Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Bảy 2019
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 13
 Lượt truy cập: 13468398

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 21.07.2019 09:27
Nhận diện quân thù của nhân dân bạn của đảng CSVN
15.02.2019 14:08

Tội ác của lính Trung Quốc ở biên giới Việt – Trung năm 1979

Nỗi đau 40 năm

Trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam thế kỷ XX, chúng ta vẫn thường hay nhắc đến vụ thảm sát Mỹ Lai do quân đội Mỹ thực hiện năm 1968. Nhưng, có một vụ thảm sát ít biết đến, cũng man rợ không kém, do quân đội bành trướng Bắc Kinh gây ra với nhân dân Việt Nam tháng 3/1979 tại Tổng Chúp, TP. Cao Bằng.

Cao Bằng bị tàn phá trong cuộc chiến 1979. Ảnh tư liệu

chuyen chua biet ve vu tham sat cua linh trung quoc o bien gioi


9/3/1979, 43 phụ nữ, mà phần lớn là phụ nữ, trẻ em ở thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng, đã bị giết hại một cách dã man bởi những tên lính Trung Quốc khi chúng đang trên đường rút quân về nước. Tất cả thi thể sau đó đều bị quẳng xuống một cái giếng cổ.

Chúng đua nhau thi thố những thủ đoạn giết người vô cùng man rợ chẳng khác gì bọn bạo chúa thời Trung Cổ.

chuyen chua biet ve vu tham sat cua linh trung quoc o bien gioi

Tù binh Trung Quốc tại Cao Bằng. Ảnh tư liệu

Những ngày đầu tháng 2/2016, tôi đi dọc miền biên viễn Cao Bằng, Lạng Sơn, những nơi mà cách đây 37 năm, “tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”. Đến Tổng Chúp, thật không ngờ địa điểm diễn ra vụ thảm sát bi thương này đã gần như bị quên lãng.

Đó là một khu vực rậm rạp cây cối, không có đường vào, phải băng qua 2 con suối cùng vô số lau lách. Cái giếng năm xưa nơi vùi lấp 43 sinh mạng vô tội cũng không còn dấu vết. Nghe bảo, người ta đã vùi lấp nó khá lâu rồi. Hỏi xung quanh, cũng chẳng mấy ai còn nhớ đến .

Lũy tre già quanh giếng nước đã từng “chứng kiến” cuộc thảm sát năm 1979 đã còng xuống, không biết vì nỗi đau quá lớn hay vì tuổi tác. Chỗ giếng nước vùi lấp 43 sinh mạng giờ là đám cỏ xanh rì. Cỏ ở đó dường như xanh hơn. Và trên cỏ, có 1 nén hương cùng 3 quả cam đã héo, ai đó thắp lên để tưởng nhớ những linh hồn xấu số.

Nhìn quang cảnh, tôi không thể hình dung được rằng, tại vị trí này 37 năm trước, phần lớn vợ con của các cán bộ trại lợn Đức Chính, cách đó tầm 2km đang trên đường sơ tán thì bị lính Trung Quốc dồn về đây, sát hại từng người rồi quẳng hết xác xuống giếng.

chuyen chua biet ve vu tham sat cua linh trung quoc o bien gioi
Bia thảm sát Tổng Chúp

Dấu tích còn sót lại chỉ duy nhất một tấm bia ghi dòng chữ: “Vụ thảm sát tại Tổng Chúp, xã Hưng Đạo huyện Hòa An. Quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi đập chết 43 phụ nữ và trẻ em quăng xuống giếng nước”.

Có lẽ, những từ ngữ trên tấm bia không đủ, và không bao giờ là đủ để diễn tả hết sự bạo tàn của quân xâm lược Trung Quốc vào thời điểm ấy. Tấm bia cũng không đủ chỗ để có thể miêu tả hết những cảm xúc phẫn nộ, uất ức của người dân nơi đây, khi họ trở về và chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng.

Với những người đã từng trải qua những thời khắc kinh hoàng đó, thì ký ức của vụ thảm sát năm ấy vẫn còn in hằn trong tâm trí của họ như vừa mới ngày hôm qua.

