Sau khi anh trai Ngô Đình Diệm trở thành tổng thống thì cậu ấm Ngô Đình Nhu ngày nào được lên chức cố vấn tổng thống. Bà Trần Lệ Xuân lúc ấy nghiễm nhiên trở thành đệ nhất phu nhân bởi Ngô Đình Diệm không có vợ. Trong khi đời sống tình dục của Trần Lệ Xuân lúc nào cũng nóng bỏng như ngọn núi lửa thì Ngô Đình Nhu gần như bất lực, không màng đến chuyện chăn gối.

Bà Trần Lệ Xuân nổi tiếng đa tình
Suýt chết vì bị đánh ghen
Sau khi lấy Nhu, Trần Lệ Xuân vẫn gian díu với nhiều người thuộc giai cấp “thượng lưu” như tướng tá trong quân đội, văn nghệ sĩ, cố vấn Mỹ....Trong số đó, cô nàng đa tình này có tình cảm đặc biệt và lén lút tư tình với tướng Trần Văn Đôn. Mặc dù cả hai rất kín kẽ nhưng cây kim trong bọc lâu ngày cùng lòi ra. Chuyện Lệ Xuân ngoại tình rốt cuộc cũng đến tai Nhu, ông chồng tội nghiệp liên tục bị “cắm sừng”. Nhu giận đỏ mặt, lập tức thuyên chuyển Trần Văn Đôn ra Huế. Ông cố vấn tổng thống muốn nhờ tay ông em cố vấn miền Trung - Ngô Đình Cẩn giám sát và ngăn chặn ông tướng võ biền tiếp tục ái ân vụng trộm với vợ mình.
Trần Lệ Xuân thầm hiểu chồng muốn đưa nhân tình vào vòng phong tỏa của Ngô Đình Cẩn, người mà từ lâu có ác cảm với mình. Không thể làm gì khác, bà cố vấn tổng thống uất hận cam chịu kế ly gián của chồng. Tuy nhiên, nàng vẫn hẹn gặp tình nhân một lần trước lúc chia tay. Lưu luyến người tình, Trần Văn Đôn lập tức đồng ý.
Trước đó, Lệ Xuân đã kịp trang trí lại gian phòng ngủ của biệt điện cựu hoàng Bảo Đại ở Đà Lạt. Xuân đến Đà Lạt trước bằng máy bay rồi tướng Đôn sẽ đến chỗ hẹn bằng ô tô riêng ngày hôm sau. Đúng 10h đêm, Đôn ngồi trên xe vượt cửa biệt điện rồi chạy vòng quanh trên con đường rải sỏi và dừng lại trước thềm. Lệ Xuân từ trong chạy ra, tay bắt mặt mừng, rồi cả hai cùng dìu nhau vào bên trong.
Đang lúc cả hai quấn vào nhau như cặp rắn hổ mang thì bên ngoài một chiếc xe hơi gắn bảng đỏ hai sao lao nhanh qua cửa biệt điện. Chiếc xe hung dữ húc tung cả barie chắn cổng. Người lính gác không kịp trở tay thì chiếc ô tô đã phóng đến tận thềm. Một thiếu phụ ăn vận sang trọng nhanh chóng mở cửa xe bước xuống. Tay người này xách một chiếc ví lớn đi thẳng vào bên trong.
Mấy phút sau, người lính gác cổng bỗng nghe tiếng súng nổ chát chúa, rồi thấy thiếu phụ khi nãy tay cầm súng lục hớt hải chạy ra. Cô ta thúc giục tài xế cho xe lao đi. Người lính gác vội chạy vào bên trong, đến cửa phòng ngủ thì thấy một cảnh tượng bất ngờ. Bà cố vấn tổng thống gần như lõa lồ, một tay ôm vai bê bết máu. Trong khi đó, tướng Đôn thì mặt mày tái mét, đầu tóc rối bù, đang gọi bác sĩ. Vừa thấy người lính gác, Trần Văn Đôn căn dặn: “Mày có nghe thấy cũng không được nói lại với ai. Bất cứ ai hỏi cũng phải trả lời là không biết gì hết. Phải tuyệt đối giữ bí mật. Đây là mệnh lệnh”. Vừa lúc đó, xe cứu thương cũng vừa đến. Trần Lệ Xuân vừa đau đớn vì vết thương, vừa tức giận vì bị phá ngang cuộc hoan lạc.
Sau này, để giải thích cho vết thương trên tay người tình, trước mặt các bác sĩ quân y, Trần Văn Đôn nói rằng, bà cố vấn cưỡi ngựa tập bắn súng bị tai nạn. Bác sĩ khám rất kỹ rồi kết luận, vết thương không nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên do đạn bị kẹt ở xương vai, phải mổ lấy ra. Cần có một nhà giải phẫu giỏi chuyên môn để tránh để lại sẹo cho phu nhân Lệ Xuân.
Lập “tòa án” gia đình để “xử” chị dâu
Tai nạn bất ngờ của Trần Lệ Xuân được thông báo ngay về văn phòng cố vấn chính trị phủ tổng thống. Thoạt tiên, Nhu ngỡ vợ mình bị rủi ro trong lúc tập bắn. Vì từ ngày phát động phong trào phụ nữ bán quân sự, Lệ Xuân thường xuyên tập bắn súng, cưỡi ngựa cùng cô con gái đầu lòng - Ngô Đình Lệ Thủy. Nhu lập tức ra lệnh đưa ngay một máy bay đặc biệt lên Đà Lạt chở vợ bay thẳng sang Manila, đến một bệnh viện hiện đại của Mỹ để cứu chữa.
Ngay hôm Xuân đáp máy bay đi Manila thì Nhu được thuộc hạ mật báo đầy đủ về chuyện Trần Lệ Xuân bị vợ của tướng Đôn bắn vì ghen. Nhu choáng váng như bị cái tát đau điếng. Một người có đầy mưu mô, trăm phương ngàn kế như Nhu, không hề nao núng trước mọi khó khăn thử thách trên chính trường nhưng đành phải bó tay bất lực với người vợ liên tục ngoại tình hết lần này sang lần khác. Chính vì chuyện này mà Nhu vùi đầu vào công việc, chìm đau khổ và nỗi nhục vào khói thuốc phiện.
Trong lúc Nhu cố tình giả điếc, không có phản ứng gì sau vụ Lệ Xuân bị đánh ghen ở Đà Lạt thì người em lãnh chúa miền Trung từ Huế tức tốc bay vào Sài Gòn. Cẩn đòi triệu tập hội nghị gia đình để từ bỏ người chị dâu dâm loạn đả làm ô danh dòng họ Ngô. Lúc ấy, Diệm cũng vừa ở Mỹ về và người anh cả tổng giám mục Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long cũng được mời lên Sài Gòn. Ngô Đình Cẩn chủ trì phiên “tòa” xử án vợ Ngô Đình Nhu, trước sự im lặng tuyệt vọng của ông chồng bị mọc sừng.
Tại buổi họp gia đình, Cẩn tuyên bố gia đình họ Ngô không thể để một người đàn bà tác yêu tác quái, bôi tro trát trấu lên mặt tất cả những người trong dòng họ. Đường đường là một dòng họ cầm quyền một nước mà để cho thiên hạ cười vào mặt vì một người đàn bà. Chẳng lẽ còn đức Cha (tức Ngô Đình Thục), anh tổng thống (Ngô Đình Diệm) cũng sợ Lệ Xuân?. “Hay là chị ta có bùa mê, thuốc lú làm cho ai nấy mụ người, mê mệt cả rồi? Các anh không nhớ lúc mới cưới chị Xuân về, anh cả tổng đốc Ngô Đình Khôi xem tướng đã nói: “Thứ đàn bà này rồi về sau phá hại cả họ Ngô cho mà coi.” Giờ nên cơ sự như này, chẳng lẽ chịu thua à?, Ngô Đình Cẩn nói.
Thấy mọi người không nói gì, lãnh chúa miền Trung tức tối nhổ bã trầu ra nền nhà rồi nói tiếp: Các anh có nghe ở ngoài người ta nói ra sao không? Tụi lực lượng đặc biệt miền Trung báo cáo với tôi rằng bà cố vấn muốn làm đệ nhất phu nhân Việt Nam nên quyến rũ cả anh tổng thống. Lúc này, Diệm đỏ mặt lên tiếng phủ nhận và khuyên Cẩn không nên nghe lời thiên hạ. Ngồi nghe các anh em nói, Nhu im lặng đứng lên buồn rầu bước đi.
Sau hội nghị gia đình, Nhu viết một bức thư dài cho Trần Lệ Xuân, kể lại những lời lẽ đã bàn bạc của anh em nhà họ Ngô. Nhu để phần kết luận cho vợ quyết định. Lúc này, Lệ Xuân đã được mổ lấy viên đạn ra và đang chờ vết thương lành lại. Đọc xong bức thư, bà cố vấn tỏ ý muốn đi Pháp một thời gian tĩnh dưỡng cho lại sức và để có thời giờ suy nghĩ rồi trả lời chồng. Từ Manila, Lệ Xuân đáp máy bay sang Paris. Sự vắng mặt của vợ gần một tháng khiến Nhu phần nào nguôi ngoai chuyện vợ ngoại tình. Rồi một bức thư khá dài từ Pháp được gửi về, với những lời thiết tha ân hận, van xin tha thứ và hứa sẽ không tái phạm. Nhu cảm động bỏ qua tất cả, đánh điện gọi vợ về.
