất chủ quyền đó vào tay Trung Quốc. Nếu không bảo vệ thành công quan điểm đó thì bây giờ có tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, cũng sẽ vô tác dụng. Nếu bây giờ tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, thì chỉ có thể phản tác dụng. Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, thành viên nhóm Nghiên cứu Biển Đông và có sự góp ý của Phạm Thanh Vân. D. D. H. Nguồn: bbc.co.uk ĐÁNH MẤT HOÀNG SA ------------------------------ Ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên là chuẩn tướng, phụ tá Tổng Tham trưởng mưu quân đội Sài Gòn năm 1975, hiện nay là uỷ viên UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ông là một nhân chứng lịch sử trong thời điểm xảy ra những xung đột giữa chính quyền Sài Gòn và Trung Quốc năm 1974, dẫn đến sự chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ông tâm sự: Cuối năm 1973, tôi nhận lệnh ra Đà Nẵng với chức danh là Chuẩn tướng, Tổng Thanh tra Quân đoàn I và Quân khu I.
Quần đảo Hoàng Sa lúc ấy thuộc nhóm đảo Nguyệt Thềm trực thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm ngoài khơi phía Đà Nẵng. Nhóm này gồm có đảo lớn nhất là Hoàng Sa, phía đông Hoàng Sa có 4 đảo, phía nam có 1 đảo. Các đảo nhỏ chung quanh Hoàng Sa đều không có người ở. Dưới thời Ngô Đình Diệm, có một tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến đóng tại đây. Thuỷ quân lục chiến ngày đó đặt dưới quyền của Hải quân nên có đầy đủ phương tiện đi kiểm soát các đảo nhỏ không người ở. Trên đảo Hoàng Sa lúc ấy có đài khí tượng Thuỷ văn, có mấy mã lính từ thời Gia Long, có một ngôi Miễu Bà… Nghĩa là nó mặc nhiên thuộc về chủ quyền người Việt. Đến thời Nguyễn Văn Thiệu thì nơi này được giao cho một trung đội địa phương quân của Tiểu khu Quảng Nam (Thuỷ quân lục chiến đã trở thành sư đoàn Tổng trù bị của quân đội Sài Gòn) nên điều kiện để bảo vệ và chống trả lực lượng Hải quân Trung Quốc lúc đó là không có. Đầu năm 1974, Tổng thống Thiệu ra Đà Nẵng. Tại buổi tiệc chiêu đãi Tổng thống, một đại tá tư lệnh Hải quân Quân khu I (Quân đội Sài Gòn) cho biết người của Trung Quốc đã chiếm 3 hòn đảo nhỏ ở phía đông Hoàng Sa. Tổng thống Thiệu bảo ngay ngày mai ông ta sẽ tới Bộ Tư lệnh Hải quân để nghe trình bày rõ hơn. Hôm sau nữa, văn phòng quân khu có cho tôi đọc một bản viết tay của ông Thiệu ra lệnh cho Đề đốc Chơn, Tư lệnh Hải quân của quân đội Sài Gòn, tổ chức hành quân đuổi người Trung Quốc ra khỏi ba đảo đã bị chiếm. Và có lẽ, đó là một sai lầm quan trọng của ông Thiệu: phát động chiến tranh với nước ngoài mà không hề thông qua Quốc hội.Những gì diễn ra trong chiến dịch này thật là thê thảm: Bên Hải quân quân đội Sài Gòn có 4 tàu chiến đi thành hai cặp: gồm các chiếc HQ4 và HQ5, HQ10 và HQ16. Trong phút chốc 4 chiếc tàu này đã dễ dàng đuổi hết những cư dân Trung Quốc trên 3 hòn đảo Quang Ảnh, Quang Hoà và Duy Mộng. Nhưng giống như có chuẩn bị sẵn, ngay lập tức, 11 tàu chiến Trung Quốc xuất hiện, trong đó có chiếc tàu Koma trang bị vũ khí điện tử. Đó là những chiếc tàu nhỏ, vũ khí mạnh hơn, di chuyển nhẹ nhàng và linh động hơn tàu chiến của quân đội Sài Gòn. Tàu Trung Quốc khiêu khích gây sự rồi cuộc chiến đã xảy ra. Hai chiếc HQ10 và HQ16 từ phía bắc bọc phía tây đảo Hoàng Sa và khi đến phía nam thì đụng độ dữ dội. Phía Trung Quốc bị chìm một tàu, phía Sài Gòn chìm chiếc HQ10 còn chiếc HQ16 bị thương nặng, nghiêng một bên không chạy được. Hai chiếc HQ4 và HQ5 cũng bị thương nhưng còn kịp kè được chiếc HQ16 thoát chạy về phía Đà Nẵng, bỏ lại toàn bộ người trên đảo Hoàng Sa. Lúc đó, trên đảo còn lại tổng cộng 41 người, có cả cố vấn Mỹ Gerald Kosh và một thiếu tá tên Hồng, trưởng phòng 2 (tình báo) của Quân khu I. Điều ngạc nhiên nhất là tàu Trung Quốc lại không hề đuổi theo tấn công hoặc chiếm tàu của phía Sài Gòn, họ chỉ đổ bộ lên đảo, bắt toàn bộ tù binh đem về. Quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Số phận 41 tù binh được giải quyết đơn giản sau hai tuần giam giữ (từ 18-1 đến 31-1-1974), họ được Mỹ đưa máy bay rước về từ… Hồng Kông. 
Phía Sài Gòn, Tổng thống Thiệu rình rang tổ chức “mừng chiến thắng” ở Hoàng Sa. Phía Sài Gòn, Tổng thống Thiệu rình rang tổ chức “mừng chiến thắng” ở Hoàng Sa. Tôi lúc đó cảm thấy tức giận vô cùng, không hiểu được người ta ăn mừng cái gì: Tàu ta chìm, lính ta bị bắt, đất ta mất.. mà hô hào chiến thắng? Tôi cất công đến thăm người bạn là phó Đề đốc Tánh (Tư lệnh phó Hải quân) để nắm tình hình. Ông Tánh cho vị đại tá trực tiếp chỉ huy chiến dịch này kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện, thậm chí, cho xem cả những tấm hình tàu Trung Quốc khiêu chiến trước mũi tàu của quân đội Sài Gòn. Tôi cũng không hiểu được vì sao hai nước giao tranh, người ta lại có thể thả tù binh một cách êm thấm như vậy? Không hiểu sao người ta lại tổ chức ăn mừng và Tổng thống Thiệu thì lên đài tuyên bố vài câu huyênh hoang nào đó. Cuối cùng, những thông tin tình báo và tâm lý chiến cho tôi hay: Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi đã rút khỏi miền Nam, tình hình chính trị của Liên Xô và Trung Quốc có cảnh không êm thấm và Mỹ muốn giao Hoàng Sa lại cho Trung Quốc để chặn đường vào Bắc Việt của hạm đội Liên Xô… Mất Hoàng Sa, tại Sài Gòn, Bộ Ngoại giao và nhiều tổ chức báo chí bắt đầu lên tiếng, tuy nhiên trách nhiệm lớn nhất, tôi nghĩ, thuộc về ông Thiệu. Lẽ ra, nếu khéo một tí, tổ chức phòng thủ trên đảo Hoàng Sa, còn 3 đảo bị chiếm đóng thì dùng nhiều giải pháp khác, ít nhất, cũng không bị rơi vào tình trạng bị khiêu khích khi lực lượng Hải quân không đủ mạnh…
Đó là câu chuyện 33 năm trước mà tôi chứng kiến, như một người trong cuộc, về sự kiện Hoàng Sa bị mất!
33 năm qua, lòng tôi đau đớn về sự kiện này. Ngày ấy, Việt Nam chỉ là một con cờ trong tay nước lớn. Vị Tổng thống có thể bình yên mà huênh hoang chút ngẫu hứng anh hùng cá nhân trong khi nước mất nhà tan… Còn giờ đây, sau 33 năm, một nước Việt Nam thống nhất, một nhà nước Việt Nam đủ mạnh và là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, tôi nghĩ nên khéo léo và cương quyết giải quyết chuyện này bằng con đường ngoại giao, nếu không hiệu quả, chúng ta nên đưa việc này ra Liên Hiệp Quốc. Dẫu biết là không dễ dàng gì, có thể kéo dài 50 năm thậm chí 100 năm đi nữa thì chúng ta cũng phải làm. Thế hệ chúng tôi là người chứng kiến sự kiện chúng ta mất Hoàng Sa mà không làm được điều gì. Còn ngày nay, nếu chúng ta cứ tiếp tục để như 33 năm về trước, thì thế hệ con cháu sau này sẽ nói sao với chúng ta đây?
Có thể, con đường để giành lại Hoàng Sa, Trường Sa là tính bằng hàng thập kỷ hay hơn nữa, thậm chí, thế hệ chúng ta nhiều khi chỉ làm nên một tiền đề để con cháu còn có cơ sở mà tiếp tục cuộc hành trình giành lấy công bằng cho quyền lợi của Tổ quốc mình… Có khó khăn bao nhiêu đi nữa, chúng ta cũng phải làm!