Nhà bà Lương Thị Bắc ngay sát biên giới ở Hà Quảng. Bà cho biết, ngày 17/2/1979, lúc quân Trung Quốc tràn qua biên giới Việt Nam, bà theo gia đình chạy loạn về Tổng Chúp. Lúc đầu cứ tưởng là chúng không thể đánh đến TP. Cao Bằng, nhưng cũng chỉ được 1 tuần, bà Bắc lại tiếp tục chạy loạn. Và một phép màu đã giúp bà thoát chết, không bị quân Trung Quốc bắt giữ và hành quyết.

chuyen chua biet ve vu tham sat cua linh trung quoc o bien gioi
Bà Lương Thị Bắc

Bà Bắc bảo, lúc quân Trung Quốc rút hết về nước, những ai còn sống sót liền trở về thu dọn những gì còn sót lại sau trận càn quét. Họ khát nước, tìm ra cái giếng cổ cũ thấy đã bị lấp, liền báo lên xã.

Lúc đầu, dân quân cứ tưởng cái giếng đó là nơi chôn giấu thuốc nổ, nhưng sau mới phát hiện có đầy xác người. Lúc vớt lên, tất cả mọi người đều bàng hoàng khi xác chết đều là phụ nữ và trẻ em, mà phần lớn là những người làm việc trong trại lợn Đức Chính cách đó tầm 2km. Trên đường đi sơ tán, họ đã rơi vào tay quân Trung Quốc.

Ông Nguyễn Văn Sắc nhà sát ngay trại lợn, năm nay gần 60 tuổi, là một trong những người trực tiếp chứng kiến cảnh chúng khênh những thi hài vô tội quăng xuống giếng.

chuyen chua biet ve vu tham sat cua linh trung quoc o bien gioi

Ông Sắc vốn là lính pháo binh của Lữ đoàn 675, đóng tại cầu Tài Hồ Sìn trong chiến tranh biên giới 1979. Khi quân Trung Quốc rút, đơn vị của ông chuyển về đóng quân tại Tổng Chúp, về sau ông cũng chọn mảnh đấy ấy làm nơi sinh sống của mình.

chuyen chua biet ve vu tham sat cua linh trung quoc o bien gioi

Nhắc lại ký ức 37 năm trước, ông Sắc chua xót: “Kiểm tra tất cả xác chết, không một ai bị bắn, mà toàn bộ bị đập vỡ đầu chết hết”.

Đau xót nhất là gia đình ông Ất trưởng trại lợn, cả nhà 3 người đều bị giết sạch trong ngày 9/3, mà vợ ông thì đang mang bầu đứa con thứ 2 gần đến ngày sinh nở. Ông Ất không chạy, mà ở lại bảo vệ người vợ của mình. Quân Trung Quốc lùng sục bắt được, chúng không tha bất cứ một ai, kể cả vợ ông.chuyen chua biet ve vu tham sat cua linh trung quoc o bien gioi

Các nạn nhân đều bị quân Trung Quốc lấy khăn bịt mắt, 2 tay buộc chéo đằng sau, sọ bị móp hẳn vào bởi những cú đánh tàn nhẫn. Có người thì bị hàng chục vết đâm bởi những lưỡi lê sắc nhọn vào cơ thể.

Lúc thu gom, người ta còn tìm thấy một chiếc gậy tre dính đầy máu, cong queo. Quân Trung Quốc đã dùng chiếc gậy này đánh đập từng người cho đến chết. Có lẽ, những tên đồ tể đã chọn những cách hành quyết dã man nhất, một phần là để tiết kiệm đạn dược, phần khác là khủng bố tinh thần của những người còn sống sót.

Trong vụ hành quyết đó, chỉ có 1 người phụ nữ trung tuổi là chạy thoát được. Lúc quân Trung Quốc gom mọi người lại bên bụi tre, nhân lúc chúng đang tập trung giết từng người một, bà đánh liều lao xuống dòng suối nước chảy xiết, rồi cứ thế chạy thục mạng. Chúng bắn theo cả loạt đạn nhưng không trúng.

Về sau, hàng năm, cứ đến ngày 9/3 bà đều đến thắp hương trước tấm bia 1 nén hương như lời tưởng niệm. Chúng tôi tìm thông tin về người đàn bà đó, thì nghe đâu bà mới mất cách đây ít năm.

Tôi tự hỏi, tại sao một sự kiện bi thương như thế mà không có nổi một lối đi vào, một cái bàn thờ để thắp hương?

(Còn tiếp) Theo Petrotimes

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng

Theo công bố chính thức, Lạng Sơn đã loại khỏi vòng chiến 19.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 4 tiểu đoàn địch, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp, 52 xe quân sự.