Những điều chưa biết về “khúc phim đánh ghen” Sau này bà phu nhân của tướng Đôn thuật lại: Biết ông tướng nhà tôi thế nào cũng hẹn hò với con mụ ấy trước ngày đi Huế, tôi đã để ý canh chừng. Rồi tôi thấy ông lấy xe nhà đi bảo là đi công tác. Tôi đoán ngay là hai người lén lút hẹn hò ở Long Hải hay Đà Lạt nên cho người lấy xe bám theo. Quả nhiên tôi đoán không sai. Khi tôi tông cửa bước vào thì hai người đang trần truồng cuốn vào nhau như đôi rắn hổ mang. Ngay lập tức, bà phu nhân tướng Đôn rút khẩu súng mang theo, chĩa thẳng vào Lệ Xuân và quát: “Muốn sống thì đứng im!”. Tướng Đôn sợ xảy ra đổ máu bèn lao đến toan tước lấy khẩu súng để cho người tình có dịp thoát thân. Tức giận, vợ tướng Đôn đưa tay siết cò. Súng nổ, Lệ Xuân ôm lấy một bên vai và gục xuống. “Thật tình tôi định nhắm bắn vào chỗ kín cho mụ ấy bỏ thói lang chạ với chồng người khác. Nhưng tại vì run tay để mũi súng chếch lên phía trên, đạn trúng vào vai. Số mụ ấy còn may lắm, đạn chếch xuống tim là coi như mụ ấy đi đời nhà ma. Nhìn thấy máu tôi hoa cả mắt, rồi bỏ mặc mụ ta cùng ông chồng bội bạc, chạy ra chỗ đậu xe và giục tài xế phóng đi thật nhanh”, phu nhân của tướng Đôn thuật lại. 'Madam Nhu Trần Lệ Xuân': Cuộc gặp gỡ với ông Ngô Đình NhuÔng Nhu đang tiến gần đến tuổi ba mươi khi được giới thiệu với cô Lệ Xuân mười lăm tuổi vào năm 1940. Ngôi trường của bọn trẻ ở Hà Nội nằm kế bên dinh thự của quan toàn quyền Pháp. Tòa nhà màu nghệ tây vẫn còn đến hôm nay nhưng được dùng làm văn phòng và phòng tiếp tân của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào thời Lệ Xuân, ngôi trường được đặt tên theo Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương từ 1911 đến 1913. Mặc dù Sarraut được ca ngợi bởi việc thúc đẩy cải cách giáo dục, động cơ của ông, từ căn để, là một thí dụ khó chịu khác về sự thắng thế của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Ông tin rằng người Việt không thể được khai hóa cho đến khi tư tưởng, phong tục tập quán, và những thể chế của họ được phản ánh theo nước Pháp. Đối với Albert Sarraut, người chiến sĩ tự xưng của công cuộc cải cách giáo dục bản địa, người Việt Nam “sẽ xứng đáng được giải phóng khỏi sự cai trị của Pháp chỉ khi họ không còn khao khát là người Việt, nhưng là người Pháp da vàng". Lệ Xuân được dạy nói, đọc, viết, và suy nghĩ như một nữ sinh Pháp bé nhỏ. Cô học thuộc thứ tự các vị vua nước Pháp và ngày tháng tất cả những cuộc chiến giữa Pháp và Anh. Cô có thể đọc vanh vách những cánh rừng và những ngọn núi tuyết phủ mà thậm chí chưa từng nhìn thấy chúng. Cô làm bài kiểm tra về thi ca và chính tả tiếng Pháp nhưng không được học về di sản của đất nước mình. Lệ Xuân có bổn phận phải quên cô là người Việt và được khích lệ để tin rằng định mệnh của cô là trở thành một phần của một nền văn hóa khác, ưu việt hơn. Giờ đây khi gia đình đã trở lại Hà Nội và bọn trẻ bận bịu với trường lớp, người phụ nữ của gia đình, bà Chương, có thể tận hưởng chút ít tự do. Thoát khỏi miền thôn quê truyền thống, áp lực sinh con đẻ cái, và sự can thiệp của mẹ chồng, bà Chương có thể khám phá ý nghĩa của việc là một người phụ nữ Việt trong một kỷ nguyên của sự thể nghiệm và thậm chí buông thả. Là điều không thể tưởng nghĩ chỉ một thế hệ trước, phụ nữ Việt giờ đây có thể đứng cùng chồng ở những nơi công cộng như nhà hàng và vũ trường.  | Bà Trần Lệ Xuân và chồng - ông Ngô Đình Nhu. Ảnh tư liệu. |
Không phải bó chặt bộ ngực sau tấm áo chùng, bà Chương đã có thể trưng diện sắc vóc của mình. Bà có thể mặc những bộ quần áo đặt may, chạy theo những mốt mới nhất, như áo váy có viền ren. Cửa hàng bách hóa Godard ở góc phố Paul Bert bán bít tất lụa, mũ, và kẹp tóc. Sự thiên vị của người Pháp với gia đình ông Chương mang lại cho họ phương tiện kinh tế để theo đuổi tất cả những thú vui Âu châu ở Hà Nội. Một chiếc Mercedes có tài xế riêng đưa họ đi xung quanh thành phố; họ ăn trong những nhà hàng Trung Hoa trang nhã nhất thành phố và xem những bộ phim Mỹ và Pháp ở rạp xi nê. Rạp Palace hiện đại và đắt đỏ nhất trong số bảy rạp chiếu bóng ở Hà Nội, nhưng ngay cả người Việt nghèo nhất ở thành thị vẫn có thể xem phim. Có một rạp Trung Hoa bên kia thành phố, nơi mọi người ngồi xổm cùng nhau trên những thanh gỗ, vươn cổ ngoẹo đầu để nhìn rõ màn ảnh. Có một loại vé thậm chí rẻ hơn nữa dành cho những ai sẵn lòng đứng ở phía ngược màn hình và xem những hình ảnh lập lòe từ sau ra trước. Vào những chiều thứ Ba, bà Chương mở tiệc chiêu đãi ở nhà. Khách là người Việt và người Pháp - và sau năm 1939 là người Nhật. Đàn ông và đàn bà thoải mái trộn lẫn vào nhau sau những tuần bánh và rượu cốc tai trong phòng khách. Tất cả những nhân vật quan trọng, hoặc một ngày nào đó sẽ quan trọng, đều tham dự. Tiếng cười và trò chuyện trôi lơ lửng trên những ngọn đèn chùm pha lê và cuộn lên cầu thang đến chiếu nghỉ nơi những đứa trẻ đang thu mình, nghe lỏm chuyện người lớn bên dưới. Bà Chương đang thích nghi với truyền thống, có từ thời Cách mạng Pháp, của những phụ nữ tinh anh chủ trì những cuộc họp xa lông, nơi khách khứa có thể tham gia vào những cuộc tranh luận đầy trí tuệ về nghệ thuật, văn chương, và thậm chí chính trị. Những người đàn ông quyền thế luôn luôn có mặt trong những cuộc hội họp tại nhà bà Chương, nhưng những quan điểm về bình đẳng nam nữ và nữ quyền đã trở thành phương tiện biểu đạt để tranh biện về một đề tài khác, một đề tài quá nguy hiểm để bàn luận công khai: Giải phóng Việt Nam khỏi chủ nghĩa thực dân Pháp. Ở đó những cuộc tranh luận sôi nổi về vai trò thích đáng của phụ nữ, giá trị của giáo dục đối với nữ giới, và sự cân bằng giữa tổ ấm gia đình và đời sống công cộng, nhưng tại căn để của tất cả những câu hỏi này là một vấn đề lớn lao hơn nhiều: Làm thế nào để Việt Nam có thể trở nên hiện đại và tự do? Tôi [1] đã kỳ vọng tìm được nhiều thông tin về những cuộc họp mặt thứ Ba của bà Chương trong những văn khố của French Sureté, hay mật vụ Pháp lừng danh, nhưng thay cho tin tức tình báo về những con người nguy hiểm bà đã tiếp đãi và những tư tưởng nguy hiểm đã luận bàn, tôi tìm thấy một sự mô tả thô tục về cuộc sống của vợ chồng ông Chương. Không có gì trong những tập hồ sơ tiếng Pháp xác nhận ý tứ về “sự vinh quang” mà bản cáo phó của ông bà Chương mô tả rất nhiều năm sau. Sự thực hoàn toàn trái lại. Tướng quân đội Pháp Georges Aymé miêu tả cha bà Lệ Xuân, ông Chương, là “người khá còi cọc,” một khí lực ẻo lả không làm thỏa mãn được vợ mình. Lời tử tế nhất tôi có thể tìm thấy về ông Chương trong văn khố miêu tả ông “thông minh, đúng hơn là tinh tế”. Điều đó có vẻ khác xa bức chân dung về một nhà ngoại giao lỗi lạc vào lúc chết. Nhưng mô tả về bà Chương làm tôi sốc nhất. “Vợ ông Chương đẹp và rất hấp dẫn. Giữa người An Nam với nhau, người ta biết rằng bà là người chỉ huy, điều khiển chồng mình". Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Ngay khi hai bên thái dương đã điểm hoa râm, bà Chương luôn trông có vẻ vương giả và tự chủ trong những tấm hình mà tôi đã xem. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy một tấm hình nào lột tả khía cạnh hoang dại trong tính cách của bà - mà theo mật vụ Pháp, "nổi tiếng khắp Đông Dương". Bà cũng nổi tiếng không kém với “tham vọng lì lợm cũng như tính cách coucheries utilitaires - lang chạ với những người có uy thế thuộc bất kỳ quốc tịch nào". Những báo cáo tiếng Pháp đã điểm danh những tình nhân của bà, bao gồm một con người xuất chúng và nguy hiểm nhất. Một thời gian sau khi đến, vào năm 1939, nhà ngoại giao Nhật Bản Yokoyama Masayuki đã phản bội người vợ Pháp của ông vì bà Chương; đổi lại, bà đã được miêu tả là còn hơn cả nhân tình của ông. Bà Chương đã trở thành “cánh tay mặt” của lãnh sự Nhật ở Hà Nội. Đối với người Pháp, việc một phụ nữ thông minh và tham vọng như bà Chương lựa chọn người Nhật thay vì người Pháp là một dấu hiệu đáng ngại. Bà đang làm những gì có thể để giúp giữ vững vị thế tốt đẹp của gia đình trên cồn cát chính trị biến động không ngừng. Đủ thứ luận điệu đã được truyền đến Paris trên những tờ giấy vỏ hành phai màu và được lưu trữ như những mẩu chuyện tầm phào của các nhà ngoại giao cho hậu thế. Theo một lời đồn thổi đã trở thành câu chuyện phiếm bên ly cà phê của nhiều người nhiều năm về sau, trong số nhiều nhân tình của bà Chương ở Hà Nội có một người đàn ông tên Ngô Đình Nhu. Ông Nhu đang tiến gần đến tuổi ba mươi khi được giới thiệu với cô Lệ Xuân mười lăm tuổi vào năm 1940. Là một người đàn ông độc thân với gia thế tốt đẹp ở Huế, dáng vẻ điển trai của ông càng tăng thêm cùng với tuổi tác và trải nghiệm. Họ đã gặp nhau trong khu vườn nhà ông Chương ở Hà Nội. Ông Nhu vừa trở về Việt Nam sau gần một thập niên học hành ở Pháp. Tấm bằng đầu tiên ông có được là về văn chương. Sau đó, trong khi đang theo học ngành quản thủ thư viện, ông đã lấy một bằng cấp về cổ tự học, từ trường Pháp điển quốc gia danh giá ở Paris. Ông Nhu đang bắt đầu một vị trí tại cơ quan văn khố Hà Nội khi ông gặp Lệ Xuân. Tất cả những điều đó có vẻ mang tính sách vở và nhỏ nhặt với một người giàu kinh nghiệm, nhưng với Lệ Xuân, bấy giờ vẫn đang học trung học và chưa bao giờ ra khỏi đất nước, trải nghiệm ở hải ngoại của ông Nhu mang lại cho ông một nét hấp dẫn kỳ lạ. Một cuộc hôn nhân sẽ giải phóng cô khỏi những nỗi bẽ mặt hàng ngày mà gia đình cô gây ra. Có vẻ như với Lệ Xuân, một người đàn ông ham mê sách vở hơn chính trị sẽ là nỗi khuây khỏa sau những trò chơi hai mặt và phản bội mà bà đã chứng kiến trong cuộc hôn nhân của chính cha mẹ mình. Việc ông Nhu mỉm cười nhiều hơn nói chuyện có vẻ là một biểu hiện tốt nữa. Kết hôn là bước tiếp theo với một cô gái có giáo dục, và Lệ Xuân không nghĩ cô hơn ông Nhu về điểm này. Ngặt nỗi ông Nhu thuộc về một gia đình Công giáo kiên trung. Trong tầng lớp tinh anh Việt Nam thì người Công giáo chiếm thiểu số và có phần kỳ lạ. Tuy vậy, điều đó khá tốt với kỳ vọng của một người con gái thứ như cô. Phần 1, phần 2, phần 3, phần 4, phần 5, còn tiếp... Chú thích: [1]: Tôi: là nữ tác giả Mỹ Monique Brinson Demery (chú thích của tòa soạn). (Trích sách Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng) 'Madam Nhu Trần Lệ Xuân': Bé gái bị mẹ ngờ vựcBan đầu, việc giáo dưỡng hàng ngày bé Lệ Xuân được giao phó cho các bảo mẫu. Ngay cả người giúp việc trong nhà cũng hiểu địa vị thấp kém của đứa trẻ mà họ trông nom, vì vậy chủ yếu họ bỏ mặc cô bé. Ông Chương đã được đề bạt một công việc mới gần thành phố Cà Mau, gần mũi cực Nam của đất nước, cách Hà Nội phồn hoa đô hội nhiều ngàn cây số. Đó là một chức vụ nổi bật trong chính quyền thực dân Pháp. Mặc dù được thăng chức có nghĩa là phải xa rời những thú vui trần thế ở Thủ đô Hà Nội, lên tới chức vụ cao như thế là một thành tựu nghề nghiệp phi thường đối với một người Việt bản địa. Chỉ có một mất mát nho nhỏ: con gái thứ hai của ông Chương, bé Lệ Xuân, sẽ bị bỏ lại. Như một tờ biên lai ở phòng giữ đồ, Lệ Xuân là vật trao đổi giữa cha và ông nội cô. Đó là một cách biểu hiện tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ ông và là bằng chứng về ý định trở lại của ông, nhưng thật ra nó không gì hơn là một cử chỉ tượng trưng để làm mẹ ông hạnh phúc. Nếu việc giữ đứa bé là một ơn huệ đối với bà, đó là một cái giá không lớn gì mấy. Một khóm những ngôi nhà mái ngói đỏ vây quanh một cái sân làm nên cơ ngơi nhà họ Trần không phải là nơi tồi để một bé gái lớn lên. Vị tộc trưởng, ông nội của Lệ Xuân, là một đại địa chủ, và mỗi người trong gia đình ông đều giống như một nhân vật lừng lẫy ở địa phương, trong vùng quê xanh tươi của miền Bắc Việt Nam. Bà của Lệ Xuân là người có học vấn cao, đó là một ngoại lệ đối với một phụ nữ Việt Nam ở thời đại và tuổi tác của bà. Thậm chí khi đã già, và thị lực đã giảm sút, bà vẫn tiếp tục đọc nhiều đoạn văn chương Việt Nam kinh điển, hoặc nghe người khác đọc chúng.  | Bà Trần Lệ Xuân. |