Vọng tên nghĩa sĩ Hoàng SaTP - Tròn 42 năm Hoàng Sa đau thương và mất mát, khi ngày 19/1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm phi pháp toàn bộ đảo Hoàng Sa của Việt Nam, 74 người con đất Việt đã ngã xuống vì chủ quyền Tổ quốc. Tượng đài Nghĩa sĩ Hoàng Sa sẽ nhắc nhở cho muôn đời con cháu phải làm điều cần làm để non sông, chủ quyền sớm thu về một mối. Nghi thức đặt viên đá đầu tiên xây dựng khu tưởng niệm. Ảnh: Nguyễn ThànhRưng rưng hai tiếng Hoàng Sa Sáng 17/1, người dân Lý Sơn và thân nhân 74 binh sĩ đã tựu về đỉnh núi Thới Lới để dự lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa trong cảm xúc dâng trào. Khu tưởng niệm sau khi hoàn thành sẽ là nơi để đồng bào cả nước đến thăm viếng, ngưỡng vọng, tưởng nhớ những người con đất Việt trong đội hùng binh năm xưa, tưởng nhớ những ngư dân, những viên chức làm công tác khí tượng thủy văn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nằm lại với Hoàng Sa và tưởng nhớ 74 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã chiến đấu bảo vệ chủ quyền trong cuộc hải chiến 42 năm về trước. Tiếng chuông vọng vang, giữa tiếng sóng vỗ, gió reo của biển đảo Lý Sơn, phút giây tưởng nhớ những người đã bỏ mình vì đất mẹ lắng đọng, nghẹn ngào. Bà Nguyễn Bội Liên đến từ Đà Nẵng là một trong 3 thân nhân tham gia chương trình giao lưu. Bà Liên là cháu ruột của nguyên sỹ quan phụ trách điện tử trên tuần dương hạm HQ5-Trần Bình Trọng, chuẩn úy Nguyễn Phú Hảo đã hy sinh trong trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa 19/1/1974. Bà Liên kể rằng: chuẩn úy Nguyễn Phú Hảo khi chết còn trẻ, chưa kịp có vợ con. Thời đó thông tin liên lạc hạn chế. “Cho đến khi nhận được xác của chú ấy, mới biết rằng cuộc chiến giữ đảo rất ác liệt. Nhiều tàu của ta bị bắn chìm, trọng thương, gần cả trăm binh sỹ hy sinh. Từ đó, Hoàng Sa càng vô cùng có ý nghĩa đối với chúng tôi”, bà Liên nghẹn ngào. Ông Trần Hòa (Duy Xuyên, Quảng Nam) là binh sỹ quân y, từng đồn trú ở Hoàng Sa trước năm 1974. Ông Hòa kể, quãng thời gian 3 tháng làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa với ông là kỷ niệm đáng nhớ nhất trong đời. “Nhớ nhất vẫn là tiếng chim cuốc trên đảo Hoàng Sa, nó da diết hơn trong tiếng sóng chiều vỗ vào gành đá”, ông kể. Ông Võ Văn Út, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, là hậu duệ cai đội hùng binh Hoàng Sa-Võ Văn Khiết. Từ nhỏ, ông Út đã nghe cha ông kể bao câu chuyện lý thú về việc chinh phục biển Đông, ra cắm mốc ở Hoàng Sa, Trường Sa. Dòng họ Võ Văn đang lưu giữ những tài liệu cho thấy tổ tiên họ từng gia nhập đội hùng binh ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ từ năm 1786. Căn cứ vào tài liệu Hán Nôm tìm thấy trong dòng họ, Cai đội Võ Văn Khiết là người Lý Sơn chỉ huy đội Hoàng Sa sớm nhất. Nối tiếp ông Khiết là Cai đội Võ Văn Phú ra Hoàng Sa vào năm 1803. Ngoài ra, dòng họ Võ Văn còn có nhiều người đi Hoàng Sa nữa, tiêu biểu là Võ Văn Hùng - người mà trong các bộ chính sử triều Nguyễn có nhắc đến nhiều lần với vai trò người dẫn đường cho thủy quân và tuyển chọn đà công, thủy thủ... “Vị mặn của nước biển Đông hơn 40 năm nay mặn đắng hơn vì có máu và nước mắt. Sự hy sinh vì Hoàng Sa - Trường Sa đã chạm vào tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi ngươi dân nước Việt Nam… Chừng nào Hoàng Sa chưa trở về với Tổ quốc thì Khu tưởng niệm sẽ nhắc nhở cho muôn đời con cháu phải làm điều cần làm để non sông của cha ông thu về một mối”, ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, xúc động. Ngày lịch sử của 42 năm mong chờ Bà Nguyễn Thị Kim Thanh (73 tuổi) cùng con gái Nguyễn Thị Thanh Thảo từ TPHCM ra Lý Sơn trong tâm trạng bùi ngùi. 42 năm trước, Thiếu tá, hạm phó tàu HQ 10 Nguyễn Thành Trí đã nằm lại với Hoàng Sa. Bà Thanh tuy đã yếu nhưng khi hay tin khu tượng đài được xây dựng vẫn nhất quyết cùng con có mặt để thỏa nỗi lòng. Lần đầu tiên, sau ngần ấy năm, tên chồng, tên cha được xướng lên khiến hai mẹ con nghẹn ngào. Ôm bình pha lê, hình cột mốc chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa, bà Thanh hai dòng lệ đẫm, mắt hướng về phía biển khơi. Bà như hình bức tượng đài người mẹ ôm đèn kia, chờ chồng chờ con đi biển về nay mai sẽ được dựng lên.  Sau 42 năm, bà Thanh mãn nguyện nỗi lòng khi khu tưởng niệm Nghĩa sĩ Hoàng Sa được xây dựng. Ngày chồng ngã xuống ở Hoàng Sa bà đang mang bầu đứa thứ 2. Trước khi đi làm nhiệm vụ, Thiếu tá Trí đã đặt tên con là Nguyễn Thành Triết. Hơn 6 tháng sau, con trai chào đời, bà ghi trong giấy khai sinh con trai là: Nguyễn Thành Triết, tự Hoàng Sa để nhắc nhớ về sự hy sinh của chồng mình. Chị Thảo kể: Ngày cha mình ngã xuống, chị Thảo còn nhỏ, mẹ đang mang bầu em trai nhưng ký ức về người cha vẫn còn nguyên. Từ tư liệu gia đình có được, chị và người nhà biết được rằng, cha mình Thiếu tá Nguyễn Thành Trí đã chiến đấu và hy sinh rất dũng cảm. Sau sự kiện đó, mới chỉ duy nhất 1 lần người dân miền Nam Việt Nam tưởng nhớ 74 binh sĩ. Sau ngày đất nước thống nhất, vì lý do khách quan của lịch sử nước nhà, trận chiến và sự hy sinh của 74 người lính đã bị rơi vào quên lãng. Mãi đến năm 2014, sau 40 năm cuộc chiến đó mới được nhắc lại, lúc đó, cuộc chiến và tên tuổi của 74 chiến sĩ mới được biết đến nhiều hơn.  Phối cảnh khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa. “Ba tôi ngã xuống Hoàng Sa năm tôi tròn 5 năm tuổi, bản thân tôi rất tự hào về điều đó nhưng chỉ biết để trong lòng. Phải khi tôi 45 tuổi tôi mới tự hào khoe với bạn bè rằng: tôi là con gái của Thiếu tá hải quân Nguyễn Thành Trí đã hy sinh ở Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền. Tất cả do yếu tố khách quan của lịch sử nước nhà. Hôm nay, tên của ba tôi và đồng đội được xướng lên là sự tri ân của những người dân nước Việt với những người đã ngã xuống vì chủ quyền. Đây là niềm hạnh phúc không chỉ của riêng gia đình tôi, mà là hạnh phúc của tất cả các gia đình có người hy sinh ở Hoàng Sa”, chị Thảo xúc động. Những bình cát lấy từ Hoàng Sa được chuyền qua tay bà Thanh và thân nhân của các gia đình khác trước khi về đổ xuống nơi đặt viên đá đầu tiên của khu tưởng niệm. Hôn lên bình cát, bà Thanh khẽ cười, chậm rãi: “Nếu trời còn cho sức khỏe, ngày khu tưởng niệm khánh thành tôi nhất quyết sẽ cùng con trai ra Lý Sơn lần nữa”. Chị Thảo bảo, sau hơn 40 năm lần đầu tiên chị thấy mẹ mình cười mãn nguyện như vậy.  | | Cát từ Hoàng Sa do ngư dân đưa về được đổ vào nơi đặt viên đá đầu tiên xây khu tưởng niệm Hoàng Sa - Ảnh: T.Vũ |
“Chừng nào Hoàng Sa chưa trở về với Tổ quốc thì khu tưởng niệm sẽ nhắc nhở cho muôn đời con cháu phải làm điều cần làm để non sông của cha ông thu về một mối | | Ông Đặng Ngọc Tùng (chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam) |
Sáng sớm 17-1, hàng ngàn người dân trên đảo tiền tiêu Lý Sơn (Quảng Ngãi) cùng nhiều người dân cả nước đã có mặt tại đỉnh núi Thới Lới để tham dự buổi lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng công trình khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa. Nhiều người không kìm được giọt nước mắt xúc động khi mở đầu buổi lễ, tiếng chuông ngân dài vọng tưởng các anh linh, những lớp người đã ngã xuống vì một Hoàng Sa thân yêu. Nhiều đôi mắt đỏ hoe khi nghe bà Đỗ Thị Hảo (70 tuổi, thôn Tây, An Vĩnh) ngân lên khúc hát truyền đời hàng trăm năm nay ở Lý Sơn: “Chiều chiều ra ngóng biển xa/ Ngóng người đi lính Hoàng Sa chưa về/ Hoàng Sa trời nước mênh mông/ Người đi thì có mà không thấy về...”. Nắm cát từ Hoàng Sa Ông Nguyễn Quốc Chinh - chủ tịch Nghiệp đoàn nghề cá Lý Sơn - chỉ chúng tôi xem từng ngụm cát trắng để trong bình thủy tinh chuẩn bị đổ xuống nơi viên đá đầu tiên xây tượng đài: “Cát này được ngư dân Lý Sơn mang về từ Hoàng Sa!”. Ông Chinh cho biết trước đó ông đã dặn dò các chủ tàu cá đi ra Hoàng Sa đánh bắt cá bằng mọi giá cũng phải lấy cho được một ít cát mang về vì nơi đó có một phần xương máu của cha ông! Ngay sau khi cát được lấy từ Hoàng Sa trở về, Nghiệp đoàn nghề cá Lý Sơn đã gửi tặng Liên đoàn Lao động Việt Nam, một phần đổ xuống nơi viên đá đầu tiên xây tượng đài, phần còn lại được đổ vào trong những trụ pha lê mang dáng hình cột mốc chủ quyền làm quà tặng tại buổi lễ cho các gia đình có thân nhân hi sinh ở Hoàng Sa. Đêm trước ngày đặt viên đá, ông Chinh cùng những người tổ chức đã lặng lẽ làm một mâm cúng khấn nguyện anh linh những người nằm lại biển khơi. Bà Ngô Thị Kim Thanh (70 tuổi, vợ của thiếu tá hải quân Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Thành Trí, hạm phó hộ tống hạm Nhựt Tảo, tử trận tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974) tay run run, không kìm được xúc động khi mang bình cát trắng đổ vào nơi đặt viên đá xây tượng đài. Bà Thanh tâm sự: “Từ TP.HCM ra đây, leo lên con dốc Thới Lới này tôi mệt lắm, nhưng trong lòng thấy được an ủi nhiều. Chồng tôi và 74 đồng đội chắc sẽ ấm lòng nơi đây. Tôi mong khỏe để ngày khánh thành tượng đài lại được đến nơi đây thắp nén nhang”. Chị Nguyễn Thị Thanh Thảo - con gái đầu của cố sĩ quan Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Thành Trí - chia sẻ: “Buổi lễ này không chỉ riêng gia đình tôi hạnh phúc mà 74 gia đình của tử sĩ Hoàng Sa hi sinh năm đó đều hạnh phúc”.  | | Bà Ngô Thị Kim Thanh mang bình cát trắng đổ vào nơi đặt viên đá xây tượng đài. |
Chạm đến tình cảm thiêng liêng Phát biểu tại buổi lễ, ông Đặng Ngọc Tùng - chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam - chia sẻ rằng lịch sử đất nước sẽ tạc mãi trong tâm khảm những người dân Việt đã ngã xuống vì chủ quyền biển đảo, khi ngày 19-1-1974 Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm phi pháp toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. 14 năm sau, lịch sử lặp lại trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Trường Sa, năm 1988. Ba tàu vận tải HQ-604, HQ-605, HQ-505 và 64 người lính đã ngã xuống trong trận chiến này. “Dù khác nhau chiến tuyến, ý thức hệ, nhưng cuộc chiến đẫm máu không cân sức ở Hoàng Sa - Trường Sa là minh chứng thiêng liêng của lòng yêu nước Việt của con dân Việt. Vị mặn của Biển Đông hơn 40 năm nay là vị mặn của muối, máu và nước mắt. Hoàng Sa - Trường Sa đã chạm đến tình cảm thiêng liêng nhất của người Việt Nam” - ông Tùng nói. Dù đã hơn 40 năm nhưng ký ức về Hoàng Sa trong tâm tưởng những người ở lại vẫn in hằng bao kỷ niệm đẹp. Ông Trần Hòa (Quảng Nam) - nguyên là binh sĩ quân y Việt Nam Cộng hòa từng công tác tại Hoàng Sa - nhớ lại: “Tôi đến Hoàng Sa lúc trời đã chiều. Tiếng chim quốc kêu nhớ quê nhà đến cháy bỏng. Có những lúc anh em tôi bắt cả tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải nhưng cũng có lúc cứu họ khi bão tố. Ngày tôi mang balô trở về, tiếng chim quốc trong rừng bàng ở Hoàng Sa lại lanh lảnh kêu lên. Đó là điều rất lạ lùng với đời tôi ở Hoàng Sa”. GS.TS Nguyễn Đăng Hưng, Việt kiều Bỉ, cho biết ông đã chờ đợi ngày được tham dự buổi lễ đầy ý nghĩa này.
