Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 2
 Lượt truy cập: 29441368

 
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP 28.06.2026 09:00
Tội ác từ ngòi bút đồng lõa: 91 Năm Báo Chí VC Cong Lưng, Cúi Đầu
24.06.2016 11:44

Phạm Trần 
Nền Báo chí mệnh danh Cách mạng ở tuổi 91 của Nhà nước Cộng sản Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2016) nên được đánh gía như thế nào trong lịch sử Báo chí Việt Nam?

Trước hết, loại báo này không phải là báo của quần chúng mà là của các Tổ chức của đảng và nhà nước. Chúng ra đời với mục đích duy nhất để phục vụ và tuyên truyền cho đảng.


Nhiệm vụ của báo chí đảng được quy định rành mạch trong Luật Báo Chí (sửa đổi), ban hành ngày 05/04/2016 (Luật số: 103/2016/QH13): “Là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân.…” (Điều 4)

Nhưng “diễn đàn của Nhân dân” không có nghĩa người dân được quyền phê bình hay chỉ trích giới Lãnh đạo, nhất là đồi với 4 chức vụ chủ chốt gồm Tổng Bí thư đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng.

Ý kiến nhân dân, đa phần có nội dung thuận lợi cho đảng và những việc làm của cán bộ, chỉ được đăng tải sau khi được chắt lọc bởi Tổng biên tập, một cán bộ của Nhà nước làm việc trực tiếp với Ban Tuyên giáo đảng.

Những phản biện không đáp ứng nhu cầu của đảng như những bài góp ý kêu gọi bỏ Điều 4 Hiến pháp dành quyền lãnh đạo độc tôn đương nhiên cho đảng đã bị dẹp bỏ vào dịp Nhà nước lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp năm 2013.

Báo đảng cũng không được phép đưa tin khi có phong trào quần chúng và Hội đồng Giám mục Việt Nam, đại diện cho trên 7 triệu người Công giáo, lên tiếng đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp và loại Chủ nghĩa Cộng sản ra khỏi Hiến pháp mới.

Họ cũng không dám tường thuật các vụ Cảnh sát và Công an đội lốt côn đồ tấn công người biểu tình chống Trung Quốc từ năm 2007. Thiếu sót có chủ trương này được chứng minh trong các cuộc tập trung hay biểu tình bất bạo động của người dân ở Sài Gòn và Hà Nội để tưởng niệm các chiến sỹ và anh hùng đã hy sinh trong các cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền ở Hòang Sa (1974); Cuộc chiến chống Trung quốc xâm lược biên giới (1979) và chống Trung quốc xâm lăng Trường Sa năm 1988.

Ngược lại, báo nhà nước đã đăng tin và đầy đủ hình ảnh của Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh mang cờ đỏ sao vàng xuống đường để diễn hành hóa giải và làm lu mờ các cuộc biểu tình chống Tầu của người dân.

Những phát biểu phẫn nộ của người dân chỉ trích hành động của nhà nước hay nhằm vào Trung Quốc trong các biến cố này đều không thấy xuất hiện trên báo đài nhà nước. Thậm chí nhiều báo còn đưa tin chỉ trích người biểu tình đã chống lại lực lượng bảo vệ trật tự đường phố. Báo đảng cũng rất tích cực chạy tin các viên chức Nhà nước và Công an lên án những ngưởi mà họ quy chụp đã bị “các thế lực thù địch chống đảng” thúc đầy kích động đi biểu tình, dù không trưng ra được bằng chứng nào.

Những việc này chứng minh báo đài nhà nước không phải là “diễn đàn của nhân dân” mà là những cái loa tuyên truyền cho nhà nước.

BÁO CHÍ VÀ NGÂN SÁCH

Nhưng lấy tiền đâu ra làm nhiệm vụ này ?

Theo số thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) hiện nay ở Việt Nam có hơn 20.000 người phục vụ tại hơn 800 cơ quan báo chí và 17.000 người được cấp thẻ Báo chí.

Chi phí ngân sách hàng năm của nhà nước dành cho lực lượng công nhân này là bao nhiêu không ai biết vì không có báo nào của nhà nước có thể sống tự túc. Bộ TTTT cũng không có báo cáo số tiền đã chi ra cho các báo hàng năm từ Trung ương xuống cơ sở.

Lý do các cơ quan báo chí đảng được tài trợ vì số người mua báo càng ngày càng ít. Ngoài nội dung khô khan, không đáp ứng nhu cầu người đọc, báo đảng còn chạy theo thị hiếu tầm thường, nhiều khi phản cảm và thông tin một chiều.

Các cơ quan báo chí lại tự phát ra thêm các báo, thành lập đài riêng để lấy tiền nhà nước và phô trương thành tích cho cơ quan mình phục vụ.

Bài viết của Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội trên báo Giáo dục Việt Nam ngày 04/11/2015 là một bằng chứng.

Ông viết: “Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, tới nay, cả nước đã có trên 800 cơ quan báo chí, với gần 1.500 ấn phẩm, 68 đài phát thanh, truyền hình. Thậm chí, một số địa phương còn tổ chức đài phát thanh - truyền hình cấp huyện.

Sự phát triển của báo chí thể hiện tác động tích cực của Luật Báo chí trong cuộc sống. Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh số lượng cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo trong khi vẫn duy trì chế độ bao cấp về xuất bản và phát hành đang đặt ra những vấn đề cần được điều chỉnh kịp thời.

Đại bộ phận báo, đài hiện nay vẫn được Nhà nước bao cấp toàn bộ hoặc một phần về nhân sự, trụ sở, trang thiết bị, chi phí in ấn và được phát hành tới các đơn vị hành chính, các tổ chức chính trị, xã hội cũng bằng ngân sách nhà nước.

Số cơ quan báo chí tự cân đối thu chi một cách thực sự chỉ vào khoảng trên dưới 10 đơn vị và cũng chỉ đối với khoảng vài chục ấn phẩm báo chí; chỉ một vài đài phát thanh - truyền hình có thính giả, khán giả thường xuyên.”

Không những thế, theo vị nguyên Đại biểu Quốc hội Tỉnh Lạng Sơn nổi tiếng cương trực thì: “Một số cơ quan báo chí còn đồng thời sở hữu nhiều loại hình báo chí, như Thông tấn xã Việt Nam có bản tin, báo in, báo điện tử và kênh truyền hình riêng; Đài Tiếng nói Việt Nam cũng có báo in, báo điện tử và kênh truyền hình.

Bên cạnh đó, một số ngành cũng thành lập riêng các đài truyền hình của mình. Sắp tới một kênh truyền hình cũng được thành lập ở Báo Nhân Dân. Có thể nói đây là hậu quả của chính sách bao cấp tràn lan, thiếu quy hoạch hợp lý trong một thời gian dài, gây lãng phí lớn về thời gian, công sức và tiền của, cần sớm được khắc phục.”