Những câu chuyện Việt Nam đầy ắp hình tượng những phụ nữ mạnh mẽ, thông minh, và kiên quyết, nhưng chúng không phải lúc nào cũng có một kết cục đẹp. Phải chăng chính ở đây bé Lệ Xuân đã được nghe những đoạn Truyện Kiều, một tuyệt tác trường thi Việt Nam được yêu thích và trích dẫn nhiều – câu chuyện về một thiếu nữ con nhà danh giá, tài sắc kiêm toàn? Đố kỵ với nàng, định mệnh đã bức bách nàng từ bỏ tình yêu đích thực của đời mình và tự bán thân làm kỹ nữ để chuộc cha khỏi chốn lao tù. Kiều đã vùng vẫy trong một thế giới bất công, nhưng nàng vẫn là hình tượng của sự vẹn toàn và chính trực. Không chỉ là một nữ nhân vật bi kịch đơn thuần, nàng tượng trưng cho dân tộc Việt, bị kẹt cứng giữa sự suy đồi đạo đức trong cơn biến động chính trị. Mặc dù câu chuyện đã có hàng trăm năm tuổi, năm 1924, năm Lệ Xuân chào đời, Kiều đã được trang trọng vinh danh là nhân vật văn hóa quốc gia. Người phụ nữ như là nạn nhân đã chính thức trở thành nhân vật được yêu thích nhất. Bà nội của Lệ Xuân tất nhiên không coi mình là nạn nhân của bất kỳ cái gì cả. Bà chủ trì một gia đình rộng lớn gồm bà và hai người vợ khác và con cái của tất cả họ. Ngoài con trai cả của bà, ông Chương, bà đã sinh cho chồng ba con trai và hai con gái nữa, sau đó bà tự coi như đã hoàn thành mọi nghĩa vụ làm vợ của mình. Để dứt khoát rõ ràng về điểm này, bà đơn giản đã kê một chiếc gối ôm giữa giường ngủ của hai vợ chồng. Bà cũng là người đã giới thiệu vợ hai cho chồng, bà này đã sinh cho ông thêm bảy người con nữa. Để đề phòng người vợ hai giành lấy quá nhiều quyền hành, bà đã đưa về cô vợ thứ ba cho ông. Mỗi một người vợ và con cái họ có một vị trí nhất định trong thứ bậc tôn ti gia đình. Kỹ năng của bà, vị nữ chúa, thể hiện trong việc chưa từng có ai trong số họ ra mặt chống đối lẫn nhau. Ngôi nhà của ông bà nội Lệ Xuân là nơi lý tưởng để quan sát những vai trò rời rạc và mâu thuẫn nhau của những phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là thành viên của tầng lớp tinh anh. Tất nhiên, có một sự nhấn mạnh rõ ràng về những quy tắc hành xử theo Khổng giáo. Những bà vợ và con dâu có bổn phận tỏ ra vâng lời và phục tùng. Nhưng đằng sau những cánh cửa đóng kín của tòa nhà, một thực tại khác lấn thế. Những vấn đề thực tế, như ngân sách gia đình, được phó mặc cho phụ nữ. Một điều được ngầm hiểu, nếu không được bàn tới, là phụ nữ nắm giữ thực quyền trong gia đình. Nếu gia đình là một quốc gia, người chồng sẽ là Quốc trưởng trên danh nghĩa, phụ trách các mối quan hệ ngoại giao. Người vợ sẽ là Bộ trưởng Nội vụ và kiểm soát ngân khố. Ban đầu, việc giáo dưỡng hàng ngày bé Lệ Xuân được giao phó cho các bảo mẫu. Ngay cả người giúp việc trong nhà cũng hiểu địa vị thấp kém của đứa trẻ mà họ trông nom, vì vậy chủ yếu họ bỏ mặc cô bé. Những bảo mẫu giao Lệ Xuân cho những người làm vườn chơi đùa như một món đồ chơi. Cũng thật tình cờ mà những người làm vườn tại đây là những tên trộm và du côn vặt vãnh ở địa phương và đã bị tòa phạt vạ bằng lao động công ích cho cộng đồng hay là cho người đứng đầu cộng đồng, chính là ông nội của cô. Cô lẽo đẽo theo chân họ khi họ chăm sóc những con vật. Đôi lúc cô thậm chí đã tắm rửa giữa đàn gia súc. Trong vòng một năm sau khi cha mẹ rời đi, cô gái bé nhỏ ngã bệnh gần chết. Bà Nhu luôn luôn nói rằng cha mẹ không bao giờ đoái hoài chi đến mình, nhưng bà thừa nhận rằng ông bà Chương đã trở về từ nhiệm sở mới ở vùng cực Nam ngay khi họ nghe tin. Đó không thể nào là một chuyến đi dễ dàng. Thời bấy giờ chưa có đường xe lửa kết nối cả nước, và khoảng cách giữa các tỉnh là quá xa xôi để đi đường bộ. Phương tiện di chuyển hiển nhiên nhất giữa miền Nam và miền Bắc là tàu hơi nước dọc bờ biển. Trong mười ngày đêm, bé Lệ Xuân lơ lửng giữa sự sống và cái chết. Khi đã về đến nhà, mẹ của Lệ Xuân không để bé rời khỏi lòng bà. Nhưng việc đó, ít ra như cách hiểu của cô về sau này, không phải vì tình yêu, hay thậm chí sự quan tâm với đứa con gái thứ. Đó là một lời trách cứ nhắm vào bà nội. Trên vũ đài chính trị khốc liệt của gia đình, đứa trẻ bệnh hoạn đã trở thành một lợi khí sắc bén của thiếu phụ Chương đối với mẹ chồng bà. Lệ Xuân đã hồi phục sức khỏe. Cô vẫn cứ gầy gò trong suốt thời thơ ấu, nhưng những gì thể chất khiếm khuyết, cô đã gắng bù đắp lại hoàn toàn bằng ý chí. Lệ Xuân cần phải trở nên gai góc. Bệnh tật thời thơ ấu của Lệ Xuân khiến mẹ cô ngờ vực con gái giữa của bà hơn bao giờ hết. Trước khi bà ra đi, Lệ Xuân là một hài nhi tóc đen nhánh với đôi má bầu bĩnh. Bé gái da bọc xương, đôi má hõm sâu bà gặp lúc về nhà có thể dễ dàng là con của một người hầu trong gia đình hay một nông dân trong vùng. Nỗi nghi ngờ con mình bị đánh tráo đã giày vò bà Chương suốt phần đời còn lại của mình. Hai đứa trẻ kia biết điều này và đã lợi dụng nó để trêu chọc người chị em của chúng là con của bà bảo mẫu. Và bà Chương đã dùng điều đó như một lý cớ để tự tha thứ cho mình vì đã không yêu con gái giữa như hai đứa trẻ kia. Khi lớn lên, cô gái nhỏ thấy mình như thể "vật nhắc nhở phiền hà đối với mẹ cô, một đối tượng của sự ngờ vực bệnh hoạn [và] xung đột trong gia đình" Thứ sáu, 5/2/2016 | 00:00 GMT+7 'Madam Nhu Trần Lệ Xuân': Cuộc vượt cạn của người mẹ hoàng tộcNgười thiếu phụ đầm đìa mồ hôi và máu đang nằm trên bàn là bà Chương, công chúa Nam Trân, một thành viên của hoàng gia. Cuốn sách Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng về cuộc đời bà Trần Lệ Xuân (bà Nhu, 1924-2011) vừa ra mắt độc giả. Bà Trần Lệ Xuân là vợ của ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính quyền ở miền Nam Việt Nam trước đây. Nhân dịp sách phát hành, VnExpress trích đăng chương ba và chương bốn của cuốn sách dày 16 chương này. Các phần trích đăng do tòa soạn đặt tên. Phần 1: Cuộc vượt cạn của người mẹ hoàng tộc Càng tìm hiểu về những năm thiếu thời của bà Nhu, ánh hào quang của quá khứ gia đình bà càng kém vẻ lộng lẫy. Những gương mặt tươi cười của đôi vợ chồng già nua trong bức hình trên một tờ báo ở Washington năm 1986 thật khó lòng hòa hợp với bức chân dung u ám của ông bà Chương vốn đã xuất hiện. Những mảnh ghép hồi ức "khốn khổ" về thời thơ ấu của bà Nhu gắn lại đúng chỗ khi tôi hiểu rằng không ai, tất nhiên ngoài song thân của bà, từng mảy may nghĩ đến việc một ngày nào đó bé gái nhỏ xíu này, chào đời trong một bệnh viện Hà Nội vào ngày 22 tháng 8 năm 1924, rốt cuộc sẽ trở thành một cái gì đó quan trọng. Một ca sinh nở truyền thống sẽ diễn ra tại nhà với một bà mụ, người sẽ nói rằng sinh linh này không sẵn lòng để chào đời vì lẽ đứa bé nằm ngôi ngược, vì vậy mà không chịu trượt xuống ống sinh. Bà sẽ phản đối kẹp forcep, những dụng cụ nhỏ bé và khoa học hiện đại, như là sự can thiệp vào thiên ý. Một bà mụ sẽ bỏ mặc cho đứa bé, xanh xao yếu ớt, câm nín, và bất động, quay trở về bất luận giao lộ nào nằm đâu đó giữa thiên đường và trần thế dành cho những linh hồn chưa được đầu thai lang thang phiêu dạt.  | Bìa sách về chân dung bà Trần Lệ Xuân. Sách do Công ty Sách Phương Nam liên kết với Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn ấn hành. |
Nhưng không có bà mụ nào trong ngày hôm đó cả. Đứa bé sẽ là một bé trai. Người mẹ chắc chắn điều đó đến độ bà đã thu xếp việc sinh nở trong bệnh viện. Bà đã trải qua nỗi khủng khiếp của cơn đau đẻ kéo dài, biết rằng điều đó xứng đáng - vì một đứa con trai. Vị bác sĩ người Pháp có lẽ đã lo sợ sẽ bị khiển trách nếu có điều gì bất thường xảy ra. Đó là lần đầu tiên ông đỡ đẻ một em bé Việt kể từ khi ông đặt chân đến Đông Dương, nhưng đây là một ca đặc biệt. Người thiếu phụ đầm đìa mồ hôi và máu đang nằm trên bàn là bà Chương, công chúa Nam Trân, một thành viên của hoàng gia. Nhan sắc tuyệt mỹ của người con gái mười bốn tuổi này thật là hiếm hoi đến độ về sau nhờ đó bà đã giành được một tấm huân chương phong tặng bởi những người Pháp say mê bà, những người đã đặt cho bà biệt danh “Viên ngọc trai Á châu". Mặc dù được dạy về nghệ thuật nội trợ, cũng như ca hát và thêu thùa, bà không bao giờ cần động đến dù chỉ một ngón tay mảnh dẻ, ngoại trừ để rung chuông gọi người hầu. Nhiệm vụ quan trọng nhất của bà với tư cách người vợ là sinh cho chồng một đứa con trai thừa tự. Chồng bà xuất thân từ một gia đình địa chủ quyền thế. Là con trai cả của một thống đốc tỉnh ở Bắc Kỳ thuộc Pháp, ông Chương đã được ban cho mọi điều tốt đẹp nhất trần đời, từ một nền giáo dục Tây phương cho đến một cô dâu thuộc dòng dõi hoàng tộc. Dòng họ Trần của ông vốn có quan hệ họ hàng với nhà vua, thành ra ông Chương cũng là một người bà con xa với vợ ông. Vị bác sĩ người Pháp hẳn đã cảm thấy áp lực ghê gớm để cứu lấy cái hình hài tái nhợt cuối cùng đã lộ diện giữa một lớp màng nhầy nhụa huyết dịch. Đây là cơ hội để vị bác sĩ chứng tỏ bản thân - và sự vượt trội của nền y học Tây phương. Ông nắm chặt hai mắt cá chân của đứa bé và đét liên hồi vào cặp mông bé xíu cho đến khi những tiếng khóc đầu tiên bật ra. Tiếng khóc ấy là lời chào đầu tiên của đứa bé sơ sinh với thế giới. Đó là một bé gái. Một người mẹ trẻ mười bốn tuổi như bà Chương đã làm gì với đứa con mới đẻ, một nhúm thịt với gương mặt đỏ hỏn, đang khóc toáng lên trong tay mình? Khi vừa mới chào đời, chẳng có mấy lý do để người ta tin rằng số phận của bà sẽ khác với hàng bao thế kỷ phụ nữ đi trước bà. Trong truyền thống Khổng giáo Á Đông, con trai được chờ đợi sẽ chăm sóc cha mẹ khi già yếu, và chỉ có con trai mới là quan trọng trong tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt. Tục ngữ Việt Nam truyền thống đã thâu tóm nỗi thất vọng của việc sinh con gái: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", hay “Một trăm con gái không bằng hòn dái con trai". Vào ngày cưới, người đàn ông đưa về gia đình một vật sở hữu quý giá hơn tất thảy: một cô con dâu, người sẽ chỉ được giải thoát khỏi vai trò người hầu thật sự của gia đình chồng, đặc biệt là mẹ anh ta, chỉ đến khi cô có con trai. Vòng luẩn quẩn cứ thế tiếp diễn.  | Bà Trần Lệ Xuân (phải) và mẹ là bà Thân Thị Nam Trân. Ảnh tư liệu. |