“Chứng kiến buổi lễ, nghe tiếng chuông, nước mắt tôi không cầm được. Tất cả những người đã nằm xuống vì Tổ quốc đều là người Việt Nam. Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” - GS Hưng tâm sự.
Mẹ thắp lửa Hoàng Sa Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa, được Tổng LĐLĐ Việt Nam phát động quyên góp xây dựng. Tổng kinh phí thực hiện khoảng 70 tỷ đồng từ nguồn đóng góp của doanh nghiệp, người dân cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Tác phẩm “Người mẹ thắp lửa” của kiến trúc sư Trần Văn Dũng (TPHCM) được chọn mẫu để làm công trình ý nghĩa này. Ông Dũng chia sẻ: Hình ảnh người phụ nữ chờ chồng trong truyền thuyết Việt không hiếm, nhưng hình ảnh những người phụ nữ duyên hải miền Trung khóc thắp đèn cúng vọng chồng con, đứng ngóng đợi trên bờ biển là những hình ảnh đầy cảm xúc, họ như những chứng nhân phản ánh sự thiếu vắng những người nghĩa sỹ đã, đang và sẽ hy sinh vì Hoàng Sa. “Mẹ Tổ quốc - Đất Mẹ vẫn chờ vẫn đợi quần đảo Hoàng Sa máu thịt như những đứa con lưu lạc sẽ trở về với Mẹ. Ngọn đèn trước ngực như lửa từ trong trái tim yêu thương của Mẹ - lửa vĩnh cửu tưởng nhớ đến những người con của mình đã hy sinh ngoài Hoàng Sa, và ngọn lửa thắp sáng niềm hy vọng đòi lại chủ quyền cho Hoàng Sa”, ông Dũng cho biết.
Người ở lại Hoàng Sa
Đặng Chí Hùng
Kẻ tiểu nhân gọi anh là “ngụy” Nhưng sự thật có phải thế không ? Đúng là lời của kẻ bất công Đem vu vạ cho người quân tử Ngụy thì phải bán nước hành dân
Ấy vậy mà anh nào làm thế ? Có những kẻ giả vờ tử tế Đem tấc biển dâng cả ngoại xâm … Có những kẻ luôn sẵn dã tâm
Mồm hòa giải mà tay làm bạc đãi Đừng có tin Cộng nô hối cải Chỉ còn đường quét sạch mà thôi ! Trên đời này nhiều kẻ khoe mẽ
Ta anh tài nón cối rép râu Ấy vậy mà chạy dài Trung cộng Lấy nghĩa hèn tô đậm hư danh, Sao không nhướng đôi mày mở rộng
Xem Văn Thà vị quốc vong thân Có như thế mới hay chân giả Mới biết đời gian trá làm sao Xin ông trời mãi tận trên cao
Chứng cho lòng những người làm lính Chứng cho những vong linh uất hận Trả cho người tên gọi mến yêu … Hãy trả lại tên cho anh –
Những người lính Quốc gia anh dũng !
(Vô đề Buồn 5 – Sài Gòn 16/09/2011) Từ nhỏ, khi còn học trong ngôi trường chủ nghĩa xã hội, tôi cũng giống như bao đứa trẻ khác đã phải học thuộc lòng những từ ngữ mà chúng tôi chẳng hiểu mô tê gì cả. Nào là “ngụy quân, ngụy quyền”, nào là “Mỹ, Diệm, Thiệu kìm kẹp người dân” vv và vv…Lớn lên, tôi đã có thời gian và tri thức cho một cuộc tìm hiểu thật sự. Từ chỗ yêu thích một nền âm nhạc đầy nhân văn và cảm xúc với những bản nhạc mà người ta quen gọi là “nhạc vàng”, tôi đã cất công đi tìm hiểu về cái gọi là “ngụy” mà cộng sản đã gọi. Kết quả đã cho thấy, tôi đã không phải tiếc công tìm hiểu để thấy rằng đảng cộng sản Việt Nam đã vu cáo hoàn toàn cho chế độ dân chủ tại Miền Nam. Chính vì vậy tôi đã viết bài viết “Những sự thật cần phải biết “ – phần 2 – Việt Nam Cộng Hòa , nạn nhân của chính sách ngậm máu phun người. Và bài thơ Vô đề Buồn 5 ở trên cũng là những tâm sự chân tình của tôi, một người sinh ra trong chế độ cộng sản, sống từ nhỏ với cộng sản tri ân tới những người lính Việt Nam Cộng Hòa(VNCH) đã hi sinh cả cuộc đời mình cho tự do dân chủ, cho chính nghĩa Dân tộc và cho Quốc gia Việt Nam. Vì vậy tôi đã gọi những người lính VNCH là những anh Hùng. Họ đã vị quốc và vong thân trong oanh liệt. Cuộc chiến năm 1975 không phải là cuộc chiến mà họ đã thua mà là họ đã thắng trong lòng người dân Việt dù cho một trận chiến cuối cùng họ đã không thể chiến thắng vì không còn súng đạn để chiến đấu. Trong vô vàn những trận đánh để lại những vết son của những người lính VNCH thì trận Hải Chiến Hoàng Sa đã để lại những dấu ấn chẳng thể nào phai trong lòng người dân Miền Nam nói riêng và cả Dân Tộc Việt Nam nói chung. Và cho đến ngày hôm nay, những người dân đang sống trong chế độ cộng sản độc tài cũng đã nhớ tới những người lính đã anh dũng hi sinh vì biển đảo quê hương bất chấp sự cấm đoán của bè lũ độc tài bán nước. Những người dân Việt Nam nhớ tới những Ngụy Văn Thà và đồng đội, đơn giản bởi vì họ là những Người ở lại Hoàng Sa ! 

Người Việt Nam không bao giờ quên những Người ở lại Hoàng Sa. Nhạc sỹ Trần Thiện Thanh đã từng viết về Trung Tá Nguyễn Đình Bảo với tác phẩm nổi tiếng “Người ở lại Charlie”. Nhưng có một Charlie khác, không phải là Cao Nguyên nắng gió mà là Charlie tại Hoàng Sa. Và những người lính VNCH đã hi sinh trong ngày đầu năm 1974 để cố gắng gìn giữ biển đảo quê hương đó cũng xứng đáng được ca ngợi. được tri ân và được ghi ơn vì họ đã nằm lại muôn đời với biển khơi. Nơi đó, họ đã trở thành những anh hùng bất tử. Họ đã ở lại Hoàng Sa ! 1.Tóm lược Hải chiến Hoàng Sa, 19/01/1974. Có lẽ chúng ta không ai không biết đến diễn tiến của cuộc hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Đã có nhiều tài liệu và sách vở nói về sự kiện này. Nhưng trong bài viết này, tác giả vẫn phải tóm lược lại những điều mà mình được nghe, được đọc để người đọc có thể thấy được những điều quan trọng của trận đánh. Đồng thời thấy được sự anh hùng của những người lính hải quân VNCH đã “vị quốc, vong thân” và không bao giờ quên “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm”. Từ cuối năm 1973, lợi dụng việc VNCH đang phải đối đầu với cộng sản Việt Nam trên bộ thì Trung Cộng đã có nhiều động thái muốn xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mặc cho VNCH đã nhiều năm xác lập chủ quyền chính đáng trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. 
