 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
2 |
 |
Lượt truy cập: |
29442308 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Văn hóa quỳ lạy TQ của VC!
19.02.2016 03:27
Lữ Giang
"...Đối với người Việt ở trong cũng như ngoài nước, "thoát Trung văn hóa" không phải là chuyện dễ, vì đa số vẫn coi văn hóa Trung Quốc là "văn hóa dân tộc", và đạo Phật dính liền với những mê tín dị đoan của Trung Quốc được gọi là "đạo dân tộc"… "Thoát Trung chính trị" cũng khó như vậy..."
Chiều 15/8/2014, một cuộc tọa đàm "Thoát Trung văn hóa" đã được tổ chức tại Hội trường tầng 4, Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam, 53 Nguyễn Du, Hà Nội. Rất nhiều bạn trẻ phải đứng để theo dõi cuộc tọa đàm vì hội trường không còn ghế trống.
Có tất cả 19 bài thuyết trình được phổ biến trên vanviet.info. Mặc dầu nấp dưới cái mũ "Thoát Trung văn hóa", nhưng nói trắng ra đây là một cuộc tọa đàm "Thoát Trung chính trị", có nghĩa bảo Đảng Cộng sản Việt Nam rời khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc "cho mày chết luôn"! Vì thế, người ta phải giải thích đây là "Văn hóa theo nghĩa rộng"!
Ở đây có hai vấn đề cần phải được đặt ra ngay: Vấn đề thứ nhất là "tọa đàm thoát Trung" có phải là cái bẫy Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra để khám phá "những thành phần bị coi là nguy hiểm cho chế độ" hay không? Vấn đế thứ hai là trong suốt 2000 năm lịch sử, cha ông chúng ta vẫn không "thoát Trung" được cả về văn hóa lẫn chính trị. Liệu rồi sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đi, Việt Nam có thể "thoát Trung" hay không?
Gần như ở đâu cũng có địch
Sau 30/4/1975, rất nhiều tổ chức chống cộng đã được hình thành để chống lại nhà cầm quyền cộng sản, nhưng tất cả đều thất bại vì bị địch đưa nội công vào gài bẫy rồi thanh toán như Mặt Trận Phục Quốc của nhóm Linh Mục Trần Ngọc Hiệu, Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, v.v. Đó là chưa kể các tổ chức chống cộng giả do Tổng Cục An Ninh của Hà Nội lập ra để gài bắt các thành phần chống đối như Đảng Nhân Dân Hành Động và Đảng Dân Chủ Việt Nam của Nguyễn Sĩ Bình, Đảng Dân Chủ Nhân Dân và Chính phủ Cách Mạng Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu Chánh, v,v.
Nhóm thanh niên và sinh viên Vinh được huấn luyện về truyền thông ở Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội cũng đã điêu đứng vì bị mật báo viên của công an giả làm "người đồng hành", xúi biểu và gài bẫy, nay đang bị ngồi tù. Giáo phận Vinh không biết gì nên can dự vào và gặp rắc rối. Nhóm "Diễn Đàn Giáo Dân" ở hải ngoại chỉ là những "con nai vàng ngơ ngác".
Phong trào "thoát Trung" do nhóm vanviet.info phát động. Các bài viết đăng trên website này đa số do những người ở trong nước viết, nhưng website được đang ký ở GoDaddy.com, Scottsdale, Arizona kể từ ngày 17/3/2014. Đây cũng là nơi website nuvuongcongly.net của Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội đăng ký đầu tiên vào năm 2009, nhưng khi chúng tôi phát hiện đã dời qua Colorado, sau đó quay trở lại Arizona kể từ ngày 23/8/2012.
Vanviet.info không giới thiệu người hay tổ chức sáng lập, không có tên nhóm chủ biên, không có địa chỉ, chỉ cho biết: "Văn đoàn độc lập Việt Nam là một tổ chức của xã hội dân sự, ái hữu nghề nghiệp, hoàn toàn độc lập đối với mọi hệ thống tổ chức và thiết chế trong và ngoài nước".
Chúng tôi nhắc lại một số sự kiện nói trên để những người đấu tranh cảnh giác
Văn hóa Việt và Tàu là một! Trong các bài phát biểu, đọc giả chú ý nhất đến hai bài "Giã từ nền văn hóa quỳ lạy" và "Từ văn hóa quỳ lạy đến văn hóa "thảo dân" của Lê Phú Khải, một nhà giáo và một nhà báo, sinh năm 1942 tại Hà Nội. Trong hai bài này, ông đã mô tả văn hóa Trung Quốc như sau:
"Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cái văn hóa quỳ lạy ấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hóa quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý… "Điều trớ trêu là văn hóa quỳ lạy ấy còn tồn tại đến hôm nay ở nước Trung Hoa cộng sản. Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi!". Trong "Việt Nam Sử Lược", Tập I, xuất bản năm 1919, ông Trần Trọng Kim có nhận xét như sau:
"Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao Châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê, và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
"Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thật và tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả…
"Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ". Như vậy văn hóa Việt Nam không phải chỉ nhiễm Khổng Giáo, mà còn nhiễm Đạo Giáo, Phật Giáo với những mê tín dị đoan của Tàu nữa. Chỉ cần đọc cuốn "Đường về xứ Phật" của Trưởng Lão Thích Thông Lạc là thấy rõ mê tín dị đoan của Tàu đã đi vào Phật Giáo Việt Nam như thế nào.
Trong bài "Thảo luận kiểu chọc tiết lợn đằng đít" gửi cho Văn Việt, nhà báo Phạm Thành đã nêu lên hai vấn đề: (1) Văn hóa Việt đồng nghĩa văn hóa Trung Hoa nên nói thoát văn hóa Trung là hủy văn hóa Việt. (2) Vấn đề cấp thiết hiện nay là thoát Trung về chính trị chứ không phải văn hóa.
Điều quan trọng là phải nhìn nhận sự thật lịch sử để rút kinh nghiệm. Không thể cứ đem "Bình Ngô Đại Cáo" và "Hịch Tướng Sĩ" ra để che lấp những thất bại đau xót của dân tộc được.
"Văn hóa quỳ lạy" từ Ải Nam Quan
Lịch sử cho biết cửa Ải Nam Quan Tàu được Tàu xây từ đời Gia Tĩnh triều Minh (1522-1566), có tường chạy dọc theo sườn núi suốt 119 trượng. Phía Bắc cửa ải, Trung quốc có dựng một nhà khách gọi "Chiêu Đức Đài". Chữ Chiêu thuộc bộ thủ, có 8 nét, có nghĩa là đưa tay vẫy gọi đến. Chữ Đức thuộc bộ sích có 15 nét, có nghĩa là có lòng nhân, hợp với đạo lý. Đây là kiểu nói theo lối trịch thượng, bảo Việt Nam: "Hãy đi theo ta"!
Vua quan ta cũng làm một nhà tiếp khách ở dưới Ải Nam Quan về phía nam, lợp bằng tranh và đặt tên là "Ngưỡng Đức Đài". Chữ Ngưỡng thuộc bộ nhân, có 6 nét, có nghĩa là mến phục, nhờ cậy. Ý muốn nói với Tàu: "Em xin theo anh"! Tàu Chiêu còn ta Ngưỡng, không phải là "văn hóa quỳ lạy"thì là cái gì?