Sự kiện: 

Thời sự

19.000 quân địch đã phải bỏ mạng ở Lạng Sơn 

Trên hướng Tràng Định, Trung đoàn 199, Tiểu đoàn 6 Tràng Định, Đồn biên phòng Pò Mã, Bình Nghi… cùng dân quân Đội Cấn, Tri Phương, Quốc Khánh vừa bám đánh, ngăn chặn địch ở chốt Pò Mã, Pò Pùn, Lũng Xá, Khau Mười, Bản Tang… vừa tổ chức sơ tán hơn 10.000 đồng bào khỏi khu vực chiến sự. Ngày 25-2, trên hướng này quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Thất Khê.


Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng - 1

Trên hướng Lộc Bình, Trung đoàn 123, Tiểu đoàn 9 Lộc Bình. Đồn biên phòng Chi Ma cùng dân quân Tú Mịch, Yên Khoái… chiến đấu bảo vệ các điểm cao 540, 468, 557 (Chi Ma), khu vực Bản Thín, Bản Lan, điểm cao 412, 481, 402 (Tú Mịch), phản kích buộc địch phải co cụm lại ở phía nam núi Mẫu Sơn. Đến ngày 28-2 trên hướng này quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Lộc Bình.

Trên hướng Đình Lập, Sư đoàn 338, Tiểu đoàn 131 Đình Lập, Đồn biên phòng Bắc Xa, Chi Lăng hiệp đồng với tự vệ các nông lâm trường… chặn đánh địch ở điểm cao 899 (Chè Mùng), 538 (Bản Chắt), 476, 549, mỏ than Na Dương… Đặc biệt, để chia lửa cho sư đoàn bạn, ngày 22-2 Sư đoàn 338 đã chủ động dùng Trung đoàn 460 tổ chức tiến công vào hậu phương của địch, loại khỏi vòng chiến 1 tiểu đoàn Trung Quốc và phá hủy toàn bộ khu doanh trại, hậu cần của chúng. Ngoài ra sư đoàn còn cho công binh luồn sâu 20km vào sau lưng địch đánh sập 2 cầu và dùng một bộ phận tinh nhuệ tập kích sân bay Ninh Minh (Quảng Tây).

Trên hướng Văn Lãng, một bộ phận của Trung đoàn 12 Sư đoàn 3, Tiểu đoàn 7 Văn Lãng, Đồn biên phòng Tân Thanh, Na Hình... đã phối hợp phòng ngự có hiệu quả ở Nà Nôi, Bản Thấu (Tân Yên), Thụy Hùng… buộc địch phải tạm dừng tiến công trong ngày 17-2.

Trên hướng Cao Lộc, Tiểu đoàn 8 Cao Lộc, Đồn biên phòng Thanh Lòa, Ba Sơn cùng một bộ phận Trung đoàn 141 Sư đoàn 3 chặn địch ở điểm cao 499 (Xuất Lễ), trên hướng Bản Xâm, Thanh Lòa...

Đặc biệt, tại hướng trọng điểm Đồng Đăng, từ sáng 17-2 cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra liên tục xung quanh thị trấn Đồng Đăng (cách thị xã Lạng Sơn 14km) và ngã ba Tam Lung (cách thị xã Lạng Sơn 7km) với các điểm nóng ở khu vực cửa khẩu Hữu Nghị và điểm cao 402, cụm chốt Thâm Mô-Pháo đài-điểm cao 339, ga Đồng Đăng, khu đồi Chậu Cảnh, điểm cao Khôn Làng…. Mặc dù bị tổn thất, các đơn vị hỗn hợp của Sư đoàn 3, Trung đoàn 12 Thanh Xuyên, Tiểu đoàn 11 bộ đội địa phương thị xã, Tiểu đoàn 1 cảnh sát cơ động, Đại đội 5 công an vũ trang, Đồn biên phòng Hữu Nghị Quan... cùng dân quân tự vệ tại chỗ đã kiên cường bám trụ trận địa, đồng thời tổ chức tiến công giành giật lại các vị trí bị chiếm đóng, gây cho đối phương những thiệt hại hết sức nặng nề.

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng - 2

Sư đoàn 3 phản kích địch ở ngã ba Tam Lung, Lạng Sơn

Bị giam chân suốt nhiều ngày, đến ngày 22-2, quân Trung Quốc tăng cường lực lượng mở một đợt tiến công mới vào Tân Yên, Đồng Đăng. Nhờ ưu thế vượt trội về binh hỏa lực, sau hàng loạt trận đánh liên tục, đến ngày 23-2-1979, địch chiếm được khu vực Tân Yên, Đồng Đăng. Đến ngày 27-2 chiếm được khu vực Tam Lung.