Hải Quân Đại Tá Hồ Văn Ngạc đang viết trên Bia Chủ Quyền Việt Nam tại đảo Trường Sa năm 1973 Trước thái độ Hải quân Trung cộng hung hăng lấn sát biển Hoàng Sa khiêu khích Hải Quân VNCH, Chính phủ VNCH đã đánh ngay giặc Tàu trên biển Hoàng Sa theo tinh thần của tiền nhân Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo vv… 
Sơ đồ trận hải chiến theo Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa. Dựa trên Hồi ký của các cựu Hạm trưởng Vũ Hữu San và Lê Văn Thự đều cho biết tàu Việt Nam Cộng Hòa khai hoả bắn vào tàu Trung cộng xâm lược. Ông Lê Văn Thự, cựu Hạm trưởng HQ16, nhớ lại: “ Chiều ngày 18/1/1974, khoảng 6 giờ, đại tá Ngạc gọi máy cho tôi và ra lệnh cho tôi chỉ huy HQ10, bằng mọi giá phải đổ bộ cho được toán người nhái lên đảo Quang Hòa… Đến tối ngày 18/1/1974, máy truyền tin bị Trung Cộng phá rối tần số, không liên lạc được. Tôi không thể gọi đại tá Ngạc, HQ 4 hay Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải. Tôi chỉ liên lạc được với HQ 10 bằng máy PRC 45 là loại máy truyền tin mang sau lưng, chỉ liên lạc được trong vòng 10 hải lý. Sau khi nhận lệnh, tôi nghĩ chỉ còn cách đổ bộ toán người nhái vào ban đêm may ra mới lên được đảo; nhưng chưa chắc toán người nhái đã vào trót lọt được vì có thể tàu Trung Cộng theo dõi và liên lạc chỉ điểm cho người của họ chốt trên đảo canh chừng để bắn khi người nhái của ta vào bờ… Vì thế, muốn thi hành lệnh của đại tá Ngạc, tôi nghĩ chỉ còn cách là phải tiêu diệt tàu Trung Cộng trước rồi mới tính chuyện đổ bộ người nhái lên đảo sau”. Ông Thự kể rằng lúc này phía Trung cộng điều thêm hai tàu nữa. Ông liền gọi cho thiếu tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng HQ10, để bàn kế hoạch. Theo đó, HQ10 và HQ16 sẽ rời xa các đảo trong đêm, tắt hết đèn thắp sáng trên tàu để địch không nhìn thấy mục tiêu; vào sáng sớm sẽ tiến vào vùng lòng chảo bên trong cụm đảo Lưỡi Liềm để tấn công chiến hạm Trung cộng. Sáng sớm 19/1/1974, các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa tiến vào vùng lòng chảo giữa cụm đảo. Theo hồi ức của Hạm trưởng San, lúc bấy giờ bốn tàu chiến của Trung cộng mang các số hiệu 389, 396, 271 và 274 xông ra nghênh chiến. Lúc 6 giờ 48 phút, lực lượng đổ bộ bắt đầu được khai triển: toán Biệt hải trên HQ 4 đổ bộ mặt nam đảo Quang Hòa, toán Hải kích trên HQ 5 đổ bộ mặt tây nam đảo. Khi tiến vào đảo, họ đã bị quân Tàu núp trong công sự bắn ra. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đáp trả bằng súng phóng lựu M.79 và tiểu liên M.16. Cuộc cận chiến trên đảo khiến trung úy Lê Văn Đơn và một thành viên tên là Long của toán Hải kích tử trận, 2 thành viên khác bị thương. Toán Biệt hải cũng bị lực lượng Trung cộng khá đông uy hiếp. Đến khoảng 9 giờ 30, trước tình hình bất lợi, các lực lượng đổ bộ rút về tàu, mang theo những người bị thương và thi thể người tử trận. Như vậy, nỗ lực đổ bộ giành lại quyền kiểm soát tại đảo Quang Hòa của Việt Nam Cộng Hòa đã không hoàn thành. Cũng theo tường thuật trong sách của cựu Hạm trưởng Vũ Hữu San và tác giả Trần Đỗ Cẩm, từ 10 giờ 17 cho tới 10 giờ 24, các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa di chuyển chiến thuật để lập một vòng cung phía tây đảo Quang Hòa. Phân đội bắc gồm HQ16 và HQ10 di chuyển tới hướng tây bắc đảo Quang Hoà, phân đội nam gồm HQ 5 và HQ 4 di chuyển tới phía tây đảo. Bốn tàu Trung cộng liền bám theo sau. 
Cuộc đụng độ (trong hình) giữa tàu Trung cộng và tàu Việt Nam Cộng Hòa (theo tài lieu internet của Hạm trưởng Vũ Hữu San là chiếc HQ 4) – Ảnh: China.com
Trận hải chiến chính thức khởi sự vào lúc 10 giờ 22 phút sáng 19/1/ Theo Hạm trưởng Vũ Hữu San, sau khi mệnh lệnh tác xạ của đại tá Hà Văn Ngạc được truyền đi từ trung tâm chỉ huy đặt trên HQ 5, tất cả các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa đồng loạt nổ súng vào tàu hải quân Trung cộng. “Lúc bấy giờ, tôi đứng trên đài chỉ huy với Hạm trưởng San, nghe có lệnh bắn truyền xuống, ông hạm trưởng hét: ‘bắn!’ Đồng thời ổng điều chiếc tàu chạy quanh quanh để tránh đạn. Ngay thời khắc đầu tiên, do bị bất ngờ nên quân Trung cộng thiệt hại nặng”, 40 năm sau cuộc chiến, ông Lữ Công Bảy, hạ sĩ quan giám lộ tàu HQ 4, kể lại. Do mục tiêu nằm trong tầm bắn nên các loại súng pháo 20 ly và 40 ly bắn rất hiệu quả, theo sách Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa của Vũ Hữu San và Trần Đỗ Cẩm. Về hải pháo, các khẩu 76 ly của HQ 4 và 127 ly của HQ 5, HQ 16 có tốc độ bắn chậm hơn trong khi tàu Trung cộng nhỏ bé và di chuyển rất linh động thành ra rất khó ngắm trúng mục tiêu. Trong các chiến hạm của Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có hải pháo của HQ 4 là điều khiển bằng điện; còn lại đều là hệ thống quay tay khá cổ điển nên việc “bắt chết mục tiêu” gặp nhiều trở ngại. HQ 10 là chiến hạm nhỏ nhất và chỉ còn một máy chính hoạt động nên xoay trở rất khó, giàn ra đa lại bị hỏng nên bị rơi vào nguy khốn. “Lúc đó chính mắt tôi thấy rõ ràng chiếc tàu bên trái của Trung cộng bị dính đạn. Một cụm lửa bùng lên rất to. Chiếc tàu mất hẳn trên màn hình ra đa. Có lẽ nó chìm tại đó luôn. Chiếc còn lại thì đâm đầu vô đảo chứ không dám rượt theo mình” , ông Bảy kể. Nhưng phía Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu tổn thất không ít. Chỉ khoảng sau 10 phút tham chiến, HQ 10 đã bị loại khỏi vòng chiến. “Qua bộ đàm, bạn tôi là Vương Thương báo cáo HQ 10 trúng hai phát đạn pháo của Trung cộng, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận và hạm phó bị thương. Anh em trên đài chỉ huy HQ 10 toàn bộ đều bị thương hoặc chết. Sau đó thì không thể liên lạc được nữa, chắc bên đó không còn ai giữ truyền tin liên lạc”. Ba chiếc tàu còn lại của Việt Nam Cộng Hòa cũng bị dính đạn Trung cộng, trong đó nghiêm trọng nhất là HQ16 bị trúng một quả đại bác vào hầm máy phải, nước tràn vào khiến tàu nghiêng hẳn. Lúc bấy giờ, do Trung cộng phá sóng truyền tin tầm xa, nên việc liên lạc giữa tàu và Đà Nẵng là bất khả thi. Các tàu chỉ có thể liên lạc với nhau bằng PRC25 khi ở khoảng cách ngắn hơn. Sau hơn 30 phút kể từ khi tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hòa khai hỏa đánh Hải quân Trung cộng, tình trạng lúc này là phía Việt Nam Cộng Hòa có một tàu bị bắn cháy, nhiều chiến sĩ tử trận hoặc bị thương. Chiến hạm HQ16 và HQ5 hư hại khá nặng, HQ4 cũng dính đạn nhưng còn hoạt động được. Phía Trung cộng có một tàu bị bắn cháy, phần lớn các tàu còn lại hư hại nặng nề, tổn thất về quân lính thì phía hải quân Trung cộng không thể kể cho hết. Theo tài liệu Hoàng Sa, Lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa của chính phủ VNCH cũng như hồi ký của cựu Hạm trưởng HQ 4 Vũ Hữu San, đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy trưởng chiến dịch trên biển, và một số chiến sĩ tham dự trận hải chiến cho hay trận hải chiến kết thúc vào lúc khoảng 11 giờ trưa 19/1/1974. Khi đó thì hải quân Trung cộng đang gửi thêm tàu tiếp viện, gồm tàu chiến cao tốc Komar trang bị hỏa tiễn mua của Liên Xô trước đó. Trước tình huống vũ khí VNCH yếu thế hơn và phía Hoa Kỳ với hạm đội 7 đang trú đóng gần đó không hề có bất cứ động thái yểm trợ nào, bất lợi về phía Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ VNCH đã ra lệnh triệt thoái các tàu còn lại về Đà Nẵng. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay giặc Tàu cộng, trưa ngày 19/1/1974. Mặc dù kết thúc cuộc hải chiến , quân lực VNCH nói chung và hải quân VNCH nói riêng đã mất đi một số người lính anh hùng. Sự chênh lệch về lực lượng và phương tiện đã không cho phép những người lính VNCH có thể chiến thắng trước đối thủ hung hãn, hơn hẳn về phương tiện vũ khí và được yểm trợ tối đa. Nhưng đổi lại, tinh thần chiến đấu của họ đã còn lưu lại mãi mãi trong lòng người dân Việt Nam cho đến muôn đời. Họ đã làm cho phía Trung Cộng thiệt hại nặng nề cả về vũ khí lẫn quân lính. Những người anh hùng đã chiến đấu trong trận hải chiến ngày 19/01/1974 xứng đáng được vinh thăng và trân trọng. Một trong số Họ đã anh dũng ở lại Hoàng Sa ! 2.Việt Nam Cộng Hòa phản đối Trung Cộng, Cộng sản Việt Nam hân hoan chúc mừng giặc Sau sự hi sinh anh dũng của hạm trưởng Ngụy Văn Thà và đồng đội thì chính quyền VNCH đã lên tiếng một cách mạnh mẽ những hành động ăn cướp của Trung Cộng. Điều này cũng minh chứng rằng một khi để nói là VNCH là tay sai của Mỹ, là bán nước, là Ngụy quân, ngụy quyền thì phải có bằng chứng rõ ràng. Một điều chúng ta có thể thấy rõ ràng tại sao một chế độ bị vu cáo là “ngụy” lại anh dũng chống trả quân thù Trung cộng cướp nước còn CHXHCNVN lại “tri ân” giặc Tầu như cách mà Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng hay Nguyễn Phú Trọng và cả bè lũ cộng sản đang ngày đêm ca ngợi, để mặc ngư dân bị đánh đập ngay trên biển đảo quê hương mình? Ai là “Ngụy” thì có lẽ thực chất bạn đọc cũng tự tìm cho mình câu trả lời rồi. Những bức ảnh này là minh chứng hùng hồn nhất thay cho cả vạn lời nói ai mới thật sự là “ngụy” bán nước cho giặc Tầu: 





Người dân VNCH và Hoàng Sa Trái ngược lại với chính phủ VNCH và những người lính VNCH đã anh dũng bảo vệ biển đảo quê hương thì những kẻ tự nhận mình là “thống nhất, giải phóng” đất nước lại ngang nhiên bán biển đảo cho giặc. Cần phải nhớ lại một chuỗi lịch sử bán HS-TS của CSVN như sau. Ngay sau khi tuyên bố của Trung cộng về việc HS- TS là của Trung Cộng thì Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng Việt Nam Dân Chủ cộng hòa (VNDCCH) thừa lệnh Hồ Chí Minh (Xem: “Những sự thật không thể chối bỏ” – Phần 2) đã tiến hành việc đưa ra công hàm ký ngày 14/9/1958. Công hàm này có nội dung như sau: 
Công hàm này ngoài ra thời điểm đó còn được các tờ báo Nhân dân thời điểm đó đưa tin (Báo nhân dân là cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt Nam). Đây là hình ảnh của Báo nhân dân đã đưa tin về sự kiện này: 
và ngay sau đó thì sáng ngày 21.9.1958, Nguyễn Khang, Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Trung Quốc, đã gặp Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đã chuyển bức công hàm của Phạm Văn Đồng đến Chu Ân Lai. 