Lê Lợi không thoát "văn hóa quỳ lạy"
Sau khi đánh thắng quân Nguyên, Lê Lợi bảo Nguyễn Trãi viết tở biểu giả danh nghĩa nhà Trần, xin phong vương cho Trần Cao. Tờ biểu có in trong"Quân trung tứ mệnh tập" (bài số 21), rất bi thảm. Chúng tôi chỉ xin trích một số đoạn: "Khi vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế mới lên ngôi, tổ tiên tôi là Nhật Khuê vào triều cống trước nhất, bấy giờ ngài có ban thưởng, phong cho tước Vương. Từ đó nhà tôi vẫn nối đời giữ bờ cõi, không bỏ thiếu lễ triều cống bao giờ. "Ngờ đâu quan quân xa xôi mới đến thấy voi sợ hãi, tức khắc vỡ tan. Việc đã xảy ra như vậy, dẫu bởi sự bất đắc dĩ của người trong nước cũng là lỗi của tôi. Nhưng bao nhiêu những quân và ngựa bắt được đều phải thu dưỡng tử tế, không dám xâm phạm một tí gì.
"Bọn thần tự biết mang tội rất nặng, không biết tiến thoái đường nào… Cúi nghĩ Hoàng Đế Bệ Hạ là bậc thánh thần văn võ…, tất xá cho thần tội lỗi như núi gò, tất tha cho thần hình phạt bằng phủ việt, để cho thần được giữ đất cõi Nam, nộp cống cửa khuyết". Viết rồi sai sứ đem biểu qua dâng vua Tàu, kèm theo lễ vật, trong đó có hai người bằng vàng để thay mình. Vua nhà Minh bấy giờ là Tuyên Tông xem biểu biết rằng giả dối, nhưng cũng muốn nhân dịp ấy để thôi việc binh, đưa chiếu sang phong cho Trần Cao làm An Nam Quốc Vương.
Sau đó Lê Lợi bảo Nguyễn Trãi viết sớ trình rằng Trần Cao đã lâm bệnh và qua đời rồi và xin phong cho Lê Lợi là "đại đầu mục của bản quốc, là người khiêm tốn, cung kính,…" làm vua. Vua Minh không chịu bảo đi tìm con cháu nhà Trần. Khi sứ đi tìm báo cáo không còn tìm được ai nữa Vua Minh mới chịu phong cho Lê Lợi làm An Nam Quốc Vương!
Quang Trung cũng dùng "văn hòa quỳ lạy"
Sau khi thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ bảo Ngô Thì Nhiệm viết tờ biểu dâng lên Vua Thanh. Tờ biểu cũng bi thảm không thua gì tờ biểu của Lê Lợi:
"Ngày mồng 5 tháng Giêng năm nay, lúc mới đến, tôi mong gặp Tôn Sĩ Nghị để hỏi xem việc dùng binh có phải là thực do Đại Hoàng Đế không. Nhưng Sĩ Nghị tự đón đánh, rồi bị đầy tớ của tôi đánh bại, quân sĩ giày xéo lên nhau mà chết không biết bao nhiêu mà kể. Những quân hiệu bị bắt còn hơn 800 người, tôi đã cấp cho ăn mặc và cho ở riêng một chỗ. "Nếu tình hình trên không được bày tỏ, Thiên triều không khoan dung, muốn động binh chinh chiến, thì nước nhỏ không được thờ nước lớn, tôi cũng đành nhờ trời mà thôi".
Nguyễn Huệ đã cho người đưa vàng bạc qua đút lót cho quan nội các Phúc Khang An và quan làm chủ trương của triều đình nhà Thanh là Hà Thân nhờ tâu giúp, rồi sai người cháu là Nguyễn Quang Hiển và quan Vũ Huy Tấn đem đồ cống phẩm sang Yên Kinh vào chầu vua nhà Thanh và dâng biểu xin phong. Vua nhà Thanh bèn sai sứ sang phong cho vua Quang Trung làm An Nam Quốc Vương, và giáng chỉ cho Quang Trung qua chầu.
Vua Quang Trung phải chọn một người hình dung giống mình, tên là Phạm Công Trị trá làm quốc vương, rồi sai Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn đưa sang Yên Kinh, vào chầu Càn Long. Ngoài những phẩm vật phải đem cống, vua Quang Trung lại đem cống thêm đôi tượng đực, vua Càn Long tưởng Phạm Công Trị là Nguyễn Quang Trung thật, cho vào làm lễ ôm gối, như là tình cha con…
Nhờ "văn hóa quỳ lạy" mà bước lên và tồn tại
Ai cũng biết không có sự chiến thắng của Mao Trạch Đông năm 1949, không có Điện Biên Phủ 1954 và không có 30/4/1975. Năm 1970, Lê Duẩn đã nói với Mao Trạch Đông nguyên văn như sau: "Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch… Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc".
Năm 1972, khi Tổng thống Nixon đến Bắc Kinh, Mao Trạch Đông nói: "Thành thật mà nói, nhân dân Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Trung Quốc và nhân dân thế giới phải cám ơn nhân dân Việt Nam đã đánh thắng Mỹ. Các đồng chí chiến thắng mới buộc Nixon phải đi Bắc Kinh...". Nói cách khác, Bắc Kinh coi Đảng Cộng sản Việt Nam như một thứ lính đánh thuê (mercenary) của mình.