Ngày 24-2-1979, Quân khu 1 quyết định thành lập Mặt trận Lạng Sơn, Thiếu tướng Hoàng Đan, Phó giám đốc Học viện quân sự cấp cao được điều về giữ chức Phó tư lệnh Quân khu kiêm Tư lệnh Mặt trận. Đồng thời, 2 sư đoàn chủ lực cùng nhiều tiểu đoàn bộ binh, binh chủng và dân quân tự vệ ở tuyến sau được điều động lên chi viện cho tiền tuyến.

Từ ngày 23-2, sau khi tiến hành sơ tán các cơ quan và nhân dân trong thị xã Lạng Sơn, đội hình phòng thủ của ta được điều chỉnh lại: Sư đoàn bộ binh 3 và Trung đoàn 197 Bắc Thái mới tăng cường đảm nhiệm phòng ngự khu vực phía tây và tây nam thị xã; Sư đoàn bộ binh 327, Trung đoàn xe tăng 407 và các đơn vị của BCHQS tỉnh đảm nhiệm khu vực phía bắc và đông thị xã; Trung đoàn phòng không 272 bố trí ở cả phía bắc và nam thị xã, vừa chi viện bộ binh chiến đấu vừa sẵn sàng đánh trả máy bay địch.

Từ ngày 28-2, cuộc chiến đấu trên mặt trận Lạng Sơn bước sang một giai đoạn cam go mới. Phía Trung Quốc huy động thêm bộ binh, xe tăng, pháo binh mở cuộc tiến công quy mô lớn trên cả ba hướng đông, bắc và tây nhằm đánh chiếm thị xã. Lực lượng vũ trang ta tổ chức kháng cự quyết liệt. Các trận đánh phòng ngự, tập kích và phản kích dữ dội diễn ra trên các trục đường 1A, 1B, Bản Sâm, Cao Lộc vào thị xã, khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh, Hoàng Đồng, Mai Pha và thị trấn Kỳ Lừa… Ở phía sau, Sư đoàn 337 lên tăng cường từ chiều 25-2 cũng bước vào chiến đấu với mũi vu hồi chiến dịch của địch trên hướng cầu Khánh Khê, đường 1B. Chiến sự diễn ra vô cùng căng thẳng, có những nơi như điểm cao 500, 607, 649 (đường 1B), 449, 473 (Cao Lộc)… hai bên liên tục giành đi giật lại nhiều lần.

Ngày 2-3, Quân đoàn 5 trực thuộc Quân khu 1 do Thiếu tướng Hoàng Đan làm tư lệnh và Đại tá Phí Triệu Hàm làm chính ủy được thành lập. Các sư đoàn bộ binh đang chiến đấu bảo vệ Lạng Sơn (3, 327, 337, 338) cùng các trung đoàn binh chủng của Quân khu 1 được đặt dưới quyền chỉ huy chung của Bộ tư lệnh Quân đoàn.

Chiều tối cùng ngày hôm đó, quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Kỳ Lừa, các đơn vị của ta rút về nam sông Kỳ Cùng. Bộ tư lệnh Quân đoàn 5 quyết định điều Sư đoàn 3 về làm lực lượng dự bị, riêng Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 tiếp tục bám trụ trên đường 1B đánh vào sau lưng địch, phối hợp với Sư đoàn 337 kiên quyết chốt chặn tuyến giao thông này, không cho địch vượt qua cầu Khánh Khê tiến sang thị xã và huyện Văn Quan.

Ngày 3-3, đối phương tiếp tục tung thêm lực lượng vào tiến công. Trên hướng chính, địch tổ chức 3 mũi đột kích từ điểm cao 520, Hoàng Đồng và Kỳ Lừa. Trên hướng Mai Pha địch cũng tổ chức 2 mũi đánh từ phía bắc sông Kỳ Cùng và đông nam thị xã. Đến chiều 4-3, trên hướng đông-đông nam quân Trung Quốc chiếm được khu vực nam sông Kỳ Cùng, sân bay Mai Pha và các khu phố trong thị xã Lạng Sơn.