Trước đó, năm 1956, Ung Văn Khiêm, nhân tiếp phái đoàn ngoại giao Trung Cộng, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao CSVN đã tuyên bố với Lý Chí Dân, tham tán sứ quán Trung Cộng tại Việt Nam: Chiếu theo tài liệu Việt Nam thì HS và TS thuộc về Trung Cộng. Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào: Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc Trung Cộngh từ thời nhà Tống. Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài “ Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa”. Năm 1977 cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích quan điểm của ông ta về công hàm này như sau: “đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi”. Sau đó Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 nói như sau: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.”. Cũng chính vì bán nước cho giặc theo tinh thần và Hồ Chí Minh nên các đảng viện cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn im lặng trước cuộc xâm lăng của giặc Tầu năm 1974. Thay vì lên tiếng phản đối giặc tấn công Hoàng Sa thì đảng cộng sản lại đồng thuận với giặc Tàu, coi những người lính VNCH là những kẻ thù địch, nhận giặc Tàu làm cha mẹ. Điều đó được minh chứng bằng lời phát biểu của GS Hà Văn Thịnh khi ông này trả lời phỏng vấn đài RFA: “Hồi đó tôi học năm thứ nhất Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Nói thực là ông Hoàng Tùng khi đó, tôi không nhớ rõ thầy giới thiệu như thế nào, nhưng mà thầy giới thiệu là các em hôm nay – 180 sinh viên Khoa Sử – Đại Học Tổng Hợp Hà Nội nghe ông Hoàng Tùng – Ủy viên Trung Ương Đảng, Tổng biên tập báo Nhân Dân, hay là Ban tư tưởng Trung ương gì đó, chức vụ tôi không nhớ, nhưng mà ông Hoàng Tùng nói chuyện về lịch sử thì ông có nói chuyện Hoàng Sa”. Ông Hoàng Tùng nói nguyên văn thế này: “Vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình.”. Thế hệ cộng sản trước đã vậy, thế hệ cộng sản ngày nay cũng không có gì khá hơn. Họ đã vô ơn trước những anh hùng tử sỹ Hoàng Sa để “tri ân” giặc Tầu. Trong bản tuyên bố chung 8 điểm “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc – Việt Nam” ký kết ngày 21/06/2013 giữa Tập Cận Bình tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc và Trương Tấn Sang chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ban lãnh đạo Trung Quốc chắc hẳn biết rằng giấc mộng xâm chiếm Việt Nam của Mao Trạnh Đông không còn bao lâu nữa sẽ thành sự thật. 
Để đền đáp “công ơn” hiểm độc trên của Trung Cộng, Phùng Quang Thanh đại tướng ủy viên BCT / TW đảng, bộ trưởng bộ quốc phòng thay mặt đảng, quân đội Nhân Dân Việt Nam khẳng định tại buổi họp mặt kỷ niệm ngày thành lập Giải Phóng Quân Trung Quốc tại Bộ Quốc Phòng Việt Nam ngày 28/7/2012 như sau: “… Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam…” Thay mặt cho nhà nước Cộng Hòa Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyễn Thiện Nhân phó Thủ Tướng chính phủ, trong lần chủ trì “Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc – Hội Hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc”tại Hà Nội ngày 10/07/2012 đã chỉ thị: “Hội hữu nghị Việt Nam -Trung Quốc sẽ tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc, xuyên suốt trong 5 năm, sau đại hội này…” Tiêu biểu cho tư tưởng chiến lược của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trần Đăng Thanh đại tá phó giáo sư – tiến sĩ, nhà giáo ưu tú, thuộc học viện Chính trị Quốc Gia Bộ Quốc Phòng trong một buổi giảng bài tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây ngày 19/12/2012 đã phân tích: “… Trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên…”. Chưa hết, Nguyễn Phú Trọng mới đây đã hùng hồn tuyên bố :”Tôi đã nhiều lần nói ta với TQ là láng giềng, phải ăn đời ở kiếp với nhau, xúc đất đổ đi được không? Ta giữ được độc lập chủ quyền, nhưng cũng phải giữ cho được chế độ, bảo đảm cho được Đảng lãnh đạo, môi trường hòa bình ổn định để xây dựng, phát triển đất nước, giữ cho được quan hệ hòa hiếu với các nước, trong đó có TQ“.Trơ trẽn hơn nữa, trong buổi triều kiến đối với Du Chính Thanh thì thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng còn nói cho rằng: “Mối quan hệ truyền thống hữu nghị, vừa là đồng chí vừa là anh em do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các thế hệ lãnh đạo cách mạng hai nước dày công xây dựng và vun đắp là tài sản quý báu của hai dân tộc, đòi hỏi hai Đảng, hai nước đều phải trân trọng và gìn giữ “… Rõ ràng, trong khi những người lính VNCH đã anh dũng chiến đấu với giặc Tầu thì đảng cộng sản Việt nam lại bán nước cho Tầu. Đảng cộng sản cũng đẩy những người lính của chính họ vào cõi chết khi đảng khóa tay họ không cho nổ súng vào giặc Tầu mà chính tướng cộng sản Quách Hải Lượng và Lê Đức Anh đã phải thừa nhận. Đến đây, một lần nữa ai là “Ngụy” và ai là “Quân Tử” thì người đọc chắc chắn đã sáng tỏ hoàn toàn ! 3. Người ở lại Hoàng Sa và trách nhiệm của chúng ta hôm nay Những cái tên như : Ngụy Văn Thà, Vương Thương, Phan Ngọc Đa, Võ Văn Nam, Trần Văn Thọ, Nguyễn Văn Tuấn, Vũ Văn Bang vv.. đã nằm lại trong lòng biển sâu. Họ đã sống ngay thẳng, chết anh dũng vì đất mẹ. Và họ đã được biển quê hương ôm ấp, che chở cho linh hồn của những người con sống chết vì dân tộc. Thân xác Họ đã ở lại Hoàng Sa, nhưng tinh thần của những người lính VNCH thì còn sống mãi cùng hành trình đi đòi công lý cho cả một dân tộc bị bàn tay độc tài của CSVN và bàn tay Bành Trướng của Hán tặc đè nén. Sự hi sinh của những người lính VNCH trong trận hải chiến năm 1974 đã không hề vô nghĩa. Mặc cho đảng cộng sản Việt Nam phủ nhận công lao của những người lính VNCH dưới chiêu trò “ngậm máu phun người” thì có một thực tế không thể chối bỏ là trong thời điểm Trung Cộng đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam. Đồng loạt các báo chí cộng sản đã phải cho đăng tải những bài viết về những anh hùng VNCH đã ngã xuống trong trận hải chiến oai hùng đó. Lần lượt những tờ báo Thanh Niên, Dân Trí, Giáo Dục vv… của cộng sản Việt Nam đã phải lên tiếng về cái gọi là “tính chất khốc liệt” của trận hải chiến. Báo Dân Trí trong bài viết của mình ngày 29/05/2014 đã có đoạn:” Mẹ già, con thơ, kinh tế gia đình đang khó khăn… nhưng anh Nguyễn Hoàng Sa vẫn sẵn sàng gạt hết mọi lo toan, hăng hái đăng ký ra Hoàng Sa, cùng các chiến sĩ, ngư dân bảo vệ mảnh đất nơi cha anh đã ngã xuống trong trận hải chiến 1974”. Vâng ! Cho đến ngày hôm nay thì chính những báo chí của cộng sản bạo quyền đã phải thừa nhận những người lính VNCH đã hăng hái chiến đấu như thế nào. Đó chính là những cái tát vào những bộ mặt của cộng sản Việt Nam khi họ vẫn ngày đêm tuyên truyền ra rả về cái gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. 
Bốn chiến hạm của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tham dự trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ lãnh thổ vào năm 1974. Chiến hạm HQ-10 trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận, chiến hạm HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng 15 độ, chiến hạm HQ-5 và HQ-4 bị hư nhẹ. Gần 50 thủy thủ và hạm trưởng Ngụy Văn Thà của HQ-10 tử vong. Ngoài ra HQ-5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương. Tờ báo Dân Trí còn trích dẫn bà Nguyễn Thị Lựa – một góa phụ 40 năm thờ chồng là tử sĩ Nguyễn Thành Trọng (một trong 74 tử sĩ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974) sống tại ấp Thới Khánh, xã Tân Thạnh, huyện Thới Lai TP Cần Thơ : “Cách nay đúng 40 năm, chồng tôi và các chiến sĩ khác không thể chấp nhận hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc nên đã chiến đấu quyết giành lại mảnh đất giữa trùng khơi của Tổ quốc. Dù trận chiến ấy thất bại nhưng cho thấy rằng, từ đời nào chúng ta đã không nhân nhượng, quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ lãnh thổ của đất nước”… Vâng! Những người như tử sỹ Nguyễn Thành Trọng đã ngã xuống, đã dùng máu mình tô thắm màu cờ Vàng của dân tộc. Họ đã hi sinh không hề vô nghĩa vì chính sự hi sinh ấy đã là động lực cho thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta phải chiến đấu hết mình vì quê hương Việt Nam. Chúng ta sẽ phải sống sao cho xứng đáng với những sự hi sinh của những người lính VNCH nói chung, của những anh hùng Hải chiến Hoàng Sa nói riêng và cả những người vợ, người em, người con, người anh … của họ. Và chúng ta xin hãy đừng vô cảm, nhạc sỹ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình đã kêu gọi chúng ta “Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất. Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta. Hoàng Trường Sa, đã bao người dân vô tội. Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu…”. Chúng ta phải đứng lên dù bất cứ giá nào vì Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Nơi đó có những linh hồn của tử sỹ trong trận Hải chiến năm 1974, của cả những người bộ đội cộng sản đã đặt niềm tin nhầm địa chỉ, của những người ngư dân bị giặc Tầu giết hại. Nơi đó, có trái tim của Mẹ Việt Nam đang mong chờ đàn con thu non sông về với Mẹ. Và một điều quan trọng, rất quan trọng, muốn hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng, muốn đất nước Việt Nam không còn là một sân sau của giặc Tầu thì chẳng còn cách nào khác là chúng ta phải đứng dậy để dẹp bỏ chế độ cộng sản Việt Nam vẫn đang ngày đêm đem từng tấc đất của Cha ông để dâng cho giặc. Chúng ta không được phép quên rằng chúng ta đã có những Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt trong quá khứ thì ngày nay chúng ta cũng có những Nguyễn Thành Trọng, Ngụy Văn Thà vv…Chính vì vậy, chúng ta không thể nào cho phép giặc Tầu tiếp tục đàn áp người dân Việt Nam thông qua bàn tay của CSVN. Chúng ta phải đứng lên noi gương những người tử sỹ Hoàng Sa năm 1974. Vì họ là những anh hùng ! Họ đã anh dũng ở lại Hoàng Sa ! Một nén hương lòng dâng lên những anh hùng tử sỹ Hoàng Sa !.