Khó từ bỏ "văn hóa quỳ lạy" Trong 2000 năm lịch sử, Tàu đã đô hộ Việt Nam đúng 1050 năm. Những năm còn lại, năm nào cũng phải đi triều cống và khi vua nào muốn lên cầm quyền đều phải làm tờ biểu xin vua Tàu phong vương. Việt Nam chỉ thoát ra khỏi sự lệ thuộc của Tàu kể từ năm 1874, khi Pháp chính thức đô hộ Việt Nam. Năm 1949, khi Mao Trạch Đông chiếm được Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu lệ thuộc Trung Quốc. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo đã "thoát Trung" bằng cách đi theo Pháp, nhưng năm 1954 Pháp ký Hiệp Định Genève, giao nửa nước Việt Nam cho Trung Quốc. Kể từ 1956, Việt Nam Cộng hòa "thoát Trung" bằng cách đi theo Mỹ, nhưng năm 1972 Mỹ sai Kissinger qua Trung Quốc bán miền Nam Việt Nam cho Trung Quốc! Sau 30/4/1975, Lê Duẫn "thoát Trung" bằng cách "cải tạo xã hội chủ nghĩa" theo Stalinism, chứ không theo Maoism. Năm 1979 Trung Quốc đã"dạy cho Việt Nam một bài học". Năm 1990, Đảng Cộng sản Việt Nam phải nhờ ông Michio Watanabe, Chủ Tịch Đảng Dân Chủ Tự Do của Nhật qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân xin làm hòa. Bắc Kinh đồng ý. Ngày 3/9/1990, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng sang Thành Đô - thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc - để "hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước". Thế là Việt Nam hết "thoát Trung"! Đối với người Việt ở trong cũng như ngoài nước, "thoát Trung văn hóa"không phải là chuyện dễ, vì đa số vẫn coi văn hóa Trung Quốc là "văn hóa dân tộc", và đạo Phật dính liền với những mê tín dị đoan của Trung Quốc được gọi là "đạo dân tộc". Ông Phạm Thành đã viết: "Văn hóa Việt đồng nghĩa văn hóa Trung Hoa nên nói thoát văn hóa Trung là hủy văn hóa Việt". "Thoát Trung chính trị"cũng khó như vậy. Hiện nay, nhiều người chủ trương rằng muốn "thoát Trung chính trị" trước hết là phải lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng có ba vấn đề được đặt ra: (1) Liệu Trung Quốc và Hoa Kỳ có để cho lật đổ chế độ cộng sản hay không, hay vẫn dùng chế độ này như công cụ của họ? (2) Làm thế nào để lật đổ chế độ cộng sản? (3) Sau khi lật đổ chế độ cộng sản, có chắc "thoát Trung" được hay không? Đó là những vấn đề chúng tôi sẽ bàn sau. Lữ Giang
Chuyện lạy khi nhận chiếu chỉ của "Thiên triều" thời xưa
Về nguyên tắc, khi tiếp nhận chiếu sắc của thiên tử Trung Hoa, vua Việt và vua Triều Tiên đều phải quỳ lạy. “Sứ nhà giời” (thiên sứ) được coi ngang hàng với vua chư hầu, không cần lạy khi diện kiến. Từ Phu Viễn, sứ Nam Minh, là ông thiên sứ duy nhất bị buộc phải lạy vua Lê Thần Tông vào năm 1658, khi ông này tới Đại Việt xin viện trợ cho việc đánh Thanh. Từ có câu thơ ghi lại nỗi ấm ức này: “Mười năm hoang đảo lòng son khổ. Một lạy vua man khí tiết hoen” (1). Thời Lê, triều đình Việt áp dụng lễ của nhà Minh. Quan dân lạy vua, vua lạy trời, đều làm lễ “năm lạy ba dập đầu”. Phan Huy Chú cho biết: “Năm lạy ba dập đầu là lễ thờ trời, tôn kính bề trên… người trong cả nước, nhỏ học lớn làm, xưa nay quen thuộc.” (2) Tuy nhiên, năm 1669, Thanh Khang Hy đặt ra lễ “ba quỳ chín dập đầu”, bắt thiên hạ phải theo. Nghi lễ mới này trái với "quốc tục" theo quan niệm của nhà Lê, nên suốt từ năm 1669 tới năm 1761, việc dùng lễ "năm lạy ba dập đầu" hay "ba quỳ chín dập đầu" luôn là vấn đề gây tranh cãi giữa sứ Thanh và triều đình Đại Việt. Cụ thể áp dụng lễ nào sẽ do thái độ của từng ngài thiên sứ quyết định. Từ năm 1761 trở về sau, sau lệnh của Càn Long, vua Việt mới cam lòng sử dụng lễ “ba quỳ chín dập đầu” khi nhận chiếu sắc của vua Thanh. (3) Xem lại cổ tịch ghi chép sử Việt, riêng thấy có hai vị vua không chịu lạy chiếu sắc của triều đình Trung Hoa, một là Lê Đại Hành, hai là Trần Nhân Tông. Khi gặp sứ Tống, bên cạnh một loạt động thái ngoại giao “đầu gấu” như tặng cặp hổ cho sứ ngắm, sai khiêng mãng xà dài mấy trượng tới tặng cho sứ ăn v.v, Lê Hoàn nói "năm ngoái giao chiến với giặc mọi, ngã ngựa đau chân, nhận chiếu không lạy.” (4) Còn Trần Nhân Tông thì không một lần lạy chiếu chỉ. Thậm chí còn tự dùng lễ quân vương, coi việc thiên sứ ngang hàng với vua Việt là “làm nhục triều đình”. Câu chuyện này được chép rõ trong Nguyên sử như sau. Trần Nhân Tông gửi thư cho Trung Thư sảnh nhà Nguyên, có đoạn viết: “Nước tôi kính vâng thiên triều, đã được phong vương, há không phải quân vương sao? Sứ thần thiên triều lại nói quân vương và hắn, nghi lễ ngang hàng, e là làm nhục triều đình. Huống hồ nước tôi trước kia vâng chiếu chỉ, được theo tục cũ, phàm đón nhận chiếu thư, vâng đặt ở chính điện rồi lui lánh vào biệt thất, ấy là điển lễ cũ của nước tôi.” Trung thư sảnh phúc thư nói: “Liền mấy năm, sứ giả về nước đều nói: vương lần nào tiếp nhận chiếu lệnh của thiên tử, chỉ đứng chắp tay không lạy; gặp gỡ hoặc dự yến tiệc cùng sứ giả, chỗ ngồi còn ở trên sứ […] Đến như chiếu của thiên tử, bề tôi phải lạy đón, đó là lễ nghĩa xưa nay, không được sai khác. Vậy mà lại nói: trước vâng chiếu chỉ, thảy noi tục cũ, nước tôi tuân theo mà làm, phàm nhận chiếu lệnh, đều vâng đặt ở chính điện rồi lui lánh tới biệt thất, đó là điển lễ cũ vậy. Đọc đến đây, quả thực đột ngột kinh ngạc. Vương nói ra lời này, vương có yên lòng được không? Điều chiếu chỉ trước nói tới, ý chừng trong vòm trời đất không chỉ có vạn nước, nước nào có tục nước ấy, bắt thay đổi ngay, có điều bất tiện, vậy nên cho phép dùng tục nước mình, nhưng lẽ nào lại lấy việc không lạy chiếu của thiên tử làm lễ tục hay sao? Vả lại, mệnh lệnh của vương ban hành trong nước, bề tôi có kẻ tiếp nhận mà không lạy thì vương thấy thế nào? Người quân tử quý ở chỗ sửa sai, ngẫm đến sự sáng suốt, vương xem lại cho rõ!”
THẢO LUẬN THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ (1): GIÃ TỪ NỀN VĂN HOÁ QUỲ LẠY
Lê Phú Khải
Có lần, Hán Cao Tổ Lưu Bang (202 trước Công nguyên) nói với Lục Giả: “Ta ngồi trên lưng ngựa mà có được thiên hạ thì cần gì phải học Thi, Thư…”. Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng nghe lời khuyên của Lục Giả trọng dụng kẻ sĩ, đề cao Nho giáo để củng cố ngai vàng. Đến đời Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) thì đạo Nho trở thành quốc giáo. Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên, thọ 73 tuổi), người được xem là sáng lập ra Nho giáo được tôn lên bực thánh, trở thành Vạn thế sư biểu (người thầy của muôn đời).