Rất tiếc những lời cảnh giác của vị Giáo sư khả kính ở Hà Nội đã bị nhà nước bỏ ngoài tai. Các “Đối tượng được thành lập cơ quan báo chí” quy định trong Điều 14 Luật Báo chí mới vẫn là thứ đặc quyền đặc lợi của:

“1. Cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được thành lập cơ quan báo chí.

2. Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật khoa học và công nghệ; bệnh viện cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên được thành lập tạp chí khoa học.”

Các loại báo chí này chỉ để phục vụ lợi ích cho phe nhóm nhưng ngân sách nhà nước phải đài thọ từ đồng tiền lao động của dân là sự lãng phí vô trách nhiệm của nhà nước.

SỐ NHIỀU NÓI ĐƯỢC BAO NHIÊU?

Vì vậy nếu khoe khoang Việt Nam có tự do báo chí căn cứ trên tổng số báo, đài hoạt động còn là sự sỉ nhục cho kiến thức người hành nghề báo chí.

Bởi vì người làm báo của nhà nước buộc phải: “Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” (Mục b, Điều 4 Luật Báo chí).

Tóm tắt lại là báo chí phải ưu tiên bảo vệ đảng cầm quyền và chế độ Cộng sản mệnh danh dân chủ trá hình là “xã hội chủ nghĩa”.

Không những thế, báo chí ở Việt Nam còn bị “qủan lý” bởi hệ thống cầm quyền từ Trung ương xuống tận Ủy ban Nhân dân cấp Tỉnh như quy định tại Điều 7 của Luật Báo chí mới:

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí.

2. Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương.

Vì nhà nước kìm kẹp báo chí như thế nên Tổ chức Ký gỉa không biên giới (Reporters Sans Frontières, hay Reporters Without Borders) đã liệt kê, trong báo cáo năm 2016 của họ, Việt Nam đứng gần cuối bảng 180 nuớc không có tự do báo chí.

Theo RSF thì Việt Nam đứng hàng 175/180, chỉ trên Trung Quốc, Syria, Turkmenistan, North Korea và Eritrea nhưng đứng sau Lào (173/180) và sau xa Cao Miên (128/180)

NHÀ BÁO HAY CÁN BỘ?

Đáng chú ý là Luật Báo chí mới ( Điều 9) còn cấm không được “Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận chính quyền nhân dân;phủ nhận thành tựu cách mạng” của đảng, nhưng lại mở cửa tự do cho báo chí tha hồ xuyên tạc, vu khống và bôi nhọ các Chế độ không Cộng sản đã có trong lịch sử nước Việt Nam.

Đối với lịch sử 20 năm của Việt Nam Cộng Hòa và Chính quyền Quốc gia trước năm 1945 thì đổi trắng thay đen để mạ lỵ không sợ gẫy lưỡi là một nghề từ lâu của cán bộ Tuyên giáo và Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam.

Do đó khi nói đến “Quyền và nghĩa vụ của nhà báo” quy định trong Điều 25 thì Luật Báo chí mới buộc báo chí phải:

a) Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân;

b) Bảo vệ quan Điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, tuyên truyền và bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm.

Nhưng thế nào là “phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân” thì không thấy minh định. Riêng việc nhà báo phải “Bảo vệ quan Điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước” thì rõ ràng nhà báo là cán bộ của đảng, dù là đảng viên hay chưa là đảng viên.

Nếu là đàng viên thì họ còn phải tuân hành nghiêm chỉnh Quy định tại Điều 2 của Điều lệ đảng năm 2011 là: “ Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.”

Sự ràng buộc bắt buộc này được tròng vào cổ người hành nghề báo chí trong chế độ CSVN cho thấy họ không có tự do tư tưởng. Nếu thấy đảng sai trái cũng không dám phản biện vì miếng cơm manh áo sẽ bị lấy mất nếu làm khác.

Do đó nhân dân cũng không có tiếng nói trong sinh hoạt chính trị một đảng cầm quyền, hay trên báo chí của nhà nước vì đảng không chấp nhận đảng chính trị đối lập và không cho phép tư nhân ra báo. Người dân chỉ được tiếp cận thông tin một chiều của nhà nước kiểm soát.

TƯỜNG LỬA VÀ INTERNET

Tình trạng này đã một phần được thay đổi từ cuối Thế kỷ 20 khi hệ thống thông tin tòan cầu Internet bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam. Một bộ phận người dân, đa phần là trí thức và giới sinh viên và học sinh có nhu cầu tiếp cận để nghiên cứu, biết cách chui qua các hàng rào cản của nhà nước hay vì nhu cầu giáo dục thì họ đã tiếp cận được các nguồn thông tin tự do trên thế giới.

Nhưng không phải bất cứ loại tin nào của Thế giới, qua hệ thống thông tin tòan cầu Internet, cũng đến được với người truy nhập ở Việt Nam. Nhà nước CSVN đã thiết lập hệ thống kiểm soát gọi thông dụng là “bức tường lửa” để ngăn chặn những tin hay bài viết không phù hợp với chính sách của đảng, hay còn được gọi là “nhạy cảm” và “chống đảng, chống lại nhân dân”.

Một hệ thống kiểm soát thông tin trên Internet đã được Ban Tuyên giáo đảng phối hợp với hai bộ Công an và Quốc phòng áp dụng từ mấy năm qua. Việc này đã gây ra nhiều khó khăn nhưng các giới đấu tranh dân chủ, nhân quyền và quyền tự do ngôn luận vẫn biết cách len lỏi để tiếp cận với thế giới bên ngoài Việt Nam.

Hẩm hiu nhất vẫn là các thành phần công nhân, nhân dân lao động và nông dân chiếm đa số trong hơn 90 triệu người dân. Họ tiếp tục bị nhà nước bưng mắt trước tiến bộ và phát triển của khoa học thông tin tòan cầu. Hàng ngày họ vẫn phải tiếp cận với thông tin một chiều do đảng kiểm soát.

TIẾNG NÓI TỪ CON TIM

Tỷ dụ như các thông tin vụ cá chết ở miền Trung từ ngày 06/04/2016 là một bằng chứng. Nhà nước hứa điều tra cho ra ngọn ngành và sẽ trừng phạt thủ phạm gây ra thảm trạng này nhưng đã hơn 2 tháng mà nhân dân vẫn chưa được thông tin.

Nhà nước nói các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân nhưng chưa chịu công bố. Tại sao, không ai biết lý do. Và cũng tại sao lại chọn thời điểm cuối tháng 6 mới cho dân biết? Có ẩn ý chính trị hay kỹ thuật gì khi chọn thời gian này không?

Báo chí nhà nước cũng không được phép đi thăm dân cho biết sự tình, dù ít nhất 5 triệu người đang khốn khó vì mất miếng cơm từ biển ở 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.

Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, người bị nhà nước CSVN ép buộc rời nhiệm ở Hà Nội năm 2010 đã đến thăm Giáo dân Giáo xứ Đông Yên thuộc xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ngày 16.06.2016.

Ngài nói: “Khi chứng kiến tất cả đời sống của họ cũng như đi thăm tất cả các bờ biển, tôi cảm thấy đau xót, có thể nói là một cảnh chết chóc. Tôi vào một nhà nghỉ khá lớn của Hà Tĩnh thấy khách vắng hoe, chả thấy khách đâu cả. Rồi đi ra bãi biển thấy thuyền nằm chất đống ở đó, có những con thuyền chỉ còn đậy những tấm vải y hệt như những thân thể bị liệt thì đúng là một cảnh chết chóc. Ở bờ biển không có một sinh vật nào cả, trên bãi cát không có một con dã tràng nào. Tôi thấy ở các bãi biển đều có những con vật nhỏ li ti như con dã tràng, con cua, con ốc thì bãi biển này hoàn toàn chết hết rồi, không còn một tí gì là sự sống nữa. Khi chúng tôi xuống biển, tất cả mọi người đều hết sức đề phòng để cho nước biển không được dính vào chân. Họ kéo thuyền thật cao trên bãi cát, xong rồi thì có thể bước lên bờ để chân mình khó có thể dính nước biển… Cả một sự chết chóc như vậy.” (Theo Huyền Trang/Tin mừng Cho Người Nghèo)

Thật hãi hùng và bi thảm nhưng tại sao hàng chục ngàn Nhà Báo của đảng từ Trung ương đến Địa phương không thấy?

Nên biết Luật Báo chí đã minh định: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội” và có nhiệm vụ phải “Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân…”

Vậy hình ảnh của Đức TGM Ngô Quang Kiệt nói về sự chết ở Huyện Kỳ Anh-Vũng Áng không phải là “tin thiết yếu đối với đời sống xã hội” hay sao?

Sự chết dưới mắt TGM Kiệt được diễn ra tiếp theo:”Trong làng trong xóm sự chết chóc đang dần mòn đi tại vì những người dân đánh cá đã ba tháng nay không ra biển thì chả còn thu nhập gì cả. Thành ra chúng tôi thấy sự chết dần mòn. Người ngư dân chết trực tiếp, cá chết thì người đánh cá cũng chết, những người làm nghề liên quan đến nghề cá như người bán xăng cho những tàu đánh cá cũng chết, những người làm chài lưới cũng chết, những người buôn bán hải sản cũng chết, những người chế biến hải sản cũng chết, ngành du lịch cũng chết, bao nhiêu sự chết kéo theo. Người ta đoán là có ít nhất là 5 triệu người bị ảnh hưởng bởi vụ cá chết này. Hết sức là đau xót, xung quanh đó hết sức là hoang tàn, không còn sức sống, người ta ai cũng mệt mỏi, rã rời và buồn chán.”

Nhưng sự chết bi thương này sẽ còn kéo dài cho đến thế hệ người dân thứ bao nhiêu ở Giáo phận Vinh của Đức cha Nguyễn Thái Hợp?

Đức cha Hợp nói với 50 nghìn người, không phân biệt tôn giáo, trong đại lễ mừng kính Thánh Antôn tổ chức tại Linh địa Trại Gáo (Nghệ An) vào sáng thứ Hai ngày 13.06.2016: “Chúng ta đang sống trong thời khắc bi thảm vì chưa bao giờ đất nước chúng ta trải qua một thảm họa môi trường biển như đã xảy ra cách đây hơn hai tháng.

Chúng ta xin thánh Antôn cho chúng ta tìm lại môi trường biển đã đánh mất đó, tìm lại nguồn biển an lành và trong sạch. Đó là một nguồn thực phẩm bổ dưỡng và lành mạnh. Đó là một môi trường của bao nhiêu ngư dân đất Việt đang sinh sống, đã sinh sống và sẽ sinh sống từ nguồn biển trong lành.

Hôm nay môi trường đó đã bị nhiễm độc và biển đang kêu lên từ hai tháng qua nhưng vẫn không có được một giải đáp đâu là nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường và ai là người đã gây ra thảm họa môi trường. Chúng ta phải tiếp tục can đảm yêu cầu nhà cầm quyền, những người có trách nhiệm với đất nước với đồng bào mình phải công bố nguyên nhân. Công bố càng sớm càng hay! Và yêu cầu ai là người đã gây tác hại cho môi trường biển phải đền bù cho ngư dân thỏa đáng.”

Đức cha Hợp nói tiếp về sự chết mà Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã chứng kiến:”Trong những ngày qua được đến thăm đồng bào ở vùng biển bị tác hại, tôi đã có cơ hội được nhìn thấy những con thuyền nằm chơ vơ trên cát nhớ biển khơi xa. Bao giờ những con thuyền đó mới được ra biển trở lại? Và bao giờ những ngư dân đánh bắt gần bờ mới có thể tiếp tục lại nghề của mình?

Thảm họa môi trường biển miền Trung chỉ là những giọt nước nhỏ làm tràn ly. Và qua giọt nước làm tràn ly đó, ta thấy đất nước chúng ta chưa bao giờ rơi vào tình cảnh thảm họa môi trường không những môi trường biển mà là môi trường nông nghiệp, môi trường rừng. Và trên bàn ăn của người Việt Nam hôm nay chưa bao giờ đối diện với tình cảnh thê thảm ô nhiễm như vậy.”

Bằng giọng nói như có nước mắt tràn ra, Đức cha Hợp lo âu: “Mâm cơm” hôm nay của người Việt Nam còn rất nhiều khủng hoảng như “mâm cơm giáo dục”. Chưa bao giờ giáo dục xuống cấp như vậy. Chưa bao giờ giáo dục rơi vào hoàn cảnh dạy chữ không nổi, huống hồ dạy người. Chưa bao giờ bạo lực học đường tràn lan và công khai như hôm nay. Chưa bao giờ con cái của các quan chức và đại gia lại bỏ nước ra đi học ở nước ngoài nhiều như vậy, để lại trường lớp cho con cái nhà nghèo.

“Mâm cơm văn hóa”, “mâm cơn nhân bản”, “mâm cơm tình người” chưa bao giờ bẩn như hôm nay, khi con người xử ác và xử tệ đến như vậy. Chưa bao giờ con người Việt Nam bạo động, nóng nảy và hung ác như vậy. Chỉ cần ra đường va chạm nhỏ cũng dẫn đến bạo động, đả thương nhau! Tình nghĩa đồng bào còn đâu! Đâu còn những giá trị văn hóa và tâm linh! Còn đâu câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tại sao con người hôm nay lại xuống cấp thê thảm về giáo dục, văn hóa, và nhân bản đến như vậy?”