Đặng Chí HùngHoàng Sa muôn đời của Việt Nam“Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa. Điều này không thể được xem một quyền theo luật pháp quốc tế”.Trong giai đoạn 1956-1975, đất nước Việt Nam bị chia cắt thành hai miền. Việc phân chia lãnh thổ ở vĩ tuyến 17 đã đặt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Nam Việt Nam. Như vậy, lúc đầu là chính quyền Quốc gia Việt Nam và về sau là chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chỉ chính quyền này mớicó quyền bảo vệ và quản lý các quần đảo Hoàng sa và Trường Sa với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo Hiệp định Genève 1954. Tuy nhiên, người Trung Quốc lại sử dụng thái độ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa để làm luận cứ. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là: giữa Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam thì ai là người chủ thực sự theo luật pháp quốc tế của các quần đảo này? Trung Quốc cho rằng, quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của mình và Việt Nam đã hơn một lần công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này. Yêu sách đó dựa trên công thư của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 đã thừa nhận tuyên bố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ấn định chiều rộng lãnh hải Trung Quốc 12 hải lý. Tuyên bố của Trung Quốc nói sự mở rộng lãnh hải này áp dụng cho “các quần đảo Đài Loan, Đông Sa, Trung Sa, Tây Sa và Nam Sa và tất cả các đảo thuộc Trung Quốc”. Về vấn đề này, Giáo sư Monique Chemillier – Gendreau, nguyên Chủ tịch Hội luật gia Dân chủ Thế giới phân tích, công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc nhưng không có sự khẳng định công nhận yêu sách của Trung Quốc với hai quần đảo.” Cùng chung quan điểm này, ông Ngô Vĩnh Long, Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học Maine, Mỹ nói: “Ông Phạm Văn Đồng không bao giờ tuyên bố bỏ Hoàng Sa, không bao giờ nói chịu nhượng bộ bất cứ 1 đảo nào của Việt Nam, bất cứ đâu. Ông Phạm Văn Đồng chỉ đồng ý theo yêu cầu của ông Chu Ân Lai rằng, lãnh hải có 12 dặm bởi vì quốc tế lúc đó nói lãnh hải chỉ có 3 dặm thôi. Ông Đồng đồng ý vấn đề đó, không có nghĩa là hiến cả Hoàng Sa cho Trung Quốc.” GS Ngô Vĩnh Long, Đại học Maine (Ảnh: Lê Phúc) Tuy nhiên, liệu sự im lặng về tình trạng của Hoàng Sa và Trường Sa trong công thư này có được coi như là sự ngầm công nhận đối với chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này? Ở đây, đối tượng của một sự cam kết đơn phương cần phải thật chính xác. Việc giải thích ý chí của một quốc gia phải thận trọng. Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng có mục đích đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc đối với các nước xã hội chủ nghĩa nhằm ủng hộ cuộc đấu tranh của họ chống lại chính sách tự do trên biển của Mỹ theo đuổi trong eo biển Đài Loan, đe dọa tới nền an ninh quốc gia của Trung Quốc vào thời kỳ đó. Công thư cho thấy một sự cam kết mang tính chính trị nhiều hơn pháp lý, một hình thức thường được các nước xã hội chủ nghĩa sử dụng để thể hiện sự đoàn kết về mặt tư tưởng. Mặt khác, phù hợp với nguyên tắc theo đó “các hạn chế sự độc lập không thể suy diễn”, sự từ bỏ phải được nói rõ và không được suy diễn. Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chứa đựng bất kỳ sự từ bỏ rõ ràng nào chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, căn cứ vào chức năng quyền hạn của mình, một Thủ tướng không có thẩm quyền từ bỏ hoặc chuyển nhượng lãnh thổ. Thẩm quyền đó thuộc về Quốc hội Việt Nam. Tác giả E. Suy trong tác phẩm Các hành vi pháp lý đơn phương trong công pháp quốc tế cho rằng, “Khó có thể tìm được trong thực tiễn quốc tế các ví dụ từ bỏ hoàn toàn đơn phương. Trên thực tế, một chủ thể luật không thể dễ dàng hi sinh một quyền mà không nhận được các ưu đãi đổi lại. Do vậy, một sự từ bỏ trong phần lớn các trường hợp được cân bằng bởi sự quy thuộc các quyền khác, điều đó một lần nữa lại đưa chúng ta tới hình bóng của luật điều ước. Ngay cả khi, mới chỉ thoạt nhìn ta tin rằng có sự hiện diện của một sự từ bỏ hoàn toàn đơn phương thì cũng nên nghi ngờ bởi vì nó có thể là câu trả lời cho một sự mời mọc hoặc một đề nghị nào đó…”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam và Trung Quốc đã đồng ý rằng, các tranh chấp của hai nước sẽ được giải quyết trong một thời điểm thích hợp thông qua đàm phán. Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không nằm trong bối cảnh tranh chấp giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Vì thế, “không gì có thể ngăn cản các bên đạt thỏa thuận bằng con đường thông thường, đó là một thỏa thuận với điều kiện có đi có lại.” Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chứa đựng đặc điểm có đi có lại. Do đó, không thể xem công thư này như là sự từ bỏ chủ quyền đối với quần đào Hoàng Sa và Trường Sa. Mặt khác, về vấn đề lãnh thổ, nguyên tắc chính của luật quốc tế là nguyên tắc thực sự. Bên liên quan “không thể chuyển dịch nhiều hơn các quyền mà họ có”. Vì vậy, cần phải xem xét liệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quản lý thực sự các đảo này trong thời điểm đó để có đủ thẩm quyền chuyển nhượng cho Trung Quốc hay không? Chúng ta đã biết, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, theo các điều khoản của Hiệp định Genève năm 1954 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Đông Dương. Theo đó, các quần đảo này tạm thời thuộc quyền quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong khi chờ đợi một cuộc Tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam Cộng hòa có phải là một quốc gia trên thực tế không? Câu trả lời là có. Việt Nam Cộng hòa là chủ thể kế nhiệm hợp pháp các danh nghĩa, các quyền và các yêu sách do Pháp để lại trên các đảo. Vì vậy, các tuyên bố hay biểu thị lập trường có thể có của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không có giá trị đối với danh nghĩa chủ quyền. Theo ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Ngoại giao, người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không có quyền lực: “Khi Công thư này gửi Trung Quốc, lúc bấy giờ, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa, theo Hiệp định Genève năm 1954 và Trung Quốc là một bên tham gia. Theo logic thông thường, bạn không thể cho người khác những gì khi bạn chưa có được. Cho nên tôi khẳng định rằng, công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị trong việc công nhận chủ quyền đối với cái gọi là Tây Sa hay Nam Sa theo cách gọi của Trung Quốc.” Với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo Hiệp định Genève, Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành tổ chức hành chính, điều tra và khai thác kinh tế, bảo vệ hữu hiệu các quần đảo. Đối với Hoàng Sa, năm 1956, khi quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Cộng hòa đã ra tiếp quản nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa, ra thông cáo nhấn mạnh quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa “luôn luôn là một phần của Việt Nam”. Năm 1959, Nha Khí tượng Sài Gòn đã điều ông Ngô Tấn Phát ở quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng ra công tác tại Trung tâm Khí tượng Hoàng Sa trong thời gian 6 tháng. Trong ký ức của mình, ông vẫn còn nhớ rất rõ về ngọn hải đăng nằm ở phía Bắc đảo. Hướng Tây Nam có miếu Bà, trong miếu có tượng cao 1,5m. Ở khu vực giữa đảo, là tấm bia chủ quyền Việt Nam do nhà Nguyễn đặt vào năm 1816. “Hoàng Sa là 1 trong những trạm lớn của TP. Đà Nẵng. Mỗi lần đi Hoàng Sa, có 6 người làm nhiệm vụ quan trắc viên, đo đoc thời tiết, nhiệt độ trong ngày; cứ 3 tiếng đọc 1 lần, tính toán những số liệu mà mình đọc được, lưu trong cuốn sổ chính của trạm để gửi vào đất liền, Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng”,ông Ngô Tấn Phát cho biết.  Giấy chứng sinh của bà Mai Kim Quy tại đảo Hoàng Sa- con gái ông Mai Xuân Tập, nhân viên khí tượng đảo Hoàng Sa. Năm 1960, Việt Nam Cộng hòa quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng 1 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, giữ chức Phái viên hành chính Hoàng Sa. Năm 1971, tại Hội nghị ASPEC Manila, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm đã tuyên bố, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Tuy nhiên, đến tháng Giêng năm 1974, lực lượng vũ trang Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa. Trong các ngày từ 17 đến 20 tháng 1 năm 1974, xảy ra trận hải chiến giữa lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa và lực lượng hải, lục, không quân, quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã chống trả quyết liệt nhưng không thể giữ được các đảo. Nghị quyết 2625 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, ngày 24 tháng 10 năm 1970 quy định rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp.” Giáo sư Monique Chemillier – Gendreau, nguyên Chủ tịch Hội luật gia Dân chủ Thế giới khẳng định, hành động của Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam đã vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế: “Trung Quốc không hề có giấy tờ chứng thực lịch sử, đã dùng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa. Điều này không thể được xem một quyền theo luật pháp quốc tế. Tôi đã nghiên cứu nhưng chưa tìm được những giấy tờ nào về sự có mặt hoặc quản lý thực sự của Trung Quốc.” Đáng chú ý, ngay khi đó, quan sát viên của Việt Nam Cộng hòa tại Liên Hợp quốc cũng đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Tháng 