Tối 4-3, Bộ tư lệnh Quân đoàn 5 thông qua và bắt đầu triển khai phương án mở chiến dịch phản công. Cùng thời điểm này lực lượng tăng cường của Quân đoàn 1 cũng đã hoàn tất triển khai vào vị trí chiến đấu trên tuyến Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên phía nam thị xã. Trung đoàn pháo binh 204 với 36 dàn hỏa tiễn bắn loạt 40 nòng BM-21 đã tập kết và lấy phần tử sẵn sàng khai hỏa. Ngày 5-3, giữa lúc các sư đoàn trên mặt trận đang ráo riết chuẩn bị thì trưa hôm đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam và ngày hôm sau quân Trung Quốc rút về phía bắc sông Kỳ Cùng. Bộ Quốc phòng quyết định cho dừng chiến dịch phản công. 

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng - 3

Từ ngày 6-3, lực lượng vũ trang ta tiếp tục tiến đánh những bộ phận địch còn chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam, buộc đối phương phải rút khỏi Cao Lộc (9-3), Lộc Bình (13-3), Đồng Đăng, Tân Thanh (15-3)… về bên kia biên giới.

Theo công bố chính thức, Lạng Sơn đã loại khỏi vòng chiến 19.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 4 tiểu đoàn địch, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp, 52 xe quân sự. Để lập nên chiến công này, quân dân Lạng Sơn cũng đã phải chịu hy sinh to lớn: Sư đoàn 3 hy sinh 6,6% và bị thương 8,4% quân số; Sư đoàn 337 hy sinh 650 cán bộ chiến sĩ, Sư đoàn 338 hy sinh 260 cán bộ chiến sĩ… 20 cá nhân và 14 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Quân đoàn 5 được mang danh hiệu “Binh đoàn Chi Lăng”, Sư đoàn 337 được tặng danh hiệu “Sư đoàn Khánh Khê”.

​Trên mặt trận Cao Bằng

Ở Cao Bằng, hướng tiến công chính của địch ở Thông Nông-Hà Quảng và Phục Hòa-Đông Khê. Nhờ huy động một lực lượng áp đảo nên ngay từ những ngày đầu đối phương đã có nhiều mũi tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam, chia cắt và gây rối loạn hệ thống chỉ huy của ta.

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng - 4

Xe tăng Trung Quốc bị Sư đoàn 346 tiêu diệt ở Bản Sẩy, Hòa An, Cao Bằng sáng 18-2-1979

Trên hướng Hà Quảng, cuộc chiến đấu của Trung đoàn 246 Sư đoàn 346, Tiểu đoàn 6 Hà Quảng, Đồn biên phòng Sóc Giang, Nậm Nhũng… cùng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ diễn ra suốt 4 ngày liền từ 17-2 đến 20-2 trên các chốt Cốc Ngựu, Cốc Nhu, Cốc Vường, điểm cao 505, Trúc Long-Địa Lan, Nà Xác, Trường Hà… chặn đứng hướng tiến công rất mạnh của địch ở khu vực cửa khẩu Sóc Giang. Bị tổn thất không tiến lên được, ngày 22-2 quân Trung Quốc làm đường cho xe tăng vượt biên giới ở khu vực mốc 109, theo đường Pác Bó-Nà Mạ-Đôn Chương đánh vu hồi vào sau lưng và bên sườn trận địa ta, kết hợp với tấn công chính diện theo hướng cửa khẩu Bình Mãng-Sóc Giang. Trung đoàn 246 mặc dù chiến đấu dũng cảm nhưng bị bao vây và cắt đường tiếp tế, trước sức ép của địch phải rút khỏi Sóc Giang lên khu vực thung lũng núi giữa Hà Quảng và Thông Nông tiến hành đánh du kích. Địch chiếm được Sóc Giang và tiếp tục phát triển xuống phía nam Hà Quảng.

Trên hướng Trà Lĩnh, Trung đoàn 677 Sư đoàn 346 bảo vệ hướng phòng ngự chủ yếu của sư đoàn phối hợp với Đồn biên phòng Trà Lĩnh và các đơn vị địa phương kiên cường đánh địch ở bình độ 700, đồi Quyết Tử, đồi Thanh Niên, điểm cao 800 và 815 (Phai Can), khu vực mỏ mangan, trục đường Xuân Nội-Quang Trung… đánh bại các đợt tiến công của địch trong nhiều ngày. Tuy nhiên ngày 26-2 địch chiếm điểm cao 815 lần thứ hai. Trung đoàn 677 phải lui về phía sau, phân tán cùng dân quân các bản làng tiếp tục chiến đấu. 