Báo chí được mệnh danh “cách mạng” của đảng Cộng sản Việt Nam sinh ra vào năm 1925, khi Báo Thanh Niên do ông Hồ Chí Minh sáng lập ra đời. Nhưng trong suốt 91 năm qua, những người phục vụ cho nền báo chí này chỉ biết cong lưng và cúi đầu đeo tròng vào cổ cho đảng kéo đi.

Các nhà báo nhà nước CSVN chỉ biết tuân hành và phục vụ để bảo vệ cho được vị trí cầm quyền độc tôn cho đảng. Ngòai ra họ chả có lý tưởng gì ngòai miếng cơm manh áo.

Nếu không tin, có ai dám so sánh hai nền báo chí Việt Nam Cộng hòa và Xã hội Chủ nghĩa không ? -/-

Phạm Trầ


 “TRỜI LÀM CƠN MƯA BÃO, TÌNH NGƯỜI NHƯ TƠ LIỄU…”

Phạm Đoan Trang

24-6-2016

 Nhà báo Mai Phan Lợi, người vừa bị Bộ 4T rút thẻ và bị tòa soạn đuổi việc. Anh trước hết là nạn nhân của chính các đồng nghiệp của mình trong làng báo quốc doanh. Ảnh: internet

Nhà báo Mai Phan Lợi, người vừa bị Bộ 4T rút thẻ và bị tòa soạn đuổi việc. Anh trước hết là nạn nhân của chính các đồng nghiệp của mình trong làng báo quốc doanh. Ảnh: internet

Dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng Cộng sản, đạo đức của con người Việt Nam đã suy thoái về căn bản, nhưng trong đó nổi bật nhất là suy thoái về cái dũng, cái nhân. Chỉ còn lại một chữ HÈN.

Về điểm này, ông Hà Sĩ Phu đã từng viết trong tiểu luận nổi tiếng Chia tay ý thức hệ (1995): “Nền đạo đức vô sản thâu nạp đủ điều đạo đức của Nho giáo, từ trung, hiếu, đức, tài , lễ, nghĩa, đến cần kiệm liêm chính… đến kế hoạch trăm năm trồng người, đến điều lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ, đến dân là gốc, coi cán bộ là nô bộc của dân… Duy có chữ QUÂN TỬ là cái tử tế nhất của Nho giáo thì ta tránh hẳn”, “Người cộng sản thích chơi trò đạo đức nhưng không dám chơi trò quân tử”.

Than ôi, tâm tính của người Việt Nam dưới chế độ cộng sản đúng là như thế. Quân tử tuyệt chủng như khủng long rồi!

Làng báo Việt Nam vừa cho chúng ta một ví dụ rõ ràng về cái sự hèn. Một đồng nghiệp bị “trên” đánh, ào ào hàng chục, hàng trăm kền kền lao vào xâu xé. Từ dạy khôn đến mắng chửi tàn tệ trên facebook; từ viết bài lên án trên báo đến chỉ điểm, xúi bẩy, kích động quân đội, công an vào cuộc; từ vu khống, bôi nhọ trên mạng xã hội đến phỏng vấn “luật sư”, gợi ý phương án ghép tội cho đồng nghiệp. Tòa soạn hối hả kỷ luật, cách chức, đuổi việc v.v. Những người có vẻ hiểu chuyện nhất thì hoặc im lặng, hoặc can đảm lắm thì lên facebook khóc mếu chia tay.

Rất nhiều trong số những người ấy, cách đây mới vài tháng, thậm chí vài tuần, vẫn còn ăn nhậu vui vẻ, hội thảo tưng bừng, du lịch tung tăng, phối hợp sâu sắc cùng với nhà báo tội nghiệp vừa ngã ngựa kia trong các chuyến công cán, trong các dự án truyền thông, nghiên cứu này nọ. Nhiều người khác là những đồng nghiệp của nhà báo đó trong bao nhiêu năm, không ít lần đã từng được nhà báo ấy bảo vệ khỏi những tai nạn nghề nghiệp vốn xảy ra như cơm bữa trong cái nghề nguy hiểm này.

Nay, họ đâu cả rồi?

Nhẹ nhất là họ im lặng. Nặng nhất là họ lao vào đạp túi bụi kẻ vừa ngã ngựa, cho nó chết hẳn. Hăng hái nhất là các nhà báo-đảng viên đang muốn chứng tỏ lòng trung với chế độ.

Nhà báo Trần Ngọc Kha đã cay đắng viết: “Ngày tôi nhầm lẫn người được phỏng vấn trong một bài viết… cái gọi là “đồng nghiệp” của tôi cũng thế, vội vàng làm mọi cách để đẩy tôi ra đường như đẩy một con chó”.

Và cả tôi cũng thế. Cách đây 7 năm, tôi bị bắt ngày hôm trước, ngày hôm sau tòa soạn ra văn bản đuổi việc. Tôi ra khỏi trại, có những đồng nghiệp đi trên vỉa hè, nhìn thấy tôi đi ngược lại, là vội tìm cách… sang đường ngay hoặc vồn vã sà vào một sạp báo, một quán cóc nào đó để tránh phải chạm mặt kẻ vừa bị bắt vì tội “phản động”.

Thời nay còn thế, thời Nhân văn Giai phẩm, Xét lại… không hình dung nổi cái sự hèn hạ còn kinh tởm đến mức nào.

Tôi không muốn trách ai cả. Tôi hiểu lắm chứ. Sức chịu đựng của mỗi người trước sự đàn áp, khủng bố của bạo quyền là có hạn. Lòng can đảm không phải là thứ bẩm sinh được phân phát đều cho mỗi người. Nhưng than ôi, dù chỉ một chút dũng cảm đủ để bạn hiểu rằng “thấy cái sai thì phải lên tiếng, thấy người bị hại thì phải bảo vệ”, và nhất là đừng hùa theo cái xấu, chỉ một chút dũng cảm để giữ đạo lý thôi, cũng khó đến thế sao?