3 năm 1974, tại Hội nghị Ủy ban Kinh tế Viễn Đông tổ chức tại Colombo, đại biểu chính quyền Sài Gòn đã khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Ngay tại Hội nghị lần thứ ba của Liên Hợp quốc về Luật Biển, ngày 2 tháng 7 năm 1974, đại biểu chính quyền Sài Gòn cũng tố cáo sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực của Bắc Kinh và khẳng định lại rằng, Hoàng Sa và Trường Sa là “bộ phận hữu cơ của lãnh thổ Việt Nam” và “chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này là không thể tranh cãi và không thể chuyển nhượng.” Cũng cần nhắc lại, từ năm 1969 trên lãnh thổ Việt Nam cùng tồn tại hai chính phủ. Đó là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trước sự kiện tại Hoàng Sa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã đưa ra tuyên bố ba điểm: “Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mọi dân tộc; Giữa các nước láng giềng có nhiều vụ tranh chấp về vấn đề biên giới và lãnh thổ do lịch sử để lại. Các tranh chấp đó có khi rất phức tạp, đòi hỏi được xem xét kỹ càng; Các nước liên quan phải cùng nhau xem xét vấn đề trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và giải quyết vấn đề bằng thương lượng.” Điều này chứng tỏ cả hai Chính phủ đòi hỏi quyền đại diện cho miền Nam Việt Nam đều chung một lập trường, là phản đối sự xâm lược bằng vũ lực trên quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, từ quan điểm liên tục của một danh nghĩa pháp lý, Việt Nam Cộng hòa là bên kế thừa duy nhất các quyền và nghĩa vụ của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp và của nước Pháp trên hai quần đảo. Sau khi Trung Quốc giành được quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực, Việt Nam đã mất đi yếu tố vật chất của mình trên quần đảo này nhưng người Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì yếu tố tinh thần của mình bằng các công hàm và tuyên bố không ngừng phản kháng lại sự chiếm đóng bất hợp pháp đó, bảo tồn các quyền đã có từ xưa. Bởi vì “việc sở hữu một lãnh thổ không chấm dứt chỉ do việc mất đi sự chiếm giữ vật chất, cần phải kèm theo việc mất đi đó ý định từ bỏ lãnh thổ.” Từ ngày 2 tháng 7 năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bên kế thừa hợp pháp, thay thế danh nghĩa thường xuyên của Việt Nam cộng hòa trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các quyền và nghĩa vụ của Việt Nam cộng hòa trên các quần đảo này tiếp tục được thực hiện mà sự liên tục không có gì phải nghi ngờ. Ông Đặng Công Ngữ, nguyên Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa, TP. Đà Nẵng khẳng định, Việt Nam, qua 40 năm ròng rã, vẫn có ý chí cương quyết về chủ quyền hợp pháp của mình trên quần đảo Hoàng Sa: “Đến giờ này, UBND huyện Hoàng Sa vẫn duy trì ở đây. Dù quần đảo của Tổ quốc mình hiện không còn được quản lý về mặt thực chất nhưng ý chí của chúng ta vẫn duy trì, tiếp tục. Tôi nghĩ rằng, dù có một năm, nhiều năm hay lâu hơn nữa, mình vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.” Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam khẳng định, Hoàng Sa muôn đời là của Việt Nam: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa. Chúng ta nhất định phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi lại được thì đời con cháu chúng ta phải tiếp tục đòi theo đúng luật pháp quốc tế.” Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Hoàng Sa là của Việt Nam (Ảnh: Hải Sơn) Quần đảo Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nhưng để biện minh cho hành động hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm luc địa Việt Nam, Trung Quốc đã trắng trợn tuyên bố rằng họ có chủ quyền đối với Tây Sa. Trung Quốc đã một lần nữa thể hiện rõ ý đồ khẳng định chủ quyền bất hợp pháp của họ đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đặc biệt nghiêm trọng hơn, Trung Quốc đã cố tình giải thích và áp dụng sai các quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, bằng cách vạch đường cơ sở bao lấy toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam để mở rộng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; qua đó, từng bước kiểm soát đi tới độc chiếm Biển Đông, hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý. TS. Trần Công Trục và Nhóm phóng viên VOV Miền Trung Theo VOV
NGÀY MAI TỚI HOÀNG SA
Kỷ niệm 42 năm Hoàng Sa máu thịt của Tổ Quốc bị Trung Quốc cưỡng chiếm ( 19/1/1974), báo chí và mạng xã hội đưa dày đặc thông tin về ngày này, đó là điều rất đáng làm và phải thường xuyên làm, vì nhớ ngày mất Hoàng Sa là nhớ về trách nhiệm của nhiều thế hệ người Việt phải quyết tâm lấy lại Hoàng Sa. Trong diễn văn của Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có đoạn:""Để gìn giữ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, biết bao người con đất Việt đã ngã xuống, kể cả binh lính Việt Nam Cộng hòa vào năm 1974 và sau này nhiều ngư dân của Việt Nam đã ngã xuống vùng biển này" Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba ở Huế viết văn tế cho các nghĩa sĩ đã chết vì Hoàng Sa, vì Tổ Quốc Việt, đăng trên blog của nhà báo Kim Dung: Văn tế 74 tử sỹ trong trận hải chiến Hoàng Sa
Hỡi ơi! Nhẹ tựa lông hồng, Nặng tày non Thái. Những cái chết đã đi vào quốc sử, con cháu nghe mà xót dạ bàng hoàng, Bao con người vì gánh vác giang sơn, cây cỏ thấy cũng chạnh lòng tê tái. Anh linh kia hoài phảng phất thiên phương, Chính khí đó sẽ trường tồn vạn tải.
Mới hay, Giòng giống Việt luôn còn nòi nghĩa dũng, thịt tan xương nát sá chi, Trời đất Nam đâu thiếu bậc anh hùng, máu đổ thây rơi nào ngại. Kính các anh vị quốc thân vong Bày một lễ thâm tình cung bái. Nhớ các anh xưa, Tuổi trẻ thanh xuân, Khí hùng chí đại. Thời binh hỏa đâu màng gì nhung gấm, chọn tri âm tri kỷ chốn sa trường, Thuở can qua há tiếc chút bình an, nguyền báo quốc báo dân nơi hiểm ải. Một tấc đất vẫn là cương thổ, ông cha xưa bao đời gầy dựng, sao cam lòng để vuột mất đi. Dăm hòn đảo ấy vốn bản hương, anh em nay mấy độ canh cày, quyết tận sức ra gìn giữ mãi. Từ Chúa Nguyễn sách văn chép rõ, nhân dân Nam từng khai thác làm ăn, Đến Pháp Thanh công ước còn ghi, chủ quyền Việt chẳng luận bàn tranh cãi. San Francisco hội nghị, mừng biết bao, thấy thế giới đồng lòng, Việt Nam Quốc gia chính quyền4, vui xiết kể, đón sơn hà trở lại. Thế nên, Đất cát ông cha thì phải giữ, dẫu mũi tên hòn đạn không sờn, Núi sông tiên tổ sao chẳng gìn, mặc ăn gió nằm mưa chi nại. Trùng dương sóng dữ, mập mờ thuyền viễn thú, thân trai há sợ kiếp gian nan, Hải đảo gió cuồng, vời vợi biển quê hương, vai lính thêm bền lòng hăng hái. Hội khao lề lại trống chiêng bi tráng, tiễn người đi mờ bóng cuối chân trời, Nơi quê nhà đành con vợ u buồn, thương kẻ đợi trông buồm về trước bãi. Có ngờ đâu, Giặc ác hiểm quen tuồng xâm lược, máu tham tàn không giấu kín ý gian, Ta hiền lương chuộng đạo hiếu hòa, tình hữu nghị có đâu ngoài lẽ phải. Địch thả câu nước đục, hai ba lần chiếm đảo, xây đồn đắp lũy đó đây, Chúng luồn gió bẻ măng, bốn năm dạo lên bờ, dựng trại cắm cờ lải rải. Ngày 16 Quang Hòa, Hữu Nhật,… giặc đã nuốt tươi, Đến 17 Duy Mộng, Quang Ảnh,.. chúng đang xơi tái. Lửa hờn bốc tận thanh vân. Khí uất tràn đầy thương hải. Ghìm máu nóng, thông tin bằng quang hiệu, giặc cứ ngang tàng, Hạ quyết tâm, biệt hải tiến vào bờ, ta ôm thất bại. Không nản chí, Thường Kiệt, Nhật Tảo băng băng pháo đạn xông pha, Chẳng dùi lòng Bình Trọng, Khánh Dư né né tiễn lôi lèo lái. Vẳng đôi tai còn nghe khúc “Thuật Hoài” Bừng con mắt đà thấy câu “Trung Ngãi” Thế nhưng, Lực bất tòng tâm, Thiên dung vô lại. Giặc đã nhiều chuẩn bị, nào tảo lôi, nào liệp đỉnh, tàu nhiều quân bộn giàn hàng, Ta mất thế thượng phong, này sóng dữ, này đá ngầm, biển rộng đường xa phải trải. Phía chếch đông tàu Mỹ đứng mà nhìn, Phương chính bắc hạm Tàu nằm sắp phái. Dù như thế ta vẫn quyết thư hùng Có ra sao mình cứ liều sống mái. Đùng đoành trọng pháo nổ thấp cao, Sàn sạt hỏa tiễn bay trái phải, Ngụy Văn Thà trúng thương trước ngực, máu anh hùng đẫm ướt chiến y, Lý Thường Kiệt lãnh đạn ngang hông, nước đại hải ngập đầy buồng máy. Khói mù tàu giặc cháy bốc lên, Pháo nổ thuyền mình câu vọng lại. Thương ơi! Thế lực không cân Thời cơ cũng trái. Bảy tư người bỏ mình vì nước, biển sâu ký gởi thân phàm, Cả bốn tàu trúng pháo quân thù, bờ cạn lui về gác mái. Cờ quốc gia phủ người ra trận, toàn quân dân uất ức trẻ như già Vành khăn tang chít tóc đang xanh, bao thân quyến nghẹn ngào trai lẫn gái. Công các anh, Tổ quốc thề không quên, Toàn dân nguyền nhớ mãi. Chống ngoại xâm là truyền thống muôn đời Giữ lãnh thổ vốn luân thường vạn đại. Máu tử sĩ sẽ nuôi khôn dân tộc, mau kiên trì giành lại giang sơn, Xương anh linh rồi nung chín hùng tâm, sớm quyết liệt san bằng oan trái. Nước cường thịnh khi dân biết kết đoàn, Dân phú túc lúc người luôn thân ái. Hôm nay. Sơ sài lời điếu câu văn, Đạm bạc chùm hoa dĩa trái. Xót uy linh, xin tượng tạc bia xây, Tỏ thâm tạ, khiến dân quì quan vái. Mong các anh siêu độ tái sinh, Cầu đất nước dân an quốc thái. Hỡi ơi! Xót xa tiếng mất ý còn, Tha thiết lòng phơi ruột trải. Hồn có linh thiêng Niệm tình thụ bái. Huế, ngày 18.01.2014 +Trong lịch sử nước nhà, ai chiến đấu và chết vì giang sơn bờ cõi nước Việt đều được ghi ơn và tri ân, đó là đạo lý. Bài bình luận khá cảm động trên báo Dân Trí của nhà thơ Bùi Hoàng Tám: "Tất cả những ai hi sinh trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc đều cần được ghi nhớ. Hồn cốt Hoàng Sa không có hai từ “phân biệt”: Hồn cốt Hoàng Sa không có hai từ “phân biệt”!