Bà Chương vốn đã sinh một cô con gái rồi. Con đầu lòng của bà, Lệ Chi, chào đời không đầy hai năm trước đó, và bà Chương đã tự thuyết phục bản thân rằng đứa thứ hai này sẽ là con trai. Bà tin chắc điều đó đến mức đã mua về nhiều đồ chơi và quần áo của con trai. Đứa con gái thứ hai này chỉ làm trì hoãn ngày tự do của bà Chương mà thôi. Cho đến khi sinh được con trai, bà là người thấp cổ bé họng nhất trong nấc thang thứ bậc của gia đình chồng. Hơn thế nữa, mẹ chồng bà đã đưa ra một vài lời đe dọa đáng ngại. Bà muốn con trai bà, ông Chương, lấy vợ lẽ nếu đứa thứ hai này không phải con trai. Ông Chương, suy cho cùng, là con trai trưởng của nhà họ Trần danh giá - ông nên tận dụng mọi cơ hội để truyền thừa sự vĩ đại của gia đình bằng huyết nhục của chính mình. Tục đa thê đã là một phần của truyền thống văn hóa ở Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Một người phụ nữ chỉ biết sinh con gái, dù có là đứa con dâu trung thành hay không, cũng chẳng có mấy giá trị. Những thất bại nên được xóa sạch càng nhanh càng tốt. Đó là một viễn cảnh buồn thảm đối với một phụ nữ mười bốn tuổi như bà Chương. Nếu chồng bà lấy vợ hai, và nếu người đó thành công ở nơi bà đã thất bại, là sinh cho gia đình chồng một đứa con trai, bà Chương và các con gái bà sẽ phải lấm la lấm lét sống phần đời còn lại trong sự phục tùng người khác. Chẳng bao lâu sau bà đã hạ quyết tâm rằng bà sẽ phải làm việc này thêm một lần - và lại một lần nữa - cho đến khi bà có con trai mà bà chờ đợi. Và đứa con trai người ta chờ đợi nơi bà. Đứa con gái mới sinh được đặt tên là Lệ Xuân. Mặc dù bấy giờ không phải mùa xuân. Tháng Tám ở Hà Nội thường là thời gian bắt đầu vào thu, và năm đó cũng không là ngoại lệ. Có vẻ như những ngày đầu mùa thu đã thổi chút se lạnh vào thành phố, mang lại một không khí tươi mát sau những ngày hè dài oi bức. Những nhành liễu rủ chạm khẽ mặt hồ, mời gọi làn gió nhẹ khiêu vũ bồng bềnh trong những tán lá, và cư dân thành phố đổ ra ngoài trời thoáng đãng để tận hưởng mùa ôn hòa ngắn ngủi trước khi những cơn gió lạnh từ Trung Quốc tràn qua. Bé Lệ Xuân và mẹ không được hưởng một phút giây nào của niềm hạnh phúc ấy. Truyền thống Việt Nam bắt trẻ sơ sinh và người mẹ phải gần như nằm liệt giường trong một căn phòng tối tăm, ít nhất ba tháng sau khi sinh. Căn phòng chẳng khác nào một cái kén dành cho người mẹ và em bé. Ngay cả những thói quen tắm táp cũng bị hạn chế. Phong tục này xuất phát từ những mối ưu tư thực tế liên quan đến những rủi ro tử vong của trẻ sơ sinh trong vùng châu thổ nhiệt đới, nhưng trên thực tế cái khung cảnh u ám sau khi sinh ắt hẳn khiến người ta ngộp thở. Ngoại trừ thầy lang và thầy bói là những nhân vật không thể thiếu, những vị khách thăm bà Chương được hạn chế trong số những thành viên thân thuộc nhất của gia đình. Thầy bói của gia đình là một trong những người nhìn mặt em bé đầu tiên. Công việc của ông ta là đoán quyết vận mạng của bé bằng cách đối chiếu ngày sinh, mùa hoàng đạo, giờ sinh với vị trí của mặt trời và mặt trăng và không quên tính cả những ngôi sao chổi đang lướt qua. Một khả năng rất lớn là nhằm cổ vũ tinh thần của người mẹ đáng thương bị phong kín trong căn phòng tối ba tháng trời, cùng đứa con gái nhỏ mà bà không hề mong muốn, ông thầy đã thốt lên về số phận của đứa trẻ: "Thật là ngoài sức tưởng tượng!". Đứa bé, ông nói với bà Chương đang run lẩy bẩy, sẽ leo lên đến những đỉnh cao vời vợi. "Ngôi sao chiếu mệnh của nó không thể nào tốt hơn!” Bé gái sẽ lớn lên trong niềm tin vào vận mệnh của mình đồng thời với lời tiên tri xán lạn đã khiến mẹ cô ghen tỵ một cách sâu xa. Kết quả là một cuộc đời với những mối quan hệ mẹ con đầy căng thẳng và sự ngờ vực bất tận. Còn tiếp... (Trích sách Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng) |
Nguyễn Thanh Hoàng
Bà Ngô Đình Nhu : Từ thời trẻ sôi động đến những tháng năm ẩn dật
Sau cuộc đảo chính năm 1963, hầu như không ai biết gì về bà, vì bà sống ẩn dật, hầu như không có một tiếp xúc nào với thế giới bên ngoài. Người ta chỉ biết là bà đang viết một cuốn hồi ký.
Sinh năm 1924 trong một gia đình danh gia thế phiệt, thân phụ là luật sư Trần Văn Chương, thân mẫu là cháu ngoại của vua Đồng Khánh và là em họ của vua Bảo Đại, năm 19 tuổi bà lập gia đình với ông Ngô Đình Nhu. Khi ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, thì ông Nhu làm cố vấn chính trị, và vì ông Diệm độc thân nên bà Trần Lệ Xuân luôn là người đứng ra tiếp các phu nhân của các vị quốc khách.
Bà Trần Lệ Xuân cũng là dân biểu Quốc hội, chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên đới. Bà đã đưa ra đạo Luật gia đình cấm người đàn ông lấy hai vợ, Luật bảo vệ luân lý và thuần phong mỹ tục, đồng thời có nhiều hoạt động xã hội khác. Chiếc áo dài cổ hở do bà đề xướng, vào thời đó được gọi là « áo dài bà Nhu », cũng là một dấu ấn mà bà để lại đến ngày hôm nay. Là một phụ nữ tài giỏi, xông xáo, nhưng bà cũng có những phát biểu gây sốc làm cho không ít người bất bình.
Tháng 10/1963, bà và con gái là Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa Kỳ và Roma với dự định tố cáo âm mưu lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm của Tổng thống Kennedy và CIA. Nhưng ngày 1/11/63 đã xảy ra đảo chánh, ông Diệm và ông Nhu đều bị sát hại. Bà rời Mỹ với lời tuyên bố : « Tôi không thể sống ở Mỹ, đơn giản vì chính phủ Mỹ đã đâm sau lưng tôi ». Bà sống lặng lẽ ở Paris cho đến cách đây một năm sức khỏe yếu dần, thì sang Roma với người con lớn cho đến khi mất. Một trong những câu nói nổi tiếng của bà là : « Ai đã có người Mỹ là đồng minh thì chẳng cần phải có kẻ thù ».
Luật sư Trương Phú Thứ, người chịu trách nhiệm biên soạn và in ấn cuốn sách của bà Trần Lệ Xuân cho biết, theo dự định thì tác phẩm này sẽ được ra mắt vào năm 2012. Khi được hỏi, cuốn sách do chính bà viết ra hay có ai chấp bút cho bà, ông Trương Phú Thứ nói :
Bà viết ra tự tay bà viết ra chứ không có ai viết thay bà hết, vì bà không có liên lạc với bẩt cứ một người nào hết. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai : các con bà ở mỗi người một nơi. Bà viết cái này khi bà còn ở bên Paris, tức là khi sức khỏe của bà còn tốt. Bà viết trong căn phòng appartement có một mình bà thôi, thì bà đâu có nhờ ai viết được, bà tự viết lấy.
Tiếng Việt của bà thì kém lắm, tiếng Pháp rất là giỏi. Tiếng Pháp bà viết còn hơn cả những người có bằng cấp về văn chương Pháp ở Pháp. Tiếng Pháp của bà rất giỏi nhưng mà tiếng Việt thì kém lắm, thành ra bà phải viết bằng tiếng Pháp. Thế thì bà đưa cho mình, và mình có nhiệm vụ dịch ra tiếng Việt Nam.
Thưa anh, một nhân vật như bà Nhu thì chắc chắn nhiều người rất là trông chờ để biết vì mấy mươi năm nay không có tin tức gì của bà hết. Như vậy liệu cuốn sách đó có đáp ứng được mong đợi của người đọc không ?
Cái này thì tùy theo quan điểm của người đọc. Những người nào tò mò muốn biết về đời tư của bà như thế nào, hoặc thái độ đối xử của bà đối với những người đã gây ra những đau khổ cho bà, hoặc những người vu oan nói xấu bà này nọ, thì không có. Bà không đề cập đến chuyện đó, vì bà coi đấy là những chuyện không đáng để nói tới. Quyển sách của bà truyền đạt những suy tư, tư tưởng của bà đối với thân phận con người, đối với tạo hóa, và rất có thể là nhiều người đọc sẽ thất vọng lắm. Nhưng những cái gì của bà viểt ra thì mình sẽ đưa ra cho công chúng như vậy thôi, mình không thể nào thêm bớt được hết. Một dấu phẩy, một dấu chấm mình cũng không thay. Thứ nhất là bây giờ bà chết rồi mình phải tôn trọng cái đó một cách tuyệt đối.
Như vậy đây không phải là một cuốn tự truyện ?
Không phải là tự truyện mà cũng không phải là hồi ký. Thông thường người ta hiểu hồi ký là viết lại những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, những chuyện vui chuyện buồn, chuyện của một cá nhân của một con người. Thế nhưng bà đã quên hết rồi. Bà đã sống 48 năm từ khi lưu vong ra nước ngoài, trong một căn phòng, một chỗ ở rất nhỏ hẹp, sống một cách quá cô độc, không tiếp xúc, không có liên lạc với bất kỳ một người nào hết. Bà chỉ đi ra ngoài mỗi buổi sáng. Thời gian mà bà còn khỏe mạnh thì bà đi ra ngoài, đi lễ ở nhà thờ Saint Léon.
Lâu nay vẫn có nhiều dư luận trái chiều nhau về bà Trần Lệ Xuân. Như vậy trong sách có nói gì về những lời đồn đãi chung quanh tính cách của bà không?
Chuyện đó thì không có. Bà Ngô Đình Nhu hay bất kỳ một người nào trên thế gian này cũng có người ghét người thương. Không ai có thể nói là mình được tất cả mọi người thương mến, kính phục hết, cũng có người này gièm pha ba câu, người kia đố kỵ…Thế nhưng bà Nhu không hề động chạm, đề cập đến bất kỳ một chuyện lớn nhỏ nào như thế. Từ khi bà chọn một cách sống, ở một mình trong một căn phòng, tức là bà đã muốn quên hết, muốn bỏ lại đằng sau lưng tất cả. Những chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện vui chuyện buồn bà bỏ hết. Bà sống như một người khổ tu, gần gần như một người khổ tu vậy.
Ngay cả vấn đề ăn uống, bà cũng chẳng có nấu nướng gì hết. Tôi thấy trong bếp của bà cũng chẳng có một cái nồi, cái chảo hay thìa muỗng gì hết. Trong tủ lạnh mở ra thì độc có một vài chai nước, chỉ có vậy thôi.
Thế thì bây giờ người ta hỏi bà ăn ở đâu, bà cũng phải ăn chứ ! Thì thường thường những người Pháp ở trong chung cư đó, họ biết bà như vậy nên thường một hai ngày họ nấu đồ ăn họ mang tới cho bà.
Còn nếu không thì bà sống như thế nào nếu bà không ăn uống gì ạ?
Bà ăn rất ít. Có một lần bà nói với tôi, đây nè anh Thứ à, hai ngày hôm nay tôi chưa ăn và uống gì. Thế rồi bà cười, bà nói là vì tôi không ăn uống nên tôi không có bệnh gì hết.