Phóng sự thảm họa cá chết VN rúng động Đài Loan nhưng lãnh đạo VC ngậm miệng ăn tiền hối lộ

Truyền hình Đài Loan vừa công chiếu phóng sự công phu về thảm trạng cá chết tại vùng biển miền Trung VN, gây chấn động dư luận vùng lãnh thổ này.
Phóng sự VN cái chết của cá dài gần 60 phút được phát sóng lần đầu vào tối 20.6, phát lại vào 11 giờ trưa 25.6 trên kênh truyền hình PTS (Đài Loan), đã làm dấy lên nhiều phản ứng dữ dội đối với vụ việc. Đặc biệt, nhiều ý kiến tại Đài Loan yêu cầu làm rõ vai trò của Tập đoàn Formosa, bị nghi là nguyên nhân số 1 gây nên loạt hiện tượng ô nhiễm biển nghiêm trọng tại VN thời gian qua.
“Đừng để nỗi đau lan sang VN”
Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan - ảnh 1
Trước đây khi công ty Mỹ sang Đài Loan đầu tư đã gây ô nhiễm nghiêm trọng tới đất đai Đài Loan, khiến người dân xứ Đài phải chịu nhiều suy giảm sức khỏe nghiêm trọng. Chúng ta đã thấm thía nỗi đau đó, vậy đừng để nỗi đau này chuyển sang với người dân VN
Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan - ảnh 2
Một thanh niên Đài Loan
Ngoài những hình ảnh cá chết trắng xóa dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung VN, nhóm thực hiện phóng sự của PTS cũng tiến hành phỏng vấn người dân VN về tình hình cá chết, ghi lại cảnh khổ sở của ngư dân xã Kỳ Phương (H.Kỳ Anh, Hà Tĩnh). “90% dân trong xóm này đều làm nghề biển” và cuộc sống của họ hiện đang rất lao đao. Trả lời phỏng vấn, người dân địa phương cho biết ngoài sinh kế bị ảnh hưởng trầm trọng, sau khi ăn phải cá trong vùng ô nhiễm, sức khỏe họ cũng ảnh hưởng.
Nội dung phóng sự nhấn mạnh vụ cá chết hàng loạt đã biến cuộc sống người dân Hà Tĩnh rơi vào cảnh khó khăn. Nhiều hộ kinh doanh nhỏ mất sạch vốn liếng do bỏ tiền mua cá, nay không dám ăn cá vì sợ nhiễm độc, cũng không thể bán, đành… cất lạnh để đó.
Những cảnh quay cho thấy rõ sự khốn khó trong các hộ gia đình ngư dân khi phải nằm bờ, chỉ biết trông chờ vào số gạo hỗ trợ từ nhà nước, trong khi thu nhập bình quân mỗi tàu cá trước kia có thể lên tới 200 - 300 triệu đồng/tháng trong vụ thu hoạch. Để làm nổi bật thêm tình hình, phóng viên PTS cũng cung cấp cho người xem Đài Loan thông tin về tầm quan trọng của nghề cá của VN với xuất khẩu thủy hải sản chủ lực nhiều nước và khu vực trên thế giới. Người xem cũng không thể không thấy nhói lòng trước những hình ảnh tay ngư dân bị lở ngứa bởi chất nhớt màu vàng bám dính vào lưới, biển vắng tanh không ai dám tắm hay những lời ngậm ngùi từ bạn lặn của người thợ lặn xấu số Lê Văn Ngày, làm việc tại cảng Sơn Dương đã tử vong đột ngột vào ngày 24.4.2016...
Trong phóng sự, nhiều người dân trả lời phỏng vấn đã cáo buộc: “Chính Formosa là nguyên nhân gây ra tai họa cho cái chết của cá”. Theo kênh PTS, Formosa Hà Tĩnh được đầu tư bởi Formosa Đài Loan (70%), China Steel (25%), Tập đoàn thép Nhật Bản JFE (5%). Phóng sự cũng đưa ra nghi vấn về thông tin thủy triều đỏ gây nên nạn cá chết và nhận định điều này chưa đủ sức thuyết phục.
Không chỉ thực hiện tại VN, phóng sự VN cái chết của cá còn phát hình ảnh những cuộc biểu tình tại Đài Loan yêu cầu chính quyền sở tại có động thái làm rõ và xử lý trách nhiệm nếu có liên quan đến vụ cá chết. Tham gia biểu tình có cộng đồng Việt tại Đài Loan và cả người bản xứ. Trong đó, nhiều người Đài Loan đòi chính quyền Đài Bắc phải đối diện giải quyết vấn đề ô nhiễm biển cho người dân VN. “Trước đây khi công ty Mỹ sang Đài Loan đầu tư đã gây ô nhiễm nghiêm trọng tới đất đai Đài Loan, khiến người dân xứ Đài phải chịu nhiều suy giảm sức khỏe nghiêm trọng. Chúng ta đã thấm thía nỗi đau đó, vậy đừng để nỗi đau này chuyển sang với người dân VN”, một thanh niên Đài Loan tham gia biểu tình thẳng thắn nói.
Bên cạnh đó, phóng sự cũng ghi lại cuộc họp báo ngày 16.6 tại Đài Bắc do một nhóm nghị viên thuộc đảng Dân Tiến cầm quyền (DPP) phối hợp với nhiều nhà hoạt động môi trường tổ chức nhằm kêu gọi chính quyền thắt chặt các quy định về môi trường đối với doanh nghiệp Đài Loan khi đầu tư ra nước ngoài đồng thời yêu cầu Formosa chịu trách nhiệm xã hội nếu bị chứng minh gây ô nhiễm biển ở VN.
Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan - ảnh 3
Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan - ảnh 4
Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan - ảnh 5
Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan - ảnh 6
Một số hình ảnh trong phóng sựẢNH: PTS/CHỤP TỪ CLIP
Ảnh hưởng chính sách
Trong phóng sự, PTS cũng đề cập quan ngại rằng nếu vụ cá chết không được giải quyết rốt ráo thì sẽ gây tác động xấu tới chính sách “Hướng nam mới” của lãnh đạo Thái Anh Văn. Chính sách này nhấn mạnh về chuyển đổi mô hình kinh tế Đài Loan nhằm phát triển hợp tác với ASEAN và 6 nước Nam Á, được bà Thái đề ra từ tháng 9.2015 và đặc biệt nhấn mạnh trong lễ nhậm chức ngày 20.5.2016.
Phóng sự dẫn lời nghị sĩ viên Tô Chí Phần của DPP nhận định, nếu chính quyền mới của Đài Loan không giải quyết một cách thận trọng trước bức xúc lan rộng của cộng đồng người Việt thì sẽ không thể khép lại hệ lụy. “Formosa không được xã hội tin tưởng chính vì Formosa không quan tâm tới trách nhiệm xã hội, phớt lờ những ngờ vực của người dân địa phương về vấn đề ô nhiễm công nghiệp, từ đó đã làm vấy bẩn cả hình ảnh của doanh nghiệp này,” bà Tô nói. Vị nghị viên cảnh báo thêm nếu không thận trọng đối diện với những nghi vấn của xã hội VN đối với ô nhiễm biển thì những chính sách của Đài Loan sẽ gặp nhiều trở ngại. “Chính quyền mới của Đài Loan cần chủ động đối mặt với sự kiện cá chết tại VN, thậm chí cần thúc giục Formosa và nhanh chóng thành lập đoàn điều tra nhiều thành viên”, bà Tô tuyên bố.
Trong khi đó, nghị viên Ngô Côn Dụ kêu gọi chính quyền Đài Loan thực hiện chính sách “láng giềng tốt” và cung cấp các hỗ trợ cần thiết để điều tra nguyên nhân ô nhiễm biển ở miền Trung VN. Ông khẳng định thêm rằng các công ty Đài Loan cần nghiêm khắc tự áp dụng các “tiêu chuẩn cao” trong sản xuất. “Formosa và China Steel cần có trách nhiệm xã hội, phải chủ động làm rõ việc Formosa Hà Tĩnh có liên quan đến hiện tượng ô nhiễm biển VN hay không”, ông Ngô nhấn mạnh.
Ngoài ra, Chủ tịch Hiệp hội Luật gia môi trường Đài Loan Trương Dụ Doãn cho rằng quá trình xem xét đầu tư của Đài Loan cần được sửa đổi để thúc đẩy các tập đoàn đang hướng về phía nam thực hiện trách nhiệm xã hội của mình và hành động như một phần của cộng đồng quốc tế tốt đẹp. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh chính quyền Đài Loan cần can thiệp và đảm bảo rằng doanh nghiệp vùng lãnh thổ này đạt được các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, nhân quyền và lao động.