HOÀNG SA: MỘT VẾT THƯƠNG CHẢY MÁU CHƯA CẦM Đây là một câu trong ca từ của ca khúc Nhớ Hoàng Sa của nhạc sĩ Hoàng Vân mà theo nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha kể lại thì ca khúc này rất hay và duy nhất về Hoàng Sa cách đây mấy chục năm nhưng tới giờ vẫn chưa được dàn dựng:
Trong cánh én mùa xuân Trong gió nồm mùa hạ Trên mỗi cánh san hô trên cát biển quê nhà Nhớ Hoàng Sa không chỉ là nỗi nhớ Một khoảng trời tổ quốc Một vùng biển quê hương Nhớ Hoàng Sa như một vết đau nhức nhói Một vết thương chảy máu chưa cầm Càng nhớ Hoàng Sa khi ta ở Đồng Đăng Ở Mũi Cà Mau hay giữa lòng Hà Nội Nghe tim mình ứ nghẹn ở trong tim Và ông tin tưởng ở đoạn kết bài, tin tưởng chúng ta tin tưởng nếu đời con, Hoàng Sa chưa kịp về với Việt Nam, thì tiếp tục đời cháu và các đời sau nữa: Như đứa con xa sẽ trở về với mẹ Bãi san hô và ghềnh đá Hoàng Sa Sẽ trở về đất tổ quê cha Tôi sẽ về Hoàng Sa cho ngày vui trọn vẹn Tôi sẽ về Hoàng Sa như tình yêu đã hẹn Đọc bài viết của nhà thờ Nguyễn Thuỵ Kha: Nguyễn Thụy Kha: ‘Hoàng Sa – một vết thương chảy máu chưa cầm’
QUÀ BIẾU 2 USD CỦA THÀNH UỶ HÀ NỘI. Một bài trao đổi thú vị giữa phóng viên Vietnamnet với nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Thị Minh Thái về quà biếu. Có chi tiết này: "Tôi đưa bố tôi đi nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân do Đảng và Nhà nước trao tặng ở Nhà hát Lớn hôm 10/1 vừa qua, trong đó có một món quà mà tôi thấy phải kể ngay ra đây. Một món quà của Thành uỷ Đảng cộng sản thủ đô Hà Nội, ông mở ra là 1 triệu tiền Việt Nam và 2 USD Mỹ tiền may mắn. Đó là gì, sự du nhập quà tặng của phương Tây vào, nó thể hiện ở việc may mắn ở đồng 2 USD, không ai tặng 1 USD, cũng không tặng 5 USD, chỉ 2 USD thôi. Tôi cho rằng, đây là một sự hội nhập rất đẹp"
PGS kể chuyện Thành uỷ Hà Nội tặng 2 USD quà Tết
TỈNH BỎ BẮN PHÁO HOA GIÚP NGƯỜI NGHÈO, TỈNH CÀNG NGHÈO CÀNG PHÁO, CÀNG HOA... Có gì đó rất nghich lý đối với lãnh đạo hai tỉnh này, Đắk Lăk và Nghệ An Riêng chi tiết này thì Hà Nội nên học Đăk Lăk về cái gọi là kinh phí xã hội hoá:"Trong cuộc họp mới đây, UBND tỉnh đã quyết định chỉ bắn pháo hoa đêm giao thừa ở một điểm là quảng trường TP Buôn Ma Thuột, kinh phí do thành phố vận động. Đối với hai điểm có tờ trình khác là thị xã Buôn Hồ và huyện Krông Pắk, UBND tỉnh đề nghị tiền vận động được dành cho bắn pháo hoa nên dành cho người nghèo, xây nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách”:Đắk Lắk: Đề nghị dành tiền bắn pháo hoa cho người nghèo Trong khi đó, hơi chua chát, Nghệ An vừa quyết định phân bổ hơn 3.600 tấn gạo cứu đói cho nhân dân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016....thì lại hoan hỉ thông báo: Chiều 19-1, trao đổi với Tuổi trẻ, ông Nguyễn Hải Nam, phó phòng tổng hợp UBND tỉnh Nghệ An cho biết, dự kiến tỉnh Nghệ An sẽ bắn pháo hoa tầm thấp trong thời gian 15 phút tại Công viên Trung tâm TP Vinh vào đêm giao thừa Bính Thân:Vừa nhận hơn 3.600 tấn gạo cứu đói, vừa bắn pháo hoa
TRUNG QUỐC KHÔNG VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÓ HOÀNG SA. Đà Nẵng bao giờ cũng quyết liệt và ấn tượng về lời nói và hành động của mình. Với chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa, Đà Nẵng hành động rất hay:
Nội dung trưng bày không chỉ có các bằng chứng pháp lý, lịch sử của Việt Nam đối với quá trình xác lập, đấu tranh bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của nước ta, mà còn có các bằng chứng đắt giá của phương Tây, thậm chí của cả Trung Quốc chứng minh Trung Quốc chưa bao giờ có Hoàng Sa trong suốt chiều dài lịch sử. Ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử TP.Đà Nẵng cho hay: “Hôm nay ngày 19.1, tức 42 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Đà Nẵng. Chính vì vậy, Hội Khoa học Lịch sử phối hợp UBND H.Hoàng Sa tổ chức hội thảo khoa học đúng dịp này để làm điều có ích gì đó cho Hoàng Sa”. Tập hợp bằng chứng Trung Quốc không có Hoàng Sa
Hôm Nay Trên Facebook:*Nhà Thơ VĂN CÔNG HÙNG: THẲNG ĐỨNGmột cú Gạc Ma sáu tư mạng người thẳng băng đáy biển đến giờ những luênh loang xanh phẳng lặng nếu không người nhắc lại thì ai biết những oan hồn đang lang thang nơi đâu những vòng hoa có thể dịu đi cơn mắt chiều tưởng chừng yên tĩnh quê nhà xanh dâu quê nhà mẹ đợi nỗi đợi chờ phi thời gian thẳng đứng cú rướn mình phi cơ rời mặt đất những cánh rừng từng xanh những dòng sông từng chảy những tệp tiền bỏng rẫy nụ cười những cái xoa tay hể hả lênh đênh thẳng đứng cái vỡ oà nước mắt Trường sa ngày tôi thả hoa vào buốt nhói có những chân trời mộng du có những cơn mây tã tướp và linh hồn cô độc thăm thẳm nhường kia mù mịt nhường kia không bao giờ bị lãng quên dẫu có thể những sự thật không được phơi dưới mặt trời sáu tư con người hoà trong nước biển vẫn điểm danh hàng ngày những cái tên kiêu hãnh của cha của mẹ của đất của trời và rưng rưng trong những trái tim vẫn yêu tổ quốc này từng bờ tre gốc rạ dẫu thua thiệt đủ bề trong tim em vẫn còn anh cái hôn ban mai dài dại xanh nồng mùi lúa anh biết thế giá ngày ấy hôn lâu thêm tí nữa có khi đỡ lạnh hơn… thẳng đứng Gạc Ma hôm nay nước lặng máu bây giờ vẫn chảy tuổi hai mươi… *NGUYỄN THIỆN:
Dạo một vòng Facebook, đọc nhiều status và xem hình ảnh, thì thấy ngày càng đông đảo người Việt nhớ đến ngày 19/1 - ngày mất Hoàng Sa . Cùng với sự kiện Tổng Liên Đoàn Lao động VN khởi công khu tưởng niệm NGHĨA SỸ HOÀNG SA, và nhiều bài báo chính thống đầy cảm xúc, năm nay rất nhiều người post lên những poster tri ân , tưởng nhớ 74 người con đất Việt vị quốc vong thân. Nhiều người khác cùng nhau đến điểm hẹn để dâng hoa, thắp hương và thực hiện nghi thức 1 phút tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ hy sinh vì Tổ Quốc. Đặc biệt, thân nhân 1 liệt sỹ Hoàng Sa có ngôi nhà mới bằng sự chia sẻ của cộng đồng. Bỏ qua những điều.... , năm nay, tôi cho rằng ngày Giỗ các anh là một ngày ấm cúng. Những người sống đã không làm tủi lòng núi sông .
*Nhà giáo ưu tú LÊ MAI THAO: Nhật Bản tăng gấp đôi số máy bay F-15 ở gần quần đảo tranh chấpBao đưa tin, Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 31/1 cho biết nước này đã tăng gấp đôi số lượng máy bay tiêm kích F-15 được triển khai ở đảo phía Nam Okinawa, gần quần đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông.  ảnh minh họaTheo bộ trên, Lực lượng phòng vệ trên không của Nhật Bản hiện có khoảng 40 chiếc F-15 tại căn cứ Naha ở tỉnh Okinawa. Hãng Jiji Press dẫn phát biểu của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nhật Bản Kenji Wakamiya tại buổi lễ cùng ngày ở căn cứ Naha nhân sự kiện thành lập một đơn vị mới bao gồm cả các máy bay chiến đấu bổ sung nêu trên, nhấn mạnh: “Đây là vị trí tiền tiêu của quốc phòng.” Bộ trên nêu rõ đã điều chuyển khoảng 20 chiếc F-15 từ căn cứ Tsuiki ở hòn đảo Tây Nam Kyushu sang căn cứ Naha. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Nhật Bản và Trung Quốc thường tranh cãi về chủ quyền quần đảo Senkaku hiện do Tokyo kiểm soát và là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Okinawa, song Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông. Các tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Trung Quốc thường hay đi vào vùng lãnh hải Nhật Bản quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư
|
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|