Nhưng phải nói là bà rất khỏe. Bà chỉ cảm thấy yếu từ đầu năm 2010. Mới đây thôi. Thứ nhất là vì cái tuổi già, đến đầu năm 2010 thì bà bắt đầu cảm thấy yếu. Nhưng mà cách đây chừng độ hai tháng, bà gọi điện thoại cho tôi, tiếng nói của bà vẫn còn rất là to, rất là khỏe. Bà cũng cười vui vẻ lắm trên điện thoại, thì tôi nghĩ là bà khỏe lắm. Thế nhưng mà sau đó thì vì tuổi già, sức khỏe sụt xuống một cách quá mau lẹ.
Thì bà cũng qua đời vì tuổi già thôi, chứ thật ra chẳng có bệnh tật gì. Có một cái vấn đề về sức khỏe là cái chân của bà bị gẫy từ xưa, thành ra đôi khi cũng hơi đau đau chút chút vậy thôi, nhưng không có đau đớn nhiều lắm. Ai đến tuổi già thì cũng bệnh như vậy thôi, cũng suy sụp như vậy thôi, chứ không phải riêng gì bà Nhu. Có nhiều người già phải nằm trên giường bệnh hết năm này qua năm khác. Nhưng mà bà Nhu nằm trên giường bệnh chưa đến một tháng, khoảng độ ba bốn tuần lễ vậy thôi. Bà đi một cách rất là bình an, như vậy thì tôi nghĩ cũng là một phước lành, một phúc đức của bà.
Và cũng có người thân chung quanh ?
À, các con cái thì như cô biết là bây giờ bà còn hai người con trai và một cô con gái. Anh con trai lớn là Ngô Đình Trác thì có vợ con, vợ anh người Ý. Còn cô con gái út là cô Ngô Đình Lệ Quyên thì chồng cũng là người Ý luôn. Nhưng con trai giữa là Ngô Đình Quỳnh thì sống độc thân một mình, không có vợ con gì hết, ông làm việc bên Bỉ.
Khi bà Nhu về La Mã, bà ở căn nhà của gia đình Ngô Đình Trác. Nhà đó cách thủ đô La Mã khoảng 10 cây số. Cái nhà đó là nhà trệt, không có tầng lầu, nhưng mà dưới có một cái tầng hầm. Gia đình ông Trác ở trên, và gia đình của cô Lệ Quyên ở dưới. Họ sống với nhau cả bao nhiêu năm trời rồi, rất là vui vẻ, rất là hòa thuận.
Khi bà yếu quá, ông Trác đưa vô trong nhà thương… Bên đó chắc là mấy người con cũng bận rộn với vấn đề lo tang lễ cho bà, không biết là ngày nào giờ nào nhưng mà tôi biết chắc chắn là sẽ tổ chức rất là kín đáo, trong gia đình mà thôi.
Giám đốc giáo xứ Việt Nam ở Paris, đức ông Mai Hữu Vinh có cho biết là nhiều người tới xin lễ cho bà…
Ở đây, ở California tối hôm qua cũng có làm một buổi lễ để cầu nguyện cho bà Nhu, và trong nhà thờ rất đông, vì họ cũng quý mến bà lắm. Và tôi có được thông báo là tiểu bang Oregon chiều thứ bảy này họ cũng xin lễ ở nhà thờ để cầu nguyện cho bà. Thôi thì bà chết như vậy mà được mọi người nhớ đến trong một cái ân tình như vậy, tôi cũng mừng cho bà lắm.
Vâng, thì thôi cũng tốt cho bà, với những sóng gió mà bà đã trải qua…
Bây giờ cô thấy nhé, một người đàn bà sống trong bốn bức tường nho nhỏ, trong một căn phòng nho nhỏ, một hai ngày thì còn chịu được. Bà sống như vậy 48 năm liền, tức là từ năm 1963 cho tới ngày bà qua đời. Thế thì bà sống bà chỉ còn có một cái hy vọng duy nhất thôi, tôi nói là hy vọng cũng không đúng, bà sống chỉ có một cái chờ đợi thôi, là đến một ngày nào đó được gặp lại người chồng của bà. Bà Nhu rất yêu mến và kính trọng ông Nhu.
Như cô biết là khi mà ông Nhu bị thảm sát như vậy, thì bà Nhu lúc đó mới có 39 tuổi. Một người phụ nữ 39 tuổi còn quá trẻ, nhưng mà bà vẫn ở vậy. Bà ở vậy để chờ đợi đến ngày gặp ông chồng. Và khi bà quá vãng ở cái tuổi 87, bên Việt Nam mình thì tính là 88, riêng cá nhân tôi thì tôi mừng cho bà, thấy đó là một sự giải thoát cho bà.
Nhưng một người phụ nữ trẻ đẹp, góa chồng lúc còn trẻ, ở cái tuổi đó mà đã từng nắm trong tay quyền lực rồi, đã nổi tiếng, thì chọn lựa một cuộc sống ẩn dật bao nhiêu năm có lẽ là không dễ.
Bởi vậy tôi mới nói là bà có một nghị lực rất là phi thường. Bà có nghị lực cao lắm. Chứ nếu ở một người bình thường có thể họ bị suy sụp về tinh thần, mà suy sụp tinh thần kéo theo suy sụp về thể xác. Tôi nghĩ là những người không có cái nghị lực như bà Nhu thì chắc sống không có lâu được như bà Nhu đâu. Mà bà từ hồi mà phải đi lưu vong ra ngoại quốc rồi đến khi bà chết là 48 năm, nửa thế kỷ chứ đâu phải một hai tháng gì.
Mà tại sao trước bao nhiêu dư luận như vậy bà lại im lặng ?
Vì bà đóng kín cửa, bà có nghe thấy dư luận gì đâu ! Bây giờ người ta có nói tốt hay nói xấu cho bà, bà cũng không nghe thấy. Bà đóng cửa kín không giao thiệp với ai, không biết gì hết. Thì tôi nói như hồi nãy là bà sống như một người nữ tu, mà nữ tu khổ hạnh lắm, chứ không phải nữ tu thường đâu. Bên đạo Công giáo có những dòng tu họ chỉ đóng cửa cầu nguyện với Chúa thôi, chứ chẳng có tiếp xúc với thế giới bên ngoài, thì bà Nhu cũng như thế. Đóng kín cửa không giao thiệp với ai, làm sao bà biết được ai nói xấu, ai nói tốt cho bà. Bà không biết !
Hồi đó bà vốn là người lăng xê thời trang áo dài cổ hở, người ta gọi là « cổ bà Nhu », nhưng mà khi anh tiếp xúc với bà thì anh có thấy bà ăn diện không ?
Không. Khi tôi tiếp xúc với bà thường thường thì bà hay mặc cái áo kimono của Nhật. Bà nói với tôi những cái áo kimono này là của một vài người bạn Nhật, mỗi năm họ gửi cho vài ba cái để mặc ở trong nhà.
Còn về cái áo khoét cổ, thì khi tôi nói chuyện với bà, bà nói ở Sài Gòn nóng quá - bà lấy hai ngón tay ra dấu như cái kéo - thì tôi cắt cái cổ đi cho nó mát. Bà nói là, tôi mặc như vậy thì Tổng thống không có bằng lòng. Tôi nghĩ là về sau thì nhiều người theo cái mốt của bà Nhu cũng mặc áo dài hở cổ, thì chắc là ông Tổng thống cũng chẳng để ý đến cái chuyện đó nữa.
Có vẻ như là vì bà Nhu lấy chồng khi còn trẻ quá, nên cả ông Diệm lẫn ông Nhu coi bà như một người em gái nhỏ thì phải ?
Có thể là đối với ông Nhu thôi, còn đối với ông Tổng thống là đâu ra đó, trên dưới lễ phép đàng hoàng. Một người thân cận với Tổng thống là nghị sĩ Lê Châu Lộc, vốn là tùy viên, cũng xác nhận mỗi lần bà Nhu muốn vào gặp Tổng thống là phải ăn mặc chỉnh tề, và phải xin sĩ quan tùy viên vào trình với Tổng thống. Tổng thống cho vào gặp thì mới được gặp, còn không thì bà vẫn vui vẻ ra về như thường. Tức là không có cái chuyện vì bà nhỏ tuổi mà bà hành xử thiếu tôn ti trật tự, vì gia đình của họ là một gia đình nền nếp, có trên có dưới, và rất là tôn trọng lẫn nhau. Thứ hai nữa là bà phải tôn trọng người anh chồng của bà là một vị Tổng thống chứ không phải là một người anh chồng thường. Thành ra mỗi lần bà muốn gặp hoặc là thưa trình với Tổng thống là phải có sự xếp đặt của các viên chức phụ giúp Tổng thống.
Bà có kể cho tôi nghe một câu chuyện. Hồi đó ông Tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ, thành ra mỗi một lần có các vị quốc khách đi với phu nhân đến Sài Gòn, thì người đứng ra tiếp đón các vị phu nhân đó chính là bà Nhu chứ không ai khác. Tôi nhớ bà là người rất giỏi giao thiệp, tiếng Anh tiếng Pháp cũng rất lưu loát. Hồi đó bà không có cái gì để mà chưng diện khi tiếp đón các phu nhân ngoại quốc. Không biết bà được ai đánh tiếng là có một bà vợ một ông bộ trưởng muốn bán một bộ vòng tay, nhẫn…với cái giá sáu ngàn đồng Việt Nam, họ nói là nếu bà cố vấn muốn mua thì họ bán lại cho. Bà Nhu không có tiền, bà trình Tổng thống, ông thấy chuyện đó cũng được nên lấy tiền lương của ông cho bà để mua bộ nữ trang đó, nhưng với điều kiện là bắt người bán phải viết một tờ giấy trình bày lai lịch của nữ trang và quyền sở hữu. Bà nói với tôi đó là lần duy nhất Tổng thống cho tiền, và bây giờ bà cũng không biết những nữ trang đó thất lạc ở đâu.
Bà có hay kể cho anh những chuyện tương tự vậy không ?
Thì khi trong câu chuyện hễ bà nhớ đến cái gì, hay khi mình hỏi cái gì thì bà cũng nói. Đại để là khi nói chuyện với bà tôi tuyệt đối không nói về những vấn đề chính trị, hay những ngày bà còn ở Dinh Độc Lập ; những chuyện có thể gây khó chịu hoặc đau khổ cho bà tôi không nói tới. Thường thường là những chuyện mưa nắng thôi chứ chẳng có gì quan trọng hết.
Vì những gì bà muốn tâm sự là với khối người Việt Nam, cả cộng đồng người Việt Nam, chẳng những ở ngoại quốc mà cả trong nước Việt Nam nữa, thì bà đã viết trong cuốn sách của bà rồi. Thành ra mai mốt khi nào quyển sách đó ra, người đọc sẽ có những phán đoán, nhận xét về những tư tưởng của bà.
Trong sách bà không đề cập đến những vấn đề chính trị, những vấn đề mà đa số người muốn biết. Thí dụ như thái độ của bà đối với những người cầm khẩu súng mà bắn vào đầu chồng bà như thế nào. Có nhiều người nghĩ là bà sẽ chửi rủa những người kia, sẽ nói nặng lời với họ, nhưng tuyệt đối bà không nói một câu. Bà không để ý tới những chuyện đó nữa. Bà muốn quên, bà bỏ lại đằng sau lưng tất cả, và đặc biệt là bà muốn tha thứ tất cả.
Bà muốn tha thứ là vì bà là người rất sùng đạo. Bà nói, Chúa đã tha thứ cho bà, thì bà phải tha thứ cho tất cả mọi người, đơn giản vậy thôi. Bà không có thù oán, và không bao giờ nói nặng nhẹ đến những người đã gây khổ đau cho gia đình bà, không nói tới một câu.
Như vậy đây không phải là hồi ký mà gần như là những tâm sự, suy tư về cuộc đời ?
Như tôi đã nói, đó không phải là một hồi ký thông thường. Thành ra những người nào muốn tò mò chuyện thâm cung bí sử, những oán trách… thì không có. Đừng trông chờ những cái đó trong quyển sách của bà. Khi anh Lê Châu Lộc trả lời phỏng vấn của một đài truyền thanh, thì anh nói một câu rất đúng : đọc quyển sách đó anh có cảm tưởng như sách của một vị nữ tu. Nhưng quyển sách của bà tôi nghĩ người nào mua về đọc thì họ sẽ giữ lại, sẽ nghiền ngẫm, đọc lui đọc tới để mà hiểu.
Nhưng dù sao bà Nhu cũng là một chứng nhân của lịch sử, và có những chuyện chỉ có người trong cuộc biết, nếu bà ôm cái bí mật đó theo thì có uổng không ?