Điều cốt lõi của Khổng giáo là lý thuyết về người quân tử, tức kẻ cai trị đất nước (quân là cai trị, quân tử là người cai trị). Theo Khổng Tử thì người quân tử phải biết tu thân, phải có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc… Tu thân rồi, người quân tử phải dấn thân hành động: tề gia, trị quốc, bình thiên hạ! Người quân tử phải chính danh để cai trị đất nước. Các triều đại phong kiến sau này đều triệt để khai thác Khổng giáo, họ biến đổi, “gia cố” Nho giáo thành một triết thuyết cực đoan có lợi cho giai cấp thống trị. Chữ đạo của Khổng Tử là những mối quan hệ phải có trong xã hội thời đó như đạo vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn hữu… sau này chỉ còn ba quan hệ vua-tôi, cha-con, chồng-vợ với cái logic phản động và phản dân chủ nhất: quân sử thần tử, thần bất tử bất trung (vua bảo chết, thần không chết là bất trung); phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu (cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu); với phụ nữ thì: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà thì phải theo cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết phải theo con).
Trong chế độ phong kiến, nhân dân đã tiếp thu những “đạo lý” đó như người khát nước uống thuốc độc để giải khát. Chế độ phong kiến tàn bạo và thối nát ở Trung Quốc đã nhờ triết thuyết của Khổng giáo mà tồn tại và kéo dài cho đến cách mạng Tân Hợi 1911.
Vì thế, nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) đã phê phán Nho giáo một cách triệt để: “Trên phương diện chính trị, Nho giáo chủ yếu là bảo thủ. Nó bỏ qua vấn đề pháp luật và thiết chế, từ chối mọi cải cách… Bảo vệ lễ nghi của các triều đại xưa là mối quan tâm hàng đầu của Khổng Tử. Trong chữ lễ, vương triều Trung Hoa cũng như Việt Nam đã tìm thấy biện pháp tốt nhất để duy trì sự ổn định của ngai vàng” (Bàn về đạo Nho – nguyên văn tiếng Pháp đăng trên tạp chí La Pensée số 10-1962 với đề là Confucianisme et Marxisme au Vietnam. Dịch sang tiếng Việt, in trong Bàn về Đạo Nho – 1993).
Với Khổng giáo, vua là Thiên tử (con Trời), thay Trời cai trị muôn dân. Vua với nước là một. Yêu nước là trung với Vua (trung quân ái quốc).
Điều nguy hiểm nhất của triết thuyết Khổng Tử là: Người quân tử nhờ tu thân mà có vai trò cai trị, nhưng khi quân tử – tức kẻ cai trị – không tu thân, trở thành những hôn quân bạo chúa thì dân chúng vẫn phải cam chịu, không được làm cách mạng lật đổ chúng. Vì thế Nguyễn Khắc Viện mới viết: Khổng Tử từ chối mọi cải cách!
Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cái văn hoá quỳ lạy ấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hoá quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý. Hay nói khác đi, không ai đi tìm chân lý cả. Chân lý đã có sẵn ở kẻ bề trên, ở triều đại chính thống, bất kể nó thế nào!
Điều trớ trêu là văn hoá quỳ lạy ấy còn tồn tại đến hôm nay ở nước Trung Hoa cộng sản. Tướng Lưu Á Châu, một nhà bình luận nổi tiếng ở Trung Quốc hiện nay kể rằng, khi ông đi học một lớp chính trị trong quân đội, thấy thầy giảng chướng quá, ông đứng lên thắc mắc. Ông thầy liền nói: Tại sao anh dám cãi lại tôi? Tướng Lưu Á Châu thất vọng, vì thầy đã không dám hỏi: “Vì sao anh lại nói như thế?”, rồi tranh luận để tìm ra chân lý. Thầy chỉ phán: “Vì sao anh dám cãi lại tôi?!”. Thầy luôn đúng. Trò không được cãi.
Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi!
Trong khi đó thì ở phương Tây, cùng thời với Khổng Tử, Aristote (384-332 trước CN) đã tuyên bố: “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!”. Cái văn hoá chân lý quý hơn thầy ấy đã dẫn dắt phương Tây trở thành một xã hội dân chủ và văn minh đến ngày hôm nay.
Việt Nam chúng ta từng một ngàn năm Bắc thuộc, lại luôn chịu ảnh hưởng của người láng giềng hủ bại Trung Hoa, nên tầng lớp có học của nước ta thấm đẫm thứ văn hoá quỳ lạy của Trung Hoa. Trí thức nước ta trong mấy ngàn năm lịch sử chỉ lo dùi mài kinh sử để mong đỗ đạt làm quan, để được quỳ lạy trước sân rồng. Có người già rồi còn đi thi, suốt đời ăn bám vợ con. Việc làm ra của cải vật chất đều do người phụ nữ và những người ít chữ gánh vác. Trí thức Việt Nam trong quá khứ không ai học để làm cách mạng, để thay đổi đất nước. Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau còn tồn tại đến hôm nay ở nông thôn miền Bắc là kết quả của tư duy làm quan, tư duy quỳ lạy. Báo chí của Việt Nam hôm nay hay ca ngợi một bà mẹ đi bán hàng rong mà nuôi được bốn năm người con học đại học. Học để mong kiếm một mảnh bằng vênh vang với làng xóm! Học để mong kiếm một cái chân trong cơ quan nhà nước, để trở thành một anh công chức, một anh nha lại, trên bảo dưới phải nghe.
Khi bàn về việc trọng dụng đội ngũ trí thức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có lần nói, đại ý, xung quanh thủ tướng toàn là những người có bằng cấp cao, thạc sĩ, tiến sĩ… toàn là trí thức!
Thực ra các vị đó chỉ là những công chức, không phải trí thức. Mà đã là công chức thì trên bảo gì dưới phải nghe theo. Nếu không nghe thì “văng” ra khỏi bộ máy quyền lực ngay lập tức. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện lúc bình sinh có nói với người viết bài này: “Tư bản Pháp chỉ tuyển chọn vào bộ máy những người đỗ đạt cao. Vì thế, khi vào một cơ quan công quyền, người ta biết rõ những người ngồi đó đều là người tài giỏi, vì thế, họ vừa có quyền, lại vừa có uy. Thế mới gọi là uy quyền. Nhưng quyền uy mấy thì cũng là công chức. Nhân dân Pháp chỉ kính trọng những trí thức tự do, vì họ dám phản biện xã hội, bảo vệ lẽ phải. Nước Pháp có hàng trăm nghìn hội đoàn độc lập. Đó là một lực lượng dân chủ hùng mạnh để cân bằng với chính quyền của giai cấp tư bản”.
Buồn thay, bộ máy công quyền của Việt Nam hôm nay chỉ tuyển chọn những người “dễ bảo” hoặc biết “mua bán”. Vì thế nó ngày càng xuống cấp. Có lần, trong một cuộc gặp gỡ có nguyên Bộ trưởng L.H.N., phó giáo sư tiến sĩ V.T.K. và người viết bài này, trong lúc vui vẻ, phó giáo sư V.T.K. than phiền với Bộ trưởng L.H.N.: Mấy tay vụ trưởng đi theo anh chuyến này vô Nam, qua nói chuyện tôi thấy các vị đó dốt quá! Nguyên Bộ trưởng L.H.N. nói: Ngày xưa dốt là từ cấp thứ trưởng trở lên, cấp vụ nó giỏi lắm, nay nó dốt xuống đến cấp vụ rồi!!!
Từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy, đã hình thành một tâm lý xin-cho trong xã hội. Khi nhóm Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn soạn thảo bộ sách Học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 theo hướng cải cách giáo dục, tôi đến chơi một người bạn cũ từng là một quan chức cao cấp, từng ở nước ngoài nhiều năm, có học thức cao… và tặng ông một trong các cuốn sách Học tiếng Việt đó. Cầm sách trong tay, ông nói ngay: Họ không cho lưu hành đâu anh ạ! Thì ra cái tâm lý xin-cho đã ngấm vào xương tuỷ giới trí thức nước ta. Trên phải cho thì dưới mới được làm! Dù chưa ai cấm đoán bao giờ!
Ít lâu sau, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa cho học sinh phổ thông học. Thế là tôi viết giới thiệu bài tập đọc “Lễ thả thuyền ra Hoàng Sa…” đã có trong sách Tiếng Việt lớp 1 của nhóm Cánh Buồm. Báo Người Lao động TP HCM đã đăng ngay bài đó trong tháng 1-2014 (vì… Thủ tướng đã… cho… nói về Hoàng Sa và Trường Sa!!!).
Ngày nay nước ta đã manh nha kinh tế thị trường, có bao nhiêu điều kiện và cơ hội để học làm người tự do, làm khoa học, làm chuyên môn, làm nghề… làm ra của cải cho một đất nước “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) thì trí thức nước ta cần mau chóng giã từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy có cội nguồn từ văn hoá Khổng Mạnh Trung Hoa để canh tân đất nước.
Để kết thúc bài viết này, tôi xin kể một câu chuyện về giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, ông sinh năm 1941 tại xã Điện Thắng Bắc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hiện ông là một Việt kiều ở Bỉ, hoạt động trong lĩnh vực khoa học không gian. Ông là một nhà khoa học rất nổi tiếng, là “một trong 10 người làm thay đổi nước Bỉ” như cách nói của chính phủ Bỉ. Ông giảng dạy ở bậc đại học đã nhiều năm, từng là trưởng Khoa Cơ học phá huỷ thuộc Khoa Kỹ thuật không gian Đại học Liège. Một ngày kia, đồng nghiệp của ông “phát hiện” ra ông chỉ có bằng kỹ sư, chưa có bằng tiến sĩ như bao đồng nghiệp khác đang làm việc cùng ông. Người ta đề nghị giáo sư Nguyễn Đăng Hưng làm hồ sơ để thi tiến sĩ. Khi giáo sư Hưng tập hợp các công trình mình đã làm và đã được ứng dụng trong sản xuất để trình Hội đồng, chuẩn bị cho luận án tiến sĩ sẽ làm, thì Hội đồng nhất trí cao rằng ông xứng đáng là tiến sĩ từ lâu rồi, khỏi cần thi! Tại một quán càfê ở đường Phạm Ngọc Thạch Quận 1 TP HCM cuối năm 2013 vừa qua, giáo sư Hưng tâm sự với chúng tôi: Mãi làm việc quá nên tôi… quên làm tiến sĩ.
Bao giờ cái văn hoá học để làm việc thay thế được văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy trong giới tinh hoa ở nước ta, thì Việt Nam mới mở mày mở mặt được.
L. P. K.
Thách thức danh hài: Trấn Thành quỳ lạy thí sinh 'bán lợn đi thi'

Chân dung thí sinh giành 100 triệu đồng từ Trấn Thành và Việt Hương 

Trấn Thành khen thí sinh Lê Thị Dần là ‘món quà của thần linh’ Tiếp nối tập 6, tập 7 Thách thức danh hài lên sóng tối 13.12 gây được nhiều tiếng cười cho người xem nhờ vào những màn trình diễn hài hước, những tiết mục tình huống gay cấn. Trong đó, phần thi của thí sinh Thanh Hóa phải bán gà, bán lợn để làm lộ phí đến gặp Việt Hương và Trấn Thành thu hút nhiều sự chú ý nhất. Lê Thị Dần là người chơi đến từ Thanh Hóa, hiện sinh sống trong vùng có nhiều dân tộc khác nhau. Xuất hiện trong trang phục người Thái trắng giản dị, chị nghiễm nhiên chiếm được cảm tình của Trấn Thành - Việt Hương bằng cách nói chuyện đơn giản, chân thật. Đặc biệt, Lê Thị Dần cũng là người chơi đầu tiên giành được giải thưởng 100 triệu của mùa 2 đồng thời chiếm sóng nhiều nhất lịch sử gameshow HTV (tổng thời lượng chị lên sóng chiếm gần 25 phút). Chị chia sẻ: “Tôi bán hai con chó và một con gà lấy 1,5 triệu đồng đi xe ra Hà Nội để sơ tuyển. Không ngờ được vô tiếp Sài Gòn để thi vòng trong. Ông xã lại bàn bán thêm hai con heo được 6 triệu đồng, vé máy bay hai vợ chồng đi Sài Gòn hết 3,1 triệu đồng, còn lại để dành ở nhà nghỉ, mình nắm cơm nếp đem theo kẻo ăn uống đắt đỏ. Nghe tôi đi Sài Gòn thì bà con trong xóm, vốn lâu nay thích mình diễn hài, cũng góp thêm cho 2 triệu đồng làm lộ phí. Vậy là đi thôi!”. 
Lê Thị Dần "mang" ông xã lên phụ tiết mục đầu 
Cô gái dân tộc bắt Trấn Thành cam kết "tặng 10 triệu" làm lộ phí về quê nếu lỡ không qua được phần thi 40 triệu 
Việt Hương cho rằng Lê Thị Dần "duyên khủng khiếp", có phong thái "chửi" khiến người ta thích thú sự xúc phạm này 
Trấn Thành khuyên thí sinh thi luôn giành 100 triệu: "Yên tâm đi chế nhiều đồ chơi lắm" Nhìn lại những vòng thi đấu đầu tiên của Lê Thị Dần có thể thấy chị đã khéo léo kể về cuộc sống thực tế ở một ngôi làng người Thái, nơi chị đang sinh sống. Theo đó, chị đưa ra những khái niệm mới, gây bất ngờ cho giám khảo như “hộ nghèo bền vững”, “bất quan điểm” hay “quanh năm túng thiếu nợ nần”. Những tiết mục của chị thú vị, mộc mạc và hài hước đến nỗi Trấn Thành và Việt Hương sẵn sàng “tài trợ 20 triệu lộ phí về xe” để chị có thể tự tin thể hiện khả năng bản thân đến vòng cuối cùng. Chia sẻ cảm nhận về chị Dần, Việt Hương không tiếc lời khen ngợi: “Việt Hương thấy chị thú vị, chị như một con chim hót, con chim bất chấp không gian và thời gian, với tốc độ nói nhanh, chị đem đến Thách thức danh hài cái nét duyên, cái nét mộc mạc của chị. Tôi yêu chị quá!” và “Chị là của hiếm trời cho mà chỉ có Thách thức danh hài mới tìm ra”. Không chỉ thế, sau mỗi màn trình diễn của thí sinh Dần, Trấn Thành cũng hào hứng dành những lời có cánh để chia sẻ cảm nhận đặc biệt về chị: “ngôi sao vi diệu”, “món quà của thần linh”, “thật thà không trọn vẹn” hay “ai đã cướp đĩa bay xuống trái đất của chị?”… Xuyên suốt phần thể hiện của chị, không ít lần khán giả được chứng kiến vị danh hài vui tính có những hành động thể hiện sự ngưỡng mộ như quỳ lạy, múa may, ôm hôn,.. 