Lucy Nguyễn

Sức Mạnh Của Chủ Nghĩa Ngu Dân

© Dương Thu Hương

Vốn thích nhạc không lời nhưng đôi khi tôi vẫn nhớ về một câu hát cũ, “Anh ở đầu sông, em cuối sông. Chung nhau dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Lãng mạn sao, những cặp tình nhân cùng uống chung một dòng nước. Và hạnh phúc thay những kẻ có thể sống cả đời bên một con sông êm đềm, qua những mùa lúa chín không tiếng súng, những trưa hè có thể nép mình dưới bóng các rặng cây. Nhưng đó là chuyện cổ tích.

Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, cự bất khả tri không chỉ xẩy ra giữa hai nền văn hoá Đông-Tây mà còn xẩy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một dòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới… Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu.

Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.”

Đây là kinh nghiệm của chính tôi.

Năm 1994, tôi sang Pháp lần đầu, được một nhóm “Việt kiều yêu nước” đón tiếp. Có lẽ tên ấy được đặt ra khi nhóm này tham gia vào phong trào chống chiến tranh và người cầm đầu nhóm ấy đã từng là phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ trong các hội nghị đàm phán hưu chiến ở Paris. Khoảng năm 1990, cũng nhóm này đứng lên lấy chữ ký của Việt kiều trí thức ở Mỹ, Đức, Úc và Pháp trong bản kiến nghị yêu cầu nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam mở rộng dân chủ. Sau bản kiến nghị ấy, họ bị cấm về nước một thời gian khá dài, thậm chí còn bị gọi là “các phần tử phản động”.

Như thế, phải hiểu là giữa nhóm Việt kiều này với tôi có chung mục đích tranh đấu cho quyền sống của người dân Việt Nam. Có lẽ cũng vì lý do ấy, họ đón tôi, ít nhất đấy là điều tôi nghĩ. Cuộc đón tiếp diễn ra nồng nhiệt, dường như mang mầu sắc bạn hữu. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, tôi nhận thấy giữa họ với tôi có rất nhiều điểm bất đồng, đặc biệt là sự nhìn nhận về cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Tôi tự nhủ,

“Người ta sống trên đời, thường tụ thành bè, còn bạn là thứ quý hiếm, nó còn quý hiếm hơn tình yêu vì không có bệ đỡ tình dục. Tình bạn đòi hỏi một sự cảm thông sâu sắc, những phẩm chất tương đồng, và cơ duyên để có thể cùng nhìn về một hướng, cùng đi theo một ngả. Vì lẽ đó, tình bạn không thể có được một cách dễ dãi. Không có thứ tình cảm nào không cần thử thách, cho dù là tình yêu, tình bạn hay tình đồng đội, tất thảy đều cần phải nung qua lửa mới biết vàng thau”.

Nghĩ thế, tôi chọn thái độ im lặng, lảng tránh các cuộc tranh cãi, vì nếu không là bạn, hà tất phí nước bọt để đôi co?

Tôi biết rõ rằng, đối với nhóm Việt kiều này cuộc chiến tranh chống Mỹ là cần thiết, là niềm kiêu hãnh, là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn nhất trong lịch sử, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất, tàn khốc nhất đã xảy ra trong một tình thế đen trắng lẫn lộn, các khái niệm bị đánh tráo, kẻ tham gia cuộc chiến ở phía Bắc nhầm lẫn do trói buộc bởi ngôn từ, kẻ tham chiến ở phương Nam bị cuốn vào dòng chảy của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cả hai bên đều bị đặt vào thế đã rồi.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là bài học đau đớn nhất, nhục nhã nhất cho dân tộc Việt Nam, mà kẻ chịu trách nhiệm không chỉ là người Mỹ mà còn là chính những người lãnh đạo cộng sản phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh ấy, dân tộc Việt tự biến mình thành vật đệm giữa hai toa tầu, là đám lính đánh thuê cho hai hệ thống tư tưởng trái chiều đang tiến hành cuộc chiến tranh Lạnh. Trong suốt một thập kỷ, nước Việt Nam đã thực sự biến thành cái cối xay thịt khổng lồ nhất trong lịch sử của toàn thể loài người. 

Năm 2005, tôi trở lại Pháp.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” chủ động mời tôi đến ăn cơm tối với họ để trao đổi tình hình. Tôi nhận lời. Bữa cơm ấy diễn ra ở một quán ăn thuộc quận 13. Trước khi đến Paris, tôi đã ở Turin (Ý) một tuần. Trong tuần lễ đó, khá nhiều báo Ý đã phỏng vấn tôi và đã đăng bài tức khắc. Một trong số các bài báo ấy, có đề tựa “Mười triệu người chết trong cuộc chiến Việt Nam”.

Trong các cuộc phỏng vấn tại Turin, tôi đã kể lại hai điều:

- Thứ nhất, khi làm người viết thuê cho các ông tướng, tôi được nghe họ nói với nhau: Chúng ta chỉ công bố con số thật sự khi người Mỹ bồi thường chiến tranh. Như thế, con số phía Mỹ đưa ra (khoảng 5 triệu tử vong) lẫn con số chính quyền Việt Nam đưa ra (hai triệu rưỡi) đều là số sai sự thật.