Bây giờ có cái gì là bí mật nữa đâu. Tất cả mọi chuyện đã phơi bày ra ánh sáng hết cả rồi. Ai giết ông Tổng thống, ai giết chồng bà ấy, những thế lực nào đứng đằng sau cuộc đảo chánh, hoặc là bà có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu đồn điền…thì người ta biết hết cả rồi, chả có gì gọi là bí mật nữa.
Bà có đặt tựa cho cuốn sách đó chưa ?
Có. Bà lấy một cái dẫn dụ trong Cựu Ước để đặt tựa cho cuốn sách.
Và anh sẽ là người dịch ?
Tôi có sự giúp đỡ rất quý báu của anh Nguyễn Kim Quý, rất giỏi tiếng Pháp. Anh có bằng tiến sĩ văn chương Pháp, và là giáo sư Pháp văn của các trường đại học ở Mỹ. Anh giúp tôi về chuyện đó.
Khi viết cuốn sách này bà Nhu có ước vọng gì, dành cho người Việt hay cho độc giả các nước ?
Bắt đầu cách đây khoảng chừng mười năm, lần đầu tiên tôi gặp bà cố vấn Ngô Đình Nhu, thì bà viết bằng tiếng Pháp, và có ý định sau khi viết xong thì bà sẽ tự tay dịch sang tiếng Anh và tiếng Ý. Thế nhưng về sau có thể có nhiều lý do, như là sức khỏe không được tốt như hồi trước, hoặc là bà bận bịu, nên bà chỉ viết bằng tiếng Pháp mà thôi. Mà ngay cả bản bằng tiếng Pháp thì cũng còn phần cuối dang dở. Thành ra để vài ba tuần lễ nữa, khi gia đình lo tang lễ cho bà xong thì lúc đó tôi sẽ hỏi để lấy cái phần cuối cùng đó.
Có dài lắm không ạ ?
Dài ! Nguyên bây giờ thì cũng đã gần 500 trang rồi, nhưng in ra thì tôi nghĩ khoảng 300 trang thôi vì chữ viết của bà to.
Bà Nhu muốn quyển sách này đến với độc giả khi bà còn sống, chứ không phải là khi bà chết rồi. Thế nhưng khi còn sống bà chưa làm được chuyện đó, thành ra bây giờ khi bà mất mình giúp đỡ để hoàn thành giấc mộng của bà là đưa quyển sách, đưa tư tưởng, suy tư của bà đến với độc giả, đến với người Việt Nam.
Anh dự định cho xuất bản ở đâu ?
Tôi sẽ in và phổ biến bên Mỹ này thôi, còn đương nhiên là sau đó tôi sẽ gởi đi những quốc gia có cộng đồng người Việt Nam đông như là Anh, Pháp, Đức…
Các con của bà có ý kiến gì về cuốn sách này không ?
À, hầu như là không. Vì họ lớn lên ở ngoại quốc, họ tôn trọng tính độc lập của từng cá nhân. Các con của bà thì đương nhiên rất là yêu mến và kính phục bà, nhưng họ không có xen vào những chuyện mà bà làm.
Và những người con của bà Nhu có vẻ cũng kín tiếng như bà ?
Thì như cô thấy đó, từ hồi năm 1963 cho đến giờ các con của bà có ai ra ngoài công chúng, có nói năng gì đâu, không ! Họ rất là im lặng, y như bà vậy thôi. Họ cũng giữ một cái khoảng cách quá xa xôi đối với thế giới bên ngoài
Qua thời gian tiếp xúc với bà Nhu, anh có cảm tưởng như thế nào về bà ?
Cảm tưởng của tôi thì cũng như rất nhiều người đã nhận xét về bà. Bà là một người đàn bà tài giỏi, can đảm, dám nói và dám làm. Chẳng hạn một chuyện trong quá khứ, khi bà đưa ra đạo luật về gia đình ở Việt Nam, đề cao nhân phẩm của người phụ nữ. Đạo luật đó được Quốc hội biểu quyết thông qua, cấm đàn ông lấy hai vợ, và những vấn đề khác nữa, để nâng cao đời sống của người phụ nữ Việt Nam lên. Mặc dầu hồi đó có những sự chống đối nhưng bà vẫn can đảm vượt qua.
Một phụ nữ như thế mà chọn cuộc sống ẩn dật có lẽ không dễ ?
Tôi thấy là khi chọn lựa một cuộc sống như vậy, chắc là bà phải có những suy nghĩ và quyết định rất là khôn khéo. Từ khi mà bà phải sống lưu vong ở ngoại quốc sau vụ đảo chánh ngày 1/11/63 ở bên Việt Nam, gần như không có ai nói tới bà nữa. Nhưng không phải là người ta sẽ để cho bà yên. Trường hợp nếu bà có một cái manh động, một lời nói, cử chỉ sao đó, đương nhiên họ sẽ nói tới rất nhiều.
Hồi xưa lúc chồng bà chết rồi thì bên Mỹ Tổng thống Kennedy cũng bị giết, thì bà Kennedy cũng là góa phụ. Thế nhưng bà Kennedy về sau đi đến đâu thì người ta theo dõi đến đó, người ta có những bản tường trình đầy đủ, chuyện xấu cũng có mà chuyện tốt cũng có. Thế nhưng đối với bà Nhu thì tuyệt nhiên không, vì bà không đi đâu hết ! Bà tự giam hãm mình trong một căn phòng. Ngay cả buổi sáng đi lễ bà cũng mặc quần áo rất kín đáo, đội mũ, che đầu… để không ai nhận ra bà hết.
Về phần ông linh mục ở nhà thờ Saint Léon, bà đã đi lễ ở nhà thờ đó nhiều năm rồi mà về sau ông mới biết đó là bà Ngô Đình Nhu. Ngay cả sau khi lễ xong bà ở lại dọn dẹp, trang hoàng nhà thờ thì ông cũng nghĩ đó là một giáo dân bình thường thôi. Mãi mấy năm sau, không biết người nào nói với ông thì ông mới biết !
Cũng có nhiều người muốn có một tấm hình của bà lúc về già, nhưng tôi nghĩ là chẳng có ai chụp được cái hình nào hết. Đương nhiên là bà phải già đi, nhưng trông vẫn còn khỏe lắm và vui tươi. Tôi có nhận xét, mỗi lần bà cười trông bà trẻ lắm, làm tôi nhớ lại những hình ảnh mà tôi được coi trên báo chí, trông rất trẻ !
Khi bắt đầu cuộc sống lưu vong ở nước ngoài từ năm 1963, bà không có một đồng trong túi…
Như vậy làm sao bà mua được hai căn nhà ở Paris ?
Hai căn nhà là mãi sau này, do một bà bá tước người Ý cho. Mà bà này cho rất là kín đáo, bà Nhu không biết. Thì bà Nhu có một số tiền rất lớn, tôi không biết là bao nhiêu nhưng mà căn hộ đó dù ở trên tầng lầu thứ 11 nhưng cái tòa nhà ở khu đó đắt lắm. Bà nhờ một ông cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle mua giùm hai cái appartement.
Có nhiều người đặt câu hỏi, vì sao lại có một số tiền trên trời rớt xuống như vậy, thì vấn đề có nguyên do của nó. Tức là Ngô Đình Trác, con trai lớn của bà lấy một cô vợ người Ý, mà gia đình cô này là một trong những gia đình thế phiệt, vọng tộc, giàu có nhất của nước Ý, thì từ chỗ đó mà ra. Người ta thấy bà sống vất vưởng không có nhà cửa thì có một người cho một số tiền nhưng ẩn danh, không nói cho bà Nhu biết. Mãi đến bốn năm sau, bà kia chết thì bà Nhu mới biết đó là người đã cho mình tiền để mua nhà.
Xin phép được tò mò thêm một câu, tên đề trên hộp thư và interphone tại tòa nhà nơi bà sống là bà Trần Lệ Xuân hay là bà Ngô Đình Nhu ?
Tôi nghĩ có thể bà ghi tên trên hộp thư là bà Ngô Đình Nhu, vì mỗi lần tôi gửi sách cho bà thì tôi đề là Madame Ngô Đình Nhu, bà đều nhận được hết.
Xin cám ơn luật sư Trương Phú Thứ từ Hoa Kỳ đã vui lòng dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ hôm nay về bà Trần Lệ Xuân tức bà Ngô Đình Nhu.
Người kiến tạo Việt Nam Cộng Hoà - Kỳ 1/3: Ông Diệm không phải từ trên trời rơi xuống

Tôi đã ấp ủ bài viết này khá lâu trên ipad, và cố gắng cô đọng để nó không dài quá, nhưng cũng ráng tìm thêm thông tin để nó không trống trải quá. Tôi hứa với bạn rằng bài viết này khách quan, đáng để bạn đọc và thủ đắc cho mình thêm một cái nhìn của một người trẻ về Ngô Tổng thống. Đây là phiên bản bỏ túi để các bạn trẻ tiện đọc. Bản chi tiết có lẽ không thích hợp đăng lên vì quá dài. Bài này có 16 mục số, có lẽ đăng làm 3 kỳ. Ai rảnh đón đọc. Quan trọng nhất là kỳ 1. (Sau này, nếu lượng tư liệu và thời gian cho phép, tôi sẽ viết một cuốn tiểu thuyết về con người ấy, bạn nhớ đón đọc!)
1) Xuất thân, thành phần gia đình, thời niên thiếu
Ngô Đình Diệm sinh năm 1901, sau Nguyễn Sinh Coong mười năm, trong một gia đình Công giáo lâu đời và có truyền thống Nho học tại Quảng Bình, đồng hương với Võ Nguyên Giáp. Thân phụ là cụ Ngô Đình Khả, một quan lớn trong triều Nguyễn, là người cùng thời và là thông gia với cụ Nguyễn Hữu Bài, hai ông đều từng là Thượng thư, tương đương bộ trưởng bây giờ, và cùng làm cố vấn cho vua Thành Thái.
Ngô Đình Diệm là con thứ ba, hai người anh tên Khôi (rể cụ Bài) và Thục (sau này làm đi tu làm tới chức giám mục), ba em trai lần lượt là Nhu (sau làm cố vấn), Cẩn (làm người nhàn rỗi ăn trầu đi guốc tại Huế), Luyện và hai em gái là Thị Giáo và Thị Hiệp. Các anh em đều lót chữ Đình sau họ Ngô.
Năm Ngô Đình Diệm lên bảy, vua Thành Thái bị Pháp đày sang châu Phi, cụ Khả cùng nhiều quan lại không tùng phục với Pháp bảo hộ nên từ quan về làm ruộng. Các anh em họ Ngô vẫn được đi học, ngoài giờ học thì đi chăn trâu cắt cỏ, phụ giúp cha mẹ việc nhà và việc ruộng nương.
Năm mười lăm tuổi, cùng với anh là Thục vào tu tại tiểu chủng viện Phủ Cam. Tuy nhiên, anh Thục thì tu được, còn chú Diệm thì chịu không nổi nên xuất tu, đời tu vỏn vẹn mấy tháng. Sau đó xin qua học trường Quốc học Huế ba năm. Trong thời gian này được cụ Nguyễn Hữu Bài đào tạo và truyền các tư tưởng trị quốc Nho giáo. Đến năm mười tám tuổi thì tốt nghiệp Quốc học Huế.
Tốt nghiệp ở Huế, ra Hà Nội học trường Hậu Bổ thêm hai năm nữa, tương tự học học viện hành-chính-công bây giờ.
2) Con đường lập thân
Ngô Đình Diệm tốt nghiệp ở Hà Nội năm hai mươi mốt tuổi, tức là vào năm 1921. Sau khi tốt nghiệp, được triều đình Huế bổ nhiệm làm tri huyện Hương Trà. Làm việc mẫn cán liêm khiết, nên sau hai năm được đổi về làm tri huyện Hương Thuỷ, là huyện gần kinh đô Huế.
Đến năm 1926, tài coi sóc dân chúng phi thường, huyện dân ca ngợi ân đức, nên được triều đình thăng làm tri phủ Hải Lăng, tương đương chủ tịch tỉnh Quảng Trị bây giờ, khi mới hai mươi bảy tuổi.
Tiếp tục trổ tài an bang định quốc, phát triển phủ huyện sầm uất, kinh thương tấp nập, dân trong phủ ấm no. Điều hành các tri huyện răm rắp, diệt trừ tham quan ô lại, răn đe cường hào ác bá. Cả phủ đều sợ oai, lại tưởng nhớ công lao. Tính cương trực hiếm có, làm cho thuộc cấp lẫn đồng liêu đều nể vì. Làm tri phủ ba năm thì được thăng cấp nữa.
Năm ba mươi mốt tuổi, được thăng lên chức Quản đạo Ninh Thuận, đại khái như chức trưởng ban chỉ đạo Nam Trung Bộ bây giờ. Càng ngày càng thể hiện bản lĩnh xuất chúng, nên được “cơ cấu về trung ương”, tức là được sắp xếp để cho về làm việc trong triều.