Trên mạng xã hội, cư dân mạng cũng sục sôi với màn trình diễn của cô gái Thái 
Chỉ trong vòng ít phút được đăng tải, video phần trình diễn của chị Dần đã nhận được hàng ngàn lượt like và chia sẻ 
Việt Hương thích thú trước thí sinh đầu tiên giành 100 triệu đồng của chương trình 
Điểm nhấn trong tập 7 còn ở phần thi của người chơi Nguyễn Thị Chi. Làm nghề buôn bán, cô Chi “thân gái dặm trường” với quyết tâm chinh phục hai thần tượng là Trấn Thành - Việt Hương 
Năm nay cô Chi đã hơn 60 tuổi, đến từ Đà Nẵng, cô có màn tự giới thiệu khá ấn tượng: “Tôi tên thật là Nguyễn Thị Chi, có tên thường gọi là Cúc, nickname là Lúc Thị Kê, bà con thường gọi là Cúc Cô Đơn. Mọi người có thể gọi tôi là bé Cúc”. Giản dị, hài hước, các tiết mục của cô Chi cho thấy cách nhìn nhận của một người lớn tuổi với các hiện tượng xã hội gần đây. Ở vòng cuối cùng, do chưa chuẩn bị kĩ nên người chơi không tránh khỏi lúng túng. May mắn vào ngay giây cuối cùng, nhờ vô tình thốt lên câu “chết, hết giờ rồi”, giám khảo Trấn Thành đã bật cười. Giải thưởng cô nhận được là 20 triệu đồng. 
Ngoài Lê Thị Dần, cô Nguyễn Thị Chi, tập 7 còn có sự tham gia của 2 anh chàng sinh viên Minh Dự - Hải Cường. Theo học chuyên ngành Công nghệ thông tin và Văn học, Minh Dự và Hải Cường tạo ấn tượng nhờ vào sự đối nghịch trong khả năng diễn xuất. Nếu như Hải Cường duyên dáng, linh hoạt, biết nắm bắt tâm lý nhân vật thì Minh Dự lại khá “lệch tông” khi diễn xuất mờ nhạt. Kết quả, hai bạn phải ra về tay trắng do chưa “đủ đô” chọc cười giám khảo Theo Thanh niên
Giám đốc bắt người quỳ lạy giữa đường
Nghi ngờ bà Nguyễn Thị Gang (SN 1959) đi nói chuyện với nhiều người về việc con rể bà vào nhà nghỉ với con gái mình, ông Nguyễn Tiến Đạt (Giám đốc Cty TNHH Tấn Đạt) đã đến nhà chửi bới rồi bắt bà Gang ra giữa ngã ba Kế (thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang) quỳ lạy mình, lạy bốn phương.Trong bản luận tội của đại diện VKSND thành phố Bắc Giang tại phiên tòa xử Nguyễn Tiến Đạt về hành vi “làm nhục người khác” được TAND thành phố Bắc Giang mở ngày 7/4, nêu rõ: Sáng ngày 31/7/2013, Nguyễn Tiến Đạt (phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang) nghe điện thoại của vài người nói về việc bà Gang sang kể chuyện với hàng xóm ở khu vực ngã ba Kế rằng, con rể bà Gang đi nhà nghỉ với con gái ông Đạt hai lần.Ngay buổi trưa, Đạt đến nhà gặp bà Gang để hỏi về việc này thì bà Gang trả lời không có chuyện đó. Một lúc sau, Nguyễn Thị Lợi (chị gái vợ Đạt), Lại Tuấn Long (con rể bà Gang và một phụ nữ đeo kính đen, khẩu trang, mặc áo chống nắng) bước vào. Tại đây, Đạt và Lợi hỏi nhiều lần nhưng bà Gang đều trả lời là không nói nên hai bên to tiếng khiến nhiều người xung quanh xúm đến xem. | | Bà Gang chỉ đoạn đường bà bị bắt quỳ lạy. | Để chứng minh, hai bên dẫn nhau đến nhà bà Loan ở gần đó để gặp bà Dung (người mà Đạt cho là đã được nghe bà Gang nói chuyện) để đối chứng. Khi bà Dung tiếp tục nói không biết, Lợi tát vào mặt bà Gang. Người phụ nữ đeo khẩu trang, kính đen rút từ trong người ra một đoạn dây vụt liên tục vào người bà Gang.
Thấy vậy, Lại Tuấn Long vào can ngăn thì Đạt, Lợi và người đàn bà đeo kính đen lại đưa bà Gang về nhà bà Gang. Tại đây, Lợi và Đạt bắt bà Gang phải viết giấy xin lỗi nhưng bà Gang không nghe. Thấy vậy, Đạt bắt bà Gang phải đi ra ngã ba Kế để xin lỗi công khai trước mặt người dân. Vừa bị quỳ, vừa bị đánhCũng theo bản luận tội, khi đến đúng ngã ba Kế, Đạt, Lợi cầm ô đứng đối diện, cách bà Gang khoảng 1 mét. Giữa trưa Đạt cầm ô bắt bà Gang quỳ xuống giữa đường để xin lỗi. Bà Gang quỳ hai gối xuống đường rồi hướng tay về phía Đạt lạy 3 lần. Khi lạy xong thì Đạt, Lợi lại bắt bà Gang quỳ lạy bốn phương trời. Bà Gang lại tiếp tục lạy, khi bà đứng lên, Lợi tiếp tục lao đến dùng tay tát liên tiếp vào mặt… Cơ quan điều tra trưng cầu giám định mức độ tổn hại sức khỏe của bà Gang cho thấy tỷ lệ tổn thương là 2%.Tại phiên tòa ngày 7/4, nhiều nhân chứng tỏ ra gay gắt khi nói về hành vi của Nguyễn Tiến Đạt. Đáp lại những lời buộc tội ấy, Đạt phủ nhận những hành vi đánh và bắt quỳ lạy của mình. Đạt cho rằng, mình làm tất cả mọi việc chỉ là để bảo vệ uy tín của con gái mình lúc đó chưa có chồng. Bản thân doanh nghiệp của Đạt là doanh nghiệp lớn, được nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp, ngành.