- Thứ hai, chỉ khi đến Turin tôi mới biết lính các nước chết ra sao và nhờ có sự so sánh ấy, tôi mới biết thân phận người lính và người dân Việt Nam đau khổ đến mức nào. Năm 2005, cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Iraq. Báo mỗi ngày đều đăng tin bao nhiêu lính Mỹ, bao nhiêu lính Iraq tử vong. Nếu con số đó chạm tới năm chục đã khiến các nhà báo làm rộn lên, chất vấn tổng thống. Khi số tử vong chạm đến số 100 thì sự căng thẳng trong chính trường đã khiến Nhà Trắng điên đầu. Trong chiến tranh Việt-Mỹ, mỗi lần B52 bay qua, chỉ hai ba phút, dân thường, thanh niên xung phong chết hai trăm, ba bốn trăm, thậm chí nơi đông hơn sáu trăm người nhưng không có một dòng trên báo, không một câu trên đài phát thanh. Không ai hay biết, kể cả người Việt lẫn người nước ngoài.

Tôi nói với các nhà báo Ý:

“Tới tận năm nay, gần sáu mươi tuổi tôi mới thấm thía sự khác biệt giữa kiếp người. Nhờ đọc báo phương Tây, tôi mới biết là người Mỹ và người Iraq chết như người, chết theo kiểu người. Chúng tôi, những người Việt Nam, chúng tôi chết như kiến, chúng tôi chết như ruồi, chúng tôi chết như lá khô rụng, cái chết của chúng tôi hoà lẫn bùn đen, và tan trong câm lặng.”

Vì ở Turin có những Việt kiều liên hệ chặt chẽ với nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris và gửi báo cho họ nên trong bữa cơm tối hôm ấy, tôi bắt buộc phải bàn cãi với họ về chủ đề chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi đã thuật lại cho họ nghe sự tổn thất to lớn của dân tộc khi những người lãnh đạo mắc chứng vĩ cuồng. Rất nhiều trận xảy ra khi lực lượng trinh sát thăm dò địa hình địa vật không kỹ, bộ phận hậu cần chuẩn bị khí tài chưa đủ nhưng cấp chỉ huy ham lập thành tích nên cứ đẩy lính ra chiến trường, kết quả là đại bại. Trong khi ở chiến trường xác lính chết ngập suối, nước không chảy được, chim cắt chim kền kền ăn thịt no đến mức không bay lên nổi, lệnh ở Hà Nội vẫn tiếp tục giục tấn công. May mắn là còn có những vị tướng biết thương dân, thương lính, khóc đỏ mắt, quyết định rút quân và làm báo cáo giả để gỡ tội.

Hồi ấy, tổng tư lệnh của cuộc chiến là Lê Duẩn, đã đưa ra khẩu hiệu:

“Dân tộc chúng ta là dân tộc anh hùng, chỉ có thắng không có thua.
Quân đội chúng ta là quân đội anh hùng, chỉ có tiến không có lùi.”

Điều đó có nghĩa: Chỉ tiến công, không phòng thủ!

Xưa nay, trong lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc, bao giờ chúng ta cũng lùi về rừng núi để chờ thời gian mài mòn lòng kiêu ngạo lẫn ý chí quân địch, cũng là để khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt quật ngã chúng, cũng là để củng cố quân đội rồi chờ thời cơ thuận lợi mới huy động binh lính và dân chúng tổng tấn công. Khẩu hiệu của ông Lê Duẩn đưa ra là một sự sáng tạo thuần tuý, một ý thơ bay bổng, xuất phát từ tham vọng và lòng kiêu mạn cộng sản. Nhưng thơ phú là thứ chỉ để ngâm ngợi khi gió mát trăng thanh, thơ mà trà trộn với chiến tranh nó biến thành núi xương sông máu.

Đám tướng lĩnh không dám tuyên bố thẳng thừng, nhưng đều hiểu ngầm rằng lãnh tụ của họ là một kẻ vĩ cuồng.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris nghe tôi nói xong thì hai nhân vật chủ chốt phản ứng dữ dội. Ông X bảo:

- Mục tiêu biện minh cho phương pháp. Muốn thắng cuộc trong chiến tranh thì phải chấp nhận tất cả.

Ông Y phản ứng với con số Mười triệu:

- Con số đó không thật. Ở nước Pháp chúng tôi có các biện pháp khoa học về dân số để chứng mình là con số ấy sai. Làm sao chị có thể nghe theo mấy thằng tướng ngu ấy được?

Tôi im lặng không đáp. Nhưng hôm sau, tôi có nhờ ông Phan Huy Đường, lúc đó còn dịch sách của tôi, nói lại với ông Y:

- Nhờ Đường nói với ông bạn của Đường là về Việt Nam chớ mở mồm mà bảo mấy ông tướng là ngu. Bởi vì, rất nhiều hạ sĩ quan thời đó (trung uý, đại uý, thiếu tá…) biết rõ rằng sinh mạng họ được bảo tồn là nhờ những ông tướng thực sự thương lính và không ham thành tích như tướng Vũ Lăng. Bây giờ, nếu không giải ngũ họ cũng đã leo lên đại tá hoặc thiếu tướng. Nếu ông Y mở mồm bảo tướng của họ là thằng ngu hẳn họ sẽ cho một báng súng vào đầu, hiền hoà nhất họ cũng khạc vào mặt.

Đấy là phản ứng duy nhất của tôi. Trong thâm tâm, tôi quyết định chia tay.

Tôi nghĩ, đám người này cần cuộc chiến tranh chống Mỹ như người đàn bà cần son phấn. Giữa họ với ta chẳng còn điều gì đáng nói. Một cuộc chia tay vĩnh viễn là điều hợp lý hơn cả. Không cần kiệt xuất thông minh, chỉ cần chịu khó quan sát sẽ thấy ngay rằng cộng đồng người Việt ở nước Pháp là một cộng đồng không bản sắc, sống co cụm, một bầy thỏ ngoan ngoãn đối với chính quyền. Họ không gây ra các vụ lộn xộn như người da đen và người Arab theo đạo Hồi, nhưng họ cũng chẳng có tiếng nói, chẳng có một gương mặt nào trên các diễn đàn quyền lực. Vì bản chất nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó nên họ thành công ở mức trung bình, trở thành kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, giáo viên đã là giấc mơ tột đỉnh. Hội nhập vào xã hội Pháp chưa lâu, sự tự tin vào bản thân chưa đủ, họ lại bị ám ảnh bởi thân phận lớp người Việt Nam nhập cư trước họ, những người lính thợ bị thực dân cưỡng bức rời quê hương sang Pháp phục vụ tại một số nhà máy làm thuốc súng để thay thế cho các công nhân Pháp ra chiến trường.