Năm 1933, được triều đình tấn phong chức Thượng thư bộ Lại, chuyên coi việc hành chính và nhân sự quan lại (đúng ngành học luôn hén ^^), tương đương vị trí của ông Nguyễn Bá Thanh khi được điều về Hà Nội.
3) Từ Thượng thư triều Nguyễn đến Thủ tướng Quốc gia Việt Nam
a. Thượng Thư bộ Lại
Khi về trung ương, là một thượng thư trẻ tuổi nhất giữa các công khanh già khọm, lại được học hành theo lối mới của Tây phương và cả lối cũ của Nho học, nên đem lại luồng gió mới đầy hứng khởi cho bộ máy cai trị già cỗi. (Mặc dù là một quan lớn, tài hoa lại đẹp trai, nhưng không hề lấy vợ. Có thể thôi, ông Diệm là người vô tính - …)
Đề xuất cải cách đất nước tận căn, bắt đầu từ việc cải cách các kỳ thi cử rườm rà, bãi bỏ thủ tục quỳ lạy ở cửa quan. Đề xuất triều đình tài trợ quan lại có tài đi du học, tinh giản bớt các chức tước không cần thiết, tiết kiệm ngân khố quốc gia. Sâu xa hơn, là cải cách để tước bỏ dần ảnh hưởng của Pháp lên triều đình, đi đến độc lập tự chủ. Gặp rất nhiều chống đối từ phe thủ cựu của Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh, nhưng cũng không ít sự tán thành.
Triều đình chấp nhận cải cách trong âm thầm để tránh đối đầu trực diện với Pháp, thượng thư Diệm được chọn làm người đứng mũi chịu sào cho phong trào cải cách táo bạo này.
Chương trình của thượng thư Diệm với Pháp như sau:
- Lật lại Hoà ước Giáp Thân 1884 để đòi Pháp phải sáp nhập Trung Kỳ và Bắc Kỳ làm một như đúng trong điều khoản
- Từ đó buộc Pháp xoá bỏ hai chức Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ, chỉ đặt một viên đại diện cho Pháp tại Huế, đại khái như chỉ cho mở một đại sứ quán, không có quyền can thiệp nội bộ vào An Nam
- Vận động hành lang để Viện Dân Biểu Trung Kỳ tham gia chính trị, có ghế trong Hạ Nghị viện Pháp như ở Nam Kỳ
- Liên hệ chính phủ Nhật để tạo sức ép với Pháp thực thi các điều trên
Chương trình này bị Phạm Quỳnh phát giác, sợ hãi Pháp sẽ thanh trừng hoặc tàn sát triều đình, nên đã dùng cách này cách khác mà phá hoại. Kể cả việc hợp tác với Khâm sứ Trung Kỳ là Eugene Chatel để tước đoạt quyền lực của thượng thư Diệm và các quan lại muốn tự chủ. Do sợ chuyện đã đổ bể, Pháp đã hay biết, triều đình quay ngoắt lại với chương trình cải cách và lạnh nhạt với thượng thư Ngô Đình Diệm.
Bình: xin đừng ai kết án Phạm Quỳnh bán nước, ông ta có tội là thủ cựu và nhút nhát mà thôi, ít ra ông không bán đứng Ngô Đình Diệm, giống như kẻ bí ẩn đã bán đứng các ông Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… cho Pháp. Kẻ bí ẩn đó là ai, khi nào tui viết về Phan Bội Châu các bạn sẽ biết.
Chán nản, ông từ quan tháng bảy cùng năm, về quê cày ruộng mấy tháng, vận động được một số tiền bạc gởi cho hoàng thân Cường Để, ủng hộ các ông này và phong trào Đông Du. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm hoạt động độc lập với phong trào của Cường Để.
b. Hoạt động tự do
Cuối năm 1933, chí sĩ Ngô Đình Diệm ba mươi ba tuổi, bỏ lối sống ẩn cư vào Nam Kỳ, cụ thể là Sài Gòn, cùng với các chí sĩ khác tổ chức các buổi thuyết trình về quyền tự chủ và độc lập dân tộc cho giới trí thức Sài Gòn cùng tham dự và phản biện. Có nhiều buổi thuyết trình có đến hàng ngàn người dự khán và đặt câu hỏi. Nhờ ông và các bạn chung chí hướng, phong trào đòi tự chủ và bài xích Pháp lên cao mãnh liệt, rất nhiều trí thức Pháp, linh mục Pháp và các nước khác, cảnh sát, phóng viên, phú hộ, quân nhân bổn xứ, hội đồng, thương nhân… ủng hộ phong trào. Thừa thắng, ông Ngô Đình Diệm và các bạn vận động sang Pháp, để các chính khách Pháp cùng ký thỉnh nguyện thư đòi Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier phải từ chức.
Tuy nhiên, quyền lực của một Toàn quyền coi sóc ba nước thuộc địa đâu phải nhỏ, phong trào bị đàn áp, chí sĩ Diệm và các bạn cùng nhiều linh mục và trí thức bị tù đày hoặc sách nhiễu. Tuy nhiên, với sức ép của của các chính khách Pháp, Pasquier phải thả Ngô Đình Diệm ra và đem về giam lỏng tại Quảng Bình.
Ông Ngô Đình Diệm bị quản thúc một năm thì Pasquier ngỏm củ tỏi không rõ nguyên nhân. Toàn quyền mới là Robin có thiện cảm với nhóm Ngô Đình Diệm, huỷ quyết định của Pasquier và trả tự do có điều kiện cho chí sĩ Diệm. Buộc ông không được hoạt động kháng Pháp tại ba kỳ nữa. Ông Ngô Đình Thục khi này là giám mục tiên khởi của giáo phận Vĩnh Long, bảo lãnh cho em mình về dạy học tại trường Thiên Hựu.
Ông Diệm dạy học và hoạt động âm thầm từ năm 1934 tới năm 1942. Trong thời kỳ này, tư tưởng và đường hướng trị nước của ông hình thành rõ nét. Ông liên hệ các chí sĩ kháng Pháp, ủng hộ phong trào Đông Du và hoàng thân Cường Để, giữ liên lạc với các bạn cùng chí hướng.
c. Đại Việt Phục Hưng Hội
Cho tới thời điểm này, đường lối của chí sĩ Diệm vẫn là bất bạo động và phi vũ trang. Trái ngược hoàn toàn với đường hướng bạo lực cách mạng của ông Hồ Chí Minh, vốn về nước năm 1941 để lập chiến khu kháng Pháp tại Bắc Kỳ.
Chí sĩ Ngô Đình Diệm thấy thời cơ đã tới, nên cùng với các bạn cũ lập ra Đại Việt Phục Hưng Hội, phạm vi hoạt động ở Trung Kỳ, đường lối vẫn là chính trị bất bạo động. Chủ yếu là biểu tình, bãi khoá, bãi thị, bãi công, thuyết trình. Ngoài ra còn ủng hộ hoàng thân Cường Để, vốn là cháu trực hệ 5 đời của vua Gia Long - cháu trai hoàng tử Cảnh - vì Cảnh mất sớm chứ đúng ra chính ông mới là người thừa kế Gia Long.
Đại Việt Phục Hưng Hội chủ trương dân tộc chủ nghĩa, đề cao tinh thần nhân nghĩa của Khổng giáo, tinh thần Đại Việt và tính chính danh của Kỳ ngoại hầu Cường Để. Nếu thành công sẽ gầy dựng một nước quân chủ lập hiến, với hoàng thân Cường Để là vua. Hội cũng chủ trương thân Nhật vì vấn đề văn hiến và chủng tộc. Hội hoạt động tới 1944 thì bị Pháp đình chỉ.
d. Uỷ ban Kiến Quốc
Lính Pháp nhạn lệnh vây bắt chí sĩ Diệm tại tiểu chủng viện Phủ Cam - Huế, nhưng ông được lính Nhật cứu thoát và cho phi cơ đưa vào Sài Gòn.
Chí sĩ Ngô Đình Diệm tiếp tục lãnh đạo các bạn cũ và trí thức Sài Gòn trong Hội cũ thành lập Uỷ ban Kiến Quốc tại Nam Kỳ. Đường lối hoạt động và chủ trương của uỷ ban này giống y như Đại Việt Phục Hưng Hội, cả hai vốn chỉ là một tổ chức đổi tên.
Ông tiếp tục lãnh đạo uỷ ban vận động để hoàng thân Cường Để về nước lãnh đạo phong trào kháng Pháp và đăng cơ làm vua Đại Việt.
Do áp lực của phe Đồng Minh, phong trào Đông Du tại Nhật bị tan rã, hoàng thân Cường Để không còn uy tín với Nhật.
Nhật ủng hộ Bảo Đại và chính phủ thân Nhật của Trần Trọng Kim, Uỷ ban Kiến Quốc rơi vào trạng thái không có chủ đạo và tan rã. Ngô Đình Diệm một lần nữa phải tự chất vấn mình về đường lối cứu nước, ông bắt đầu nghi ngờ chính trị Nho giáo.
Thời điểm này, Nam Kỳ hết sức nhiễu nhương với các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, các lực lượng quân phiệt, các cơ sở Việt cộng và những bang hội của Hoa kiều.
e. Với Việt Minh
Năm 1945, chí sĩ Diệm 46 tuổi, vẫn không lập gia đình. Chiến tranh thế giới kết thúc, Nhật hết vai trò ở Đông Dương, Bảo Đại thoái vị, chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội, bị phe VM của ông Hồ cướp chính quyền. Những năm tiếp theo, các nhà hoạt động độc lập và bất bạo động, quan lại triều Nguyễn, các đảng phái… bị Việt Minh bắt bớ. Rất nhiều tên tuổi thời danh bị chết trong giai đoạn này, Ngô Đình Khôi và con là Huân bị Việt Minh thủ tiêu, ông Diệm bị bắt.
Lúc này, Mỹ ủng hộ cho phe Việt Minh của ông Hồ, tài trợ khí tài quân sự và tiền bạc. Ông Hồ ưu ái các trí thức như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Huỳnh Thúc Kháng… và mời vào chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Bảo Đại nhận lời làm quốc trưởng chính phủ VNDCCH. Ông Diệm được mời làm Thủ tướng nhưng từ chối. Tuy nhiên, để tránh việc bị sách nhiễu, ông nhận lời làm cố vấn cho quốc trưởng Bảo Đại.
f. Sống lưu vong một thời gian
VNDCCH tồn tại chẳng mấy tháng thì phải rút về rừng núi Tây Bắc để trốn Pháp. Thời gian này VNDCCH và ông Hồ vẫn nhờ Mỹ rất nhiều. Các bạn ngu học thì gọi đây là thời kỳ “Kháng chiến chín năm” - kháng chiến cái lồn!
Bảo Đại cũng phải lưu vong và ra sức điều đình để ký hoà ước với Pháp. Ông Diệm lúc này vẫn sùng bái Nho giáo và tin vào chế độ quân chủ, nhiều lần sang Hongkong thuyết phục Bảo Đại giữ tự chủ dân tộc, không phụ thuộc vào nước ngoài, tuy nhiên lời can gián của ông không được Bảo Đại xem trọng. Chán nản, ông từ chối luôn lời mời của Bảo Đại làm thủ tướng chính phủ mới do Pháp bảo hộ, ông đi thăm thú nơi này nơi kia khắp Việt Nam, lúc thì ở Huế, lúc ở Quảng Bình, khi về Đà Lạt, khi lại ở Vĩnh Long.
Sau đó, năm 1949, ông lập ra Đảng Xã Hội Công giáo (giống y như đảng đang cầm quyền ở Đức hiện nay), nhưng không thành công mấy.
Năm 1950, Việt Minh nhận thấy mối nguy từ tinh thần dân tộc chủ nghĩa, nên mở chiến dịch ám sát và thanh trừng hàng loạt chí sĩ ái quốc phi cộng, trong đó có Ngô Đình Diệm. Lúc này, Việt Minh đã đi đêm với Tàu khựa, vốn vừa lập quốc hồi năm ngoái, theo chủ thuyết cộng sản.
Ông Diệm nhờ anh là giám mục Ngô Đình Thục giúp chạy sang Roma, rồi sau đó sang Nhật gặp hoàng thân Cường Để, và nhờ người giới thiệu, ông gặp thống tướng Douglas MacArthur, là người đại diện Mỹ tái thiết Nhật Bản lúc này. Chí sĩ Ngô Đình Diệm trình bày về tình hình Việt Nam và bày tỏ mong muốn Hoa Kỳ hỗ trợ để Việt Nam độc lập tự chủ. Tuy nhiên, MacArthur không quan tâm lắm, bởi lúc này Mỹ đang đặt vào cửa Việt Minh để chống Pháp bằng vũ trang ở Đông Dương.