Tòa án triệu tập lúc 7 giờ 30 phút nhưng hơn 8 giờ sáng Đạt mới đánh xe đến. Thậm chí trong lúc tòa đang xét xử, Đạt vẫn xin phép HĐXX ra ngoài nghe điện thoại. Còn Nguyễn Thị Lợi khai nhận toàn bộ hành vi của mình, chấp nhận bị phạt tiền và bồi thường cho bà Gang. Viện không nghe Tòa Vụ việc đã qua 3 phiên xử sơ thẩm. Hai phiên, HĐXX quyết định hoàn hồ sơ cho VKSND thành phố Bắc Giang yêu cầu tiến hành đối chất giữa bị cáo, người bị hại, người làm chứng về những mâu thuẫn trong lời khai để xác định có hay không việc Đạt ép buộc bà Gang quỳ lạy, ai là người trực tiếp bắt bà Gang quỳ lạy, yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Lợi, xem xét hành vi của “người phụ nữ bịt mặt”…
Tuy nhiên, VKS cho rằng, không cần thiết điều tra bổ sung nên chuyển nguyên hồ sơ cho Tòa án.Tại phần luận tội, VKS giữ nguyên quan điểm cho rằng, Nguyễn Tấn Đạt phạm tội làm nhục người khác và đưa ra hình thức xử lý là áp dụng hình phạt... Được nói lời sau cùng, Đạt vẫn không nhận tội. HĐXX tuyên bố tạm nghỉ để nghị án và sẽ tuyên án vào 14 giờ chiều nay (8/4).
Văn hóa bác Hồ XHCNVN: Một du khách Việt quỳ gối xin trả iPhone 6 ở SingaporeThứ Tư, ngày 05/11/2014 15:02 PM (GMT+7) Một cư dân mạng người Singapore vừa cung cấp đoạn clip quay cảnh du khách Việt quì lạy xin trả Iphone nhằm kêu gọi tẩy chay cửa hàng này. Vụ việc anh Pham Van Thoai người Việt Nam đi du lịch sang Singapore cùng bạn gái và bị lừa mua Iphone 6 tại một cửa hàng điện thoại di động ở khu Sim Lim Square với giá cắt cổ không chỉ gây xôn xao cộng đồng mạng Việt mà ngay cả ở Singapore, người dân cũng rất quan tâm đến sự vụ này. Theo diễn biến của sự việc, mới đây, trang tin Asiaone nổi tiếng của Singapore vừa đăng tải đoạn clip quay cảnh anh Thoai quỳ gối xin trả Iphone 6 được cho là của một độc giả chứng kiến sự việc gửi đến. Trong đoạn clip này, có thể nghe rõ giọng một người đàn ông (có thể là nhân viên cửa hàng) hỏi anh Thoai “bây giờ anh định giải quyết số tiền như thế nào”. Anh Thoai (người đàn ông mặc áo màu xanh da trời) khóc lóc trong tuyệt vọng và trả lời “Tôi không biết. Tôi vay tiền của bạn nên tôi cần tiền để trả lại cho bạn. Các anh có hiểu không?” Sau đó, anh quỳ xuống chắp tay lạy những nhân viên trong cửa hàng Mobile Air để xin được trả lại số tiền vừa mua chiếc Iphone 6.   Anh Thoai quỳ lạy nhân viên cửa hàng Mobile Air (hình ảnh cắt ra từ clip)
Hành động lừa đảo của cửa hàng điện thoại Mobile Air đã thực sự tạo nên sự phẫn nộ trong cộng đồng mạng Singapore, nhất là khi đây không phải là lần đầu tiên cửa hàng này có hành vì lừa khách du lịch. Trước đây một nữ du khách người Trung Quốc cũng đã bị lừa mua Iphone 6 tại cửa hàng cũng với chiêu thức như vậy. “Tôi hy vọng đoạn video clip này sẽ được đăng tải để mọi người có thể thấy được Mobile Air đã đối xử với khách du lịch của chúng ta như thế nào”, độc giả Singapore – người cung cấp đoạn video clip này cho biết.   Câu chuyện du khách Việt Nam bị lừa tại Simlim Square và phải quỳ gối cầu xin chủ cửa hàng trả lại tiền cho mình - đã tạo nên một cơn bão không chỉ ở mạng xã hội Việt Nam mà còn ở ngay tại Singapore.
Cũng trong một diễn biến mới đây, cửa hàng Mobile Air tại Sim Lim Square ngày hôm nay đã phải tạm đóng cửa trước sức ép và sự lên án của cộng đồng mạng Singapore. Nhiều fanpage đã được lập ra nhằm mục đích yêu cầu Mobile Air phải hoàn trả đầy đủ số tiền do du khách Việt Nam và cam kết sẽ gây áp lực cho đến khi nào chủ cửa hàng thực hiện.
Hối lộ Tâm Linh thời CS: Lòng tham của người Việt khiến đền, chùa quá tải vào đầu nămDân trí Đầu năm đi lễ chùa, đền, phủ, miếu… để cầu bình an là nét đẹp bao đời của người Việt. Nét đẹp này từng là sự kiêu hãnh, là nét văn hoá đặc trưng của cả một dân tộc được trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tuy vậy, theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu thì nét văn hóa ấy đang bị lòng tham gây kém đẹp.Quá tải là do lòng tham? Có thể nói, chưa bao giờ tình trạng đi lễ chùa lại bát nháo và quá tải như nhiều năm gần đây. Chỉ tính riêng năm nay, ngay trong những ngày mồng mồng 2, mồng 3 Tết đã có hàng vạn người đổ về các điểm di tích như: chùa Phúc Khánh, Phủ Tây Hồ, đền Bia Bà, chùa Quán Sứ, chùa Trấn Quốc, chùa Hương (Hà Nội), chùa Yên Tử, đền Cửa Ông (Quảng Ninh), đền Trần, phủ Dầy (Nam Định), đền Bà Chúa Kho, chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chùa Hương Tích (Hà Tĩnh), quần thể danh thắng Tây Thiên (Vĩnh Phúc)… để lễ bái. Chen chúc đi lễ ở Phủ Tây Hồ vào dịp đầu năm. Ảnh: Nguyễn Dương. Ông Nguyễn Chí Thanh, Trưởng Ban quản lý Khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn cho biết, từ ngày mùng 1 Tết đến nay, mỗi ngày di tích này đón hàng vạn du khách về thắp hương và vãn cảnh chùa. Riêng ngày mùng 3 Tết, lượng du khách về trẩy hội chùa Hương là 3,9 vạn, ngày mùng 4 Tết là 5 vạn. Do lượng người quá đông nên không ít khách thập phương phải ở ngoài vái vọng và ra về vì không vào được bên trong động Hương Tích để thắp hương. Khu di tích và danh thắng Yên Tử cũng không thua kém. Ngày mồng 4 Tết, di tích này đã có hơn 2 vạn du khách đổ về hành lễ, ngày mồng 6 Tết chạm mốc 4 van. Trong 6 ngày Tết, khu di tích này có tới 11,5 vạn người đổ về hành lễ. Cáp treo bị quá tải, bãi trông giữ xe chật cứng như nêm, hiện tiện ùn tắc cục bộ trên QL18 diễn ra trong thời gian dài... GS Ngô Đức Thịnh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam cho rằng, việc người dân đổ xô về các đền, chùa, phủ, miếu… để