Năm 1937, để dự phòng chiến tranh, bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Quân Đội (ministre de la Colonie et de la Défense) Georges Mandel dự tính tuyển 80.000 người Đông Dương. Tháng 6 năm 1940 đám thanh niên Việt Nam được dẫn đến hải cảng Pháp gồm: 10.750 người trung kỳ, 7.000 người miền Bắc, 2.000 người miền nam. Đám lính thợ này đã bị đối xử như những con vật, bị dồn vào sống trong những khu nhà tồi tàn, không điện và thiếu nước, không nơi vệ sinh, không lò sưởi và thức ăn không đủ nửa khẩu phần. Mùa đông, những kẻ khốn khổ ngủ trên sàn, đại tiểu tiện ngay bên ngoài cửa, người nọ dẫm vào phân người kia. Đói khát, họ phải đào rễ củ và hái rau dại về ăn. Cái sự thật tàn nhẫn này bị vùi trong câm lặng. Cho đến đầu thế kỷ XXI, mới có vài nhà báo Pháp lên tiếng. Sau đó, Bernard Kouchner, vốn là một ngôi sao cánh tả nhưng sau thất bại của Ségolen Royal trong cuộc tranh cử 2007, đã nhận lời làm bộ trưởng bộ ngoại giao cho chính phủ Sarkozy mới chính thức lên tiếng xin lỗi vì: “Nước Pháp đã đối xử với những người lính thợ Việt Nam như đối với súc vật.”

Trong thực tiễn, nước Pháp đã đối xử với đám lính thợ Việt Nam còn tệ hơn súc vật bởi khi cưỡng chế thanh niên Việt Nam sang Pháp, họ dồn đám người này xuống hầm tầu còn tầng trên, thoáng mát hơn thì để dành cho… những con bò. Cái kinh nghiệm tồi tệ ấy được cấy trong tim như một quá khứ sầu thảm, cộng đồng người Việt không thể tránh khỏi mặc cảm của những kẻ vừa là dân nhập cư, vừa mang nhãn hiệu “Được lôi ra từ vùng đất thuộc địa”. Thế nên, cuộc sống tinh thần của họ dường như đột ngột khởi sắc, bừng bừng ánh sáng khi cuộc chiến tranh Việt-Mỹ xẩy ra. Tại sao?

Dễ hiểu thôi, tinh thần „Bài Mỹ“ là chất xi-măng gắn kết một số đông quốc gia trên thế giới, không chỉ các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa nhưng ngay cả các nước phương Tây. Hành vi của nước Mỹ không chỉ gợi lên lòng căm thù nhưng kèm theo đó cả sự sợ hãi. Nếu có tiền lệ một nước nhược tiểu bị Mỹ chà nát thì sẽ đến lượt các nước khác theo thành ngữ, “Không bao giờ có lần thứ nhất, lần thứ hai mà lại không có lần thứ ba”.

Vả chăng, về mặt lý, cuộc chiến này không thể biện minh, “Không một người Việt Nam nào mang bom sang giết người Mỹ.”

Dù cộng sản hay không cộng sản thì sự thực là không có một người Việt Nam nào cầm dao hoặc cầm súng sang tận nước Mỹ để giết một người Mỹ, hoặc ngay đến một con bò trong trang trại Mỹ cũng không.

Vì thế, lương tâm nước Mỹ phải thức tỉnh. Các vụ biểu tình phản đối chiến tranh trước toà Nhà Trắng của Mỹ điệp với các cuộc biểu tình trước sứ quán Mỹ tại các nước khác. Tiếng hát và ngọn lửa tự thiêu của trí thức Mỹ đốt nóng cả châu Mỹ La-tinh và châu Âu.

Vào thời điểm ấy, người Việt Nam nhập cư chống chiến tranh được hưởng một sự ưu đãi vô tiền khoáng hậu. Đi đến đâu họ cũng được thăm hỏi, giúp đỡ, được coi là người của “một dân tộc anh hùng”. Và, trên các diễn đàn chống chiến tranh, đại diện của “tổ chức Việt kiều yêu nước” được xuất hiện bên cạnh những nhân vật quan trọng bản xứ mà nếu không nhờ ân sủng của cuộc chiến này, không bao giờ họ có cơ hội và có tư thế tiếp xúc. Để ví von, có thể nói rằng: Những con chim vốn nép mình trong bóng tối nhờ ánh đạn lửa mà được nhô đầu ra và há mỏ cất tiếng kêu.

Thế nên, họ cần cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Lòng ích kỷ, cái kiêu ngã của con người quả là vô giới hạn. Những kẻ sống ở một phương trời, cần máu đồng bào phải đổ ở một phương trời khác để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của chính mình.

Chiến tranh thật đẹp khi nó được tạo bằng máu xương kẻ khác!

Từ đây, tôi nghi ngờ hai từ “yêu nước”. Phía sau danh từ này có vô vàn tâm trạng, có vô số động cơ, hoặc xác thực, hoặc ngầm ẩn, hoặc có ý thức, hoặc vô thức.

Danh từ nào cũng lập lờ và cũng có khả năng phản lại nghĩa chính thống.

Như thế, giữa người Việt với người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông vô hình. Chắc chắn cũng còn khá lâu mới bắc được cầu qua những con sông ấy.

Chiến tranh Việt-Mỹ đã qua, nhưng sau đó không lâu cái tên Việt Nam lại dội lên trên các kênh thông tin quốc tế. Lần này, là một thứ ồn ào dơ dáy. Chẳng còn là người anh hùng bé nhỏ dám đương đầu với đế quốc Mỹ mà là tác giả của Khổ nạn Thuyền nhân. Ở châu Âu, phái đoàn Việt Nam không còn được chào đón bằng cờ và hoa mà bằng cà chua và trứng thối. Tôi nhớ rằng lần đi châu Âu, ông Võ Văn Kiệt đã hứng trọn một quả trứng thối vào giữa mặt còn đến lượt ông Phan Văn Khải thì thoát nạn nhờ sự bố trí, dàn cảnh công phu của cảnh sát Pháp. Sự đời vốn đổi thay như các lớp tuồng. Điều khốn khổ cho người Việt Nam là dường như họ chỉ được biết đến trong các tình huống đau khổ. Kể từ khi làn sóng “Thuyền nhân” dịu đi, Việt Nam gần như chẳng còn gì để nhớ. Cứ nghe đài phương Tây thì biết, người ta chỉ nhắc tới hai từ Việt Nam khi nhắc tới cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, bởi rất nhiều trí thức phương Tây, đặc biệt là các văn nghệ sĩ đã tham gia vào phong trào chống chiến tranh và tuổi trẻ của họ gắn bó với những kỷ niệm của một thời sôi động. Tuy nhiên, ngay cả những người kiên nhẫn nhất và hiểu biết Việt Nam nhiều nhất cũng chưa dám quả quyết rằng họ nắm được sự thực về cuộc chiến tranh này. Điều đó, quá khó khăn.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:

- Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?

Tôi đáp:

- Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.

Anh bạn chưng hửng:

- Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.

Tôi cười:

- Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.

Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.

Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.

Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.

© Dương Thu Hương



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 457 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 427 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 418 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 409 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 373 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 366 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 357 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 353 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 352 lần]
Triết lý dân tộc Việt Nam siêu việt vượt tất cả triết lý Tàu, Tư Bản và CS [Đã đọc: 351 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.