Tức khí, ông Diệm bay luôn sang Mỹ để hội kiến với tổng thống Mỹ khi đó là Eisenhower, cũng để trình bày về những ấp ủ của ông cho Việt Nam và Đông Dương. Tuy nhiên, những cố gắng của ông không có kết quả. Nguyên do đã nói ở trên, Mỹ đang đặt vào cửa VM.
Chí sĩ Ngô Đình Diệm lang thang ở Mỹ hai năm để vận động cho Việt Nam, gặp rất nhiều chính khách Mỹ cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà, kết thân với cả Thượng nghị sĩ John F.Kennedy (sau làm Tổng thống Mỹ), học nhiều khoá học về chính trị và quản trị cũng như kinh tế tại các đại học danh giá Hoa Kỳ. Từ thời điểm này, Ngô chí sĩ bắt đầu hoạt động chính trị theo đường hướng Tây phương, từ bỏ chủ nghĩa trung quân ái quốc của Nho giáo. Tất nhiên, tinh thần dân tộc chủ nghĩa của ông thì không hề lay chuyển. Và cũng từ thời điểm này, Ngô chí sĩ bắt đầu thừa nhận con đường chính trị bất bạo động và phi vũ trang ở Việt Nam chỉ là chuyện viễn vông.
Ông sống tại Bỉ vài tháng và sau đó sang Pháp cư ngụ, tiếp tục hoạt động chính trị trong cộng đồng người Việt tại Pháp. Lúc này, chí sĩ Diệm được năm mươi bốn tuổi.
Năm 1954, VM công khai theo chủ nghĩa cộng sản, bỏ Mỹ và bám đít Khựa. Trong năm này, Khựa viện trợ cho miền Bắc 320 ngàn quân và vô khối khí tài quân sự để đánh trận ĐBP. Tất nhiên, VM vẫn hoạt động trong rừng núi Tây Bắc là chủ yếu. Còn ngoài ánh sáng thì do quốc trưởng Bảo Đại kiểm soát, đương nhiên, trong sự bảo hộ của Pháp, chính thể của Bảo Đại gọi là “Quốc gia Việt Nam”. Trong thời điểm này, Bảo Đại gởi rất nhiều sứ giả sang mời Ngô Đình Diệm về nước tham gia chính quyền nhưng ông đều từ chối.
Bình: câu cửa miệng “Chính nghĩa Quốc gia” của binh sĩ VNCH bắt nguồn từ đây nha các em zombie đần độn, không phải chuyện chơi trên phim ảnh đâu nhé.
Ngày 4/6/1954, Pháp ký hoà ước với chính quyền Bảo Đại trao trả độc lập cho Việt Nam. Hai tuần sau, đích thân Bảo Đại sang mời Ngô Đình Diệm về làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam. Chí sĩ họ Ngô ra điều kiện chính phủ của ông phải được toàn quyền về chính trị và quân sự. Bảo Đại đồng ý, kết thúc mấy năm lưu vong của ông Ngô Đình Diệm.
g.Thủ tướng Quốc gia Việt Nam
Ngày 7/7/1954, ông Ngô Đình Diệm lập nội các mới tại Sài Gòn, chỉ có mười tám người, là các nhân sĩ trí thức của cả ba kỳ lúc đó.
bình: em zombie nào hỏi chính phủ VNDCCH khi này ở đâu thì anh chửi cho thúi đầu, ở hang Pắc Bó chớ ở đâu?
Quốc gia Việt Nam khi này theo chế độ quân chủ lập hiến, tài chính do ngân hàng Đông Dương - mà sau lưng vẫn là chính phủ Pháp - nắm hết, bộ máy chính quyền dân sự các cấp thì vẫn do các cán bộ người Pháp đảm nhận. Cảnh sát hả? Chính là đảng cướp Bình Xuyên do tướng cướp Bảy Viễn làm tổng chỉ huy. Quân đội, do trùm mật thám Pháp là Nguyễn Văn Hinh thống lãnh. Một nội các có mười mấy ông trí thức hom hem, chẳng có thực quyền, không có một cắc, không có một cận vệ, thì điều hành cả nước ra sao? Nếu là đám zombie tụi bây thì đứa nào có gan?
bình: trong tình hình như vậy mà ông Ngô Đình Diệm dám về “xưng hùng xưng bá” thì tính ra ổng có gan cóc tía hử. Tất nhiên, lúc này ông chỉ được chính khách các nước ủng hộ tinh thần là chính, còn Mỹ thì vẫn chưa đặt niềm tin vào ông đâu, động lực nào làm ông có gan như vậy? Thưa: là tinh thần dân tộc chủ nghĩa, tự lực tự cường mà ra thôi bọn zombie đầu đất ạ!
4. Tương quan với Hiệp định Geneve và tình hình trong nước
Ở trên, tao quên nói cho đám zombie biết, lúc này ngoài những vấn nạn kể trên, còn vấn nạn giáo phái cát cứ và thủ lĩnh quân phiệt nữa.
Tại Tây Ninh có lực lượng vũ trang Cao Đài, tại Vĩnh Long có lính Hoà Hảo của Năm Lửa, tại Long Xuyên xuống tới Cần Thơ có lính Hoà Hảo cực đoan của Ba Cụt Lê Quang Vinh, tại thánh địa Hoà Hảo có lính tử thủ của Nguyễn Giác Ngộ, tại núi Tượng có các chú vũ trang võ bùa theo môn phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Bổn sư Ngô Lợi, tại rừng Sác có đồ đảng Bình Xuyên, tại Bến Tre - Bạc Liêu - Sóc Trăng - Tiền Giang - Long An cũng có lực lượng Cao Đài các chi phái trấn giữ. Ngoài ra, còn bọn Việt cộng ủng hộ VNDCCH trà trộn khắp nơi trong dân chúng. Đó là chưa kể, còn những đám cướp lẻ tẻ khắp xứ, chuyên gia cướp cạn cướp đường khắp nơi.
Tại Sài Gòn lúc này, các sòng bạc mọc như nấm, băng đảng bang hội chém giết nhau y như trom phim Bến Thượng Hải. Các em zombie cứ coi phim Bến Thượng Hải thế nào rồi nhân lên mười làn để thấy Sài Gòn lúc đó.
Các ông lớn trên thế giới ngồi với nhau, hiệp định Geneve ký kết, từ vĩ tuyến 17 ra bắc do VNDCCH điều hành và chịu sự dìu dắt của China, từ vĩ tuyến 17 trở vào do Quốc gia Việt Nam điều hành, hẹn tới 1956 tổng tuyển cử, nước VN đa đảng đa nguyên, tam quyền phân lập, tự do báo chí, tự do thương mại. Nhưng trong mơ thôi, thủ tướng Diệm hiểu VN hơn, ông chống đối Hiệp định này tới cùng.
Người Mỹ thua ván bài khi đặt cược vào VM, và bắt đầu chú ý tới nội các của Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên Pháp không đồng ý, vì những nỗ lực hất cẳng Pháp của ông Diệm.
Thủ tướng Diệm đóng cửa ngân hàng Đông Dương của Pháp và thay bằng Ngân hàng Quốc gia VN, hạn chế dần quyền hành của tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau tướng Hinh không tuân lệnh, phản kháng bằng lực lượng thiết giáp và bị thủ tướng Diệm tuyên bố là nổi loạn.
Pháp tổ chức cho tướng Hinh đảo chính, bao vây dinh tổng thống từ đầu tháng 8/1954 tới giữa tháng 9/1954, quân lính sẵn sàng nổ súng. Mười lăm bộ trưởng trong nội các của thủ tướng Diệm vì sợ hãi và vì bị uy hiếp đã từ chức đồng loạt vào ngày 20/9/1954. Đây là sự phản bội khiến ông Diệm đau đớn nhất. Sau đó, chỉ còn một mình ông Ngô Đình Nhu phò tá ông mà thôi. Lúc này, Mỹ đánh giá rất cao tinh thần thép của ông Diệm và can thiệp để đảo chính không xảy ra, tướng Hinh phải lưu vong sang Pháp tháng 11 năm đó. Thủ tướng Diệm chấn chỉnh và thâu tóm quân đội.
Tới phiên Bảy Viễn quậy, đòi vào nội các, nếu không sẽ “tắm máu Sài Gòn”, nhưng Ngô thủ tướng từng bước tước vây cánh của Viễn, đóng cửa sòng bạc Đại Thế Giới của y và cô lập khiến Viễn phải rút về rừng Sác cố thủ.
Lúc này, Bảo Đại thấy việc Pháp và cảnh sát cùng quân đội đã về tay thủ tướng, sợ bị thủ tướng triệt hạ, nên tìm cách hối thúc Pháp và Mỹ thay thế ông Diệm. Pháp bây giờ cực ghét ông Diệm và đã gây áp lực để Mỹ phải triệt hạ nội các của ông Diệm và thay người khác. Chính phủ Mỹ của tổng thống Eisenhower đã có kế hoạch thay thủ tướng Diệm bằng một người khác trong mùa hè năm 1955.
Tuy nhiên, vì một số mối quan hệ cũ khi còn lưu vong mà thủ tướng Diệm biết được kế hoạch này của Pháp-Mỹ, ông đã hạ thủ trước một bước, lệnh cho quân đội tấn công Bảy Viễn, tiêu diệt Bình Xuyên. Khiến cho không còn đối trọng nào trong miền nam có thể uy hiếp được ông nữa. Kế hoạch phá hoại sự tự chủ của Quốc gia Việt Nam của các cường quốc bị sụp đổ.
Trong cùng năm, thủ tướng Diệm bác bỏ hết mọi hiệp ước và điều khoản mà Bảo Đại đã đại diện Quốc gia Việt Nam ký với Pháp, rút khỏi Liên hiệp Pháp (lúc này VNDCCH vẫn còn trong Liên hiệp Pháp nha, kháng chiến chống Pháp cái lồn, tao nhắc lại), đòi Pháp huỷ hiệp định Geneve và cắt đứt quan hệ ngoại giao với VNDCCH.
Bình: Vì sao ư, lúc này Quốc gia Việt Nam éo coi miền Bắc là một nước, chỉ coi là lực lượng ly khai. Giống như giờ thằng China không cho các nước công nhận Taiwan là một quốc gia vậy đó zombie. Đừng bàn chuyện này đúng hay sai, nhưng hãy chú ý tới VỊ THẾ của thủ tướng Diệm trước thằng Pháp!
Đầu năm 1956, thủ tướng Diệm đuổi cổ Pháp khỏi Việt Nam, bắt Pháp rút quân hoàn toàn khỏi bờ cõi. Còn Mỹ, chỉ là một cuộc đổi chác tiền bạc: anh viện trợ cho tôi, tôi chống cộng Tàu và cộng Sô cộng Việt, anh không cần can thiệp.
Theo lịch trình của hiệp định Geneve, tháng bảy năm 1956 là bầu cử cả hai miền. Nhưng ông Diệm bác bỏ điều này. Bởi ông quá hiểu VM là gì, cộng sản là gì. Thế giới phương Tây lúc đó cười chê và quay lưng lại với thủ tướng Diệm. Bởi chúng nó chưa biết bầu cử dưới chế độ cộng sản là sao?
Cũn cần phải nói thêm để tụi zombie hiểu, việc bầu cử này không phải là điều khoản trong hiệp định nữa. Nó chỉ là điều gợi ý trong bản tuyên bố chung của các bên, không có nghĩa vụ phải thi hành. Bọn zombie nghe quen tai là miền nam vi phạm hiệp định phải hem? Ráng tìm hiểu coi hiệp định Paris mới sướng.
Bình: tao coi nhiều phim về nhiều siêu anh hùng, nhưng chưa thấy ai cừ khôi như ông Ngô Đình Diệm. Tụi zombie ráng đọc, bài này có giá trị thông não rất nhiều. Phần lớn tụi bây vẫn được nhồi sọ rằng cụ Diệm từ trời rơi xuống hoặc từ đất chui lên, do Mỹ dựng nên. Đậu má thằng chó nào bôi bác xuyên tạc lịch sử. Tao ủng hộ chủ nghĩa dân tộc! Dân tộc Việt muôn năm!
https://www.youtube.com/watch?v=Kxwbs5Iy7-8
Nov 16, 2013 - Uploaded by HaiNgoai PhiemDam
Bà Ngô Đình Nhu trả lời phỏng vấn WGBH năm 1982 (phụ đề Việt ngữ) .Website Hải Ngoại Phiếm Đàm