lễ bái dịp đầu năm hoặc đổ xô về các lễ hội chứng tỏ các điểm thờ tự, lễ hội còn đáp ứng những nhu cầu xã hội. Đặc biệt, trong xã hội thị trường hiện nay, chuyện người người, nhà nhà kéo nhau đi đến các điểm thờ tự, tâm linh để cầu xin cũng là điều dễ hiểu. Cái đó phù hợp với xu hướng xã hội. Biển người ở động Hương Tích vào lúc 4 - 5h sáng những ngày đầu năm 2016. Ảnh: Thế Kha. Tuy nhiên, thực tế là việc đổ xô đến các điểm thờ tự đang mang tính phong trào và bị “thực dụng hoá” khiến cho các điểm tâm linh bị quá tải. Và hệ quả là hàng loạt các vấn nạn xảy ra làm cho nét văn hoá đáng tự hào bỗng trở nên đáng sợ. Cụ thể, đó là chuyện chen lấn xô đẩy để được vào nội cung lễ bái, chuyện mất cắp do đội quân đạo chích lợi dụng đông người trà trộn, chuyện hương khói nghi ngút cửa đền dẫn đến nguy cơ hoả hoạn luôn rình rập, nạn chặt chém ở các quán hàng, nạn khấn thuê kêu mướn lấy giá cắt cổ, đốt hàng tấn vàng mã gây lãng phí, nạn vứt rác bừa bãi khắp khu di tích… chỉ mới kể ra ngần đó thôi đã đủ thấy được “bức tranh” lễ chùa đầu năm không sáng sủa chút nào. Điều đáng nói hơn là việc đổ xô đi lễ chùa bây giờ không đơn thuần là vừa đi cầu bình an, vừa du xuân vãn cảnh nữa mà đã bị biến tướng thành “trào lưu” đi giải hạn, đi cầu thăng quan tiến chức, đi “mua chuộc” thần Phật… Vì mang tâm lý này nên người ta không “lòng thành thắp một nén nhang” nữa mà lúc nào cũng mâm cao lễ lớn, vàng mã đốt cả xe ô tô, cứ phải vào được hậu cung mới gọi là lễ… Và chẳng ai chịu nhường ai, cứ thế chen chúc, mạnh ai người nấy được, phải làm sao khấn to nhất dài nhất, đặt lễ vị trí đẹp nhất, đồ lễ xịn nhất thì mới chịu. Cứ thế, tình trạng quá tải ở các điểm di tích, tâm linh năm nào cũng xảy ra. Trả lại cho truyền thống nét đẹp vốn có “Đi lễ chùa đền để cầu bình an là nét đẹp nhưng cũng phải ở mức độ vừa phải. Các cụ ngày xưa cũng cầu xin nhưng người ta vẫn lao động cật lực chứ không phải như bây giờ, nhiều người đi cầu xin rồi ngồi đó chờ của đến. Âm phù là phù cho sự bình an, cho sức khoẻ để làm việc chứ không phải phù cho của rơi vào đầu, cho lấy hết nợ, cho lên làm ông nọ bà kia…. Thế nên, cứ đổ xô đi sắm hàng mâm cỗ tiền triệu để lễ chùa, để cầu hết điều này qua điều khác là một sự mê muội. Nói theo ngôn ngữ nhà Phật đó là sự tham sân si. Quan điểm đó, tư tưởng đó, xu hướng đó cần phải phê phán. Chúng ta phải khắc phục tư tưởng cứ lễ to là được, cứ đến gần với tay Phật là được, cứ xin là được… Điều này hoàn toàn sai văn hoá, sai truyền thống. Tín ngưỡng là lòng thành chứ không phải do mâm cao lễ lớn. Các cụ ngày xưa nói câu rất hay đó là “lòng thành thắp một nén nhang”, một nén nhang là thần Phật đã chứng cho rồi. Bây giờ anh thắp cả nắm, vàng mã đốt cả xe, lễ thì không có chỗ mà để… cái đó trái với tín ngưỡng truyền thống của cha ông xưa”, GS Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh. Xếp hàng dài giữa nắng để chờ được vào ga cáp treo ở Yên Tử vào những ngày đầu năm 2016. Ảnh: Lao Động. GS Nguyễn Lân Dũng cũng cho rằng, cứ sống với một tâm thiện, hành thiện và nỗ lực trong cuộc sống thì mọi việc sẽ đến chứ lễ lạt, xin xỏ… chẳng có ý nghĩa gì cả. “Tâm không sáng thì có đi xin cũng chẳng thánh thần nào cho lợi lộc ấy cả. Đến đền chùa phủ với tâm thức của mình để mong một năm được nhiều điều tốt đẹp thì chớ, còn cứ bạ đâu xin đó lại trở thành vô duyên. Tôi tin thần thánh không bao giờ cho những người hay xin xỏ mà không chịu làm hoặc sống bất thiện cả. Cứ tin vào câu “Ở hiền gặp lành” đi, ông bà xưa nói không có sai đâu. Nỗ lực lao động, cố gắng phấn đấu, sống sao cho tốt, tu nhân tích đức… thì chẳng cần đến đền chùa phủ lễ thần thánh cũng sẽ độ trì… đó là cách giảm tải cho đền chùa phủ đấy và trả cho truyền thống nét đẹp vốn có”, GS Nguyễn Lân Dũng nói. Theo GS Nguyễn Lân Dũng, việc đốt vàng mã thì từ thời cụ Nguyễn Công Tiễu (người Việt đầu tiên trong Hội đồng Nghiên cứu khoa học ở Đông Dương) cũng đã phản đối rất kịch liệt. “Trước Cách mạng Tháng Tám cụ Tiễu đã từng có bài báo đả kích chuyện đốt hàng bao nhiêu tấn vàng mã gây lãng phí. Ngày nay, có doanh nghiệp còn chở cả xe tải vàng mã đi đốt để cầu xin đủ chuyện trên trời dưới đất. Tôi cho rằng, việc lễ bái là bằng tâm thành nên ở mức độ vừa phải thì được, còn quá đà thì không thể chấp nhận được”, GS Dũng chia sẻ thêm. Theo GS Nguyễn Lân Dũng, các tình trạng kể trên ngày càng diễn ra với mức độ nghiêm trọng hơn là do tuyên truyền chưa quyết liệt lắm. Cảnh đốt vàng mã rất phổ biến ở các điểm di tích tâm linh. Ảnh: TL. Một số nhà văn hoá cũng đồng tình với GS Nguyễn Lân Dũng khi cho rằng việc tuyên truyền chưa thực sự quyết liệt nên nhiều người dân vẫn còn mơ hồ trong niềm tin mang tính tâm linh của mình. Cụ thể, đến tận bây giờ nhiều người dân vẫn tin phải đến chùa nổi tiếng lễ mới thiêng, cầu gì được nấy chứ chùa quê không thiêng. Cho nên mới xảy ra tình trạng chùa nhỏ thì vắng, chùa lớn lại đông. Bên cạnh đó, người Việt đôi khi vì tham lam mà bỏ qua cả “văn hoá xếp hàng”, quên cả sự nhường nhịn, quên cả sỹ diện bản thân… Một số nhà nghiên cứu văn hoá tỏ ra thất vọng khi xã hội càng phát triển con người lại càng mê muội và tham lam. Chính lòng tham đang huỷ hoại dần những nét văn hoá mà cha ông đã mất bao công sức gầy dựng. Cứ đà này, kể cả các cơ quan quản lý văn hoá có nỗ lực đến mấy thì cũng không thể quản lý nổi nếu mỗi người dân không chịu nâng cao ý thức của bản thân mình. Hà Tùng Long |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|