Trên hướng Quảng Hòa, Trung đoàn 567 cùng Đồn biên phòng Tà Lùng, tự vệ nông trường và dân quân Đại Tiến, Cách Linh… giữ vững trận địa chốt chặn ở khu vực đèo Khâu Chỉa (Phục Hòa) suốt 12 ngày đêm, có những ngày đẩy lui 7-8 đợt tiến công gây thiệt hại nặng cho địch, không để đối phương dùng khu vực này làm bàn đạp tiến về hướng Quảng Uyên, Mã Phục.

Trên hướng Trùng Khánh, Hạ Lang, Bảo Lạc địch cũng tấn công các đồn biên phòng Pò Peo, Bí Hà, Lý Vạn, Cốc Pàng, Nậm Quét… cùng một số chốt của lực lượng địa phương.

Trên hướng Thông Nông và Thạch An, do phòng ngự của ta sơ hở, quân Trung Quốc nhanh chóng chiếm được thị trấn Thông Nông và Đông Khê rồi dùng xe tăng tiến thẳng về thị xã Cao Bằng. Sáng 17-2, nhân viên bưu điện huyện Thạch An báo cáo về tỉnh, cho biết xe tăng địch cắm cờ Việt Nam đi qua trước cửa nhà bưu điện về hướng thị xã. Được tin này, Tư lệnh Quân khu 1 lập tức ra lệnh cho BCHQS tỉnh và Sư đoàn 346 tổ chức đưa lực lượng đến đèo Ngườm Kim, Nậm Nàng chặn đánh. Chấp hành mệnh lệnh trên, một bộ phận Trung đoàn 851 Sư đoàn 346 khẩn trương cơ động và trong các ngày 18 và 19-2 liên tục chiến đấu với mũi tiến công cơ giới của địch trên đường số 4 và đường từ Nước Hai về thị xã, bắn cháy hàng chục xe tăng ở khu vực Bản Sẩy, Đức Long (Hòa An), cây số 9-12 trên đường số 4… Chiếc xe tăng trinh sát của Trung Quốc đến được Nà Toòng ngoại vi thị xã cũng bị đơn vị cao xạ 37mm của Sư đoàn 346 tiêu diệt.

Từ ngày 19-2, địch bắt đầu áp sát thị xã Cao Bằng từ nhiều hướng. Cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã diễn ra suốt nhiều ngày nhưng do tương quan chênh lệch, đến ngày 24-2 đối phương chiếm được thị xã Cao Bằng và có những mũi vu hồi đánh lấn xuống khu vực đường số 3, Khâu Đồn, đèo Cao Bắc, có những mũi thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam 50-60km (cầu Tài Hồ Sìn). Nhiều đơn vị của ta bị tổn thất, rơi vào thế bị chia cắt, bao vây cả 4 mặt.

Ngày 26- 2-1979, Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng do Đại tá Đàm Văn Ngụy, Phó tư lệnh Quân khu đứng đầu. Ngày 28-2, Bộ tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho Trung đoàn 677 và Trung đoàn 567 vượt vòng vây rút về phía sau để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị đánh phản kích.

Trước tình hình căng thẳng, Quân khu 1 gấp rút điều động Trung đoàn 852 và 183, tiểu đoàn pháo tầm xa 122mm của Lữ đoàn 675, các tiểu đoàn bộ đội và tự vệ phía sau lên phối hợp với các đơn vị tại chỗ tổ chức phòng tuyến mới ở phía nam cầu Tài Hồ Sìn, đường số 3, mỏ thiếc Tĩnh Túc… Lực lượng vũ trang ta đánh lui các đợt tiến công của quân Trung Quốc từ 20 đến 23-3, sau đó phản kích đẩy địch về khu vực cây số 5 và ngã ba Khâu Đồn, đồng thời bao vây một bộ phận mũi vu hồi của địch ở Nguyên Bình.

Ngày 1-3-1979 trên mặt trận Cao Bằng, Sư đoàn bộ binh 311 gồm Trung đoàn bộ binh 169, 529, 531 bộ binh và Trung đoàn pháo binh 456 được thành lập. Tuyến phòng ngự thứ hai được hình thành từ Tài Hồ Sìn đến Ngân Sơn. Chiến sự diễn ra quyết liệt trên khắp địa bàn tỉnh. Sư đoàn 311 tổ chức cắt đường số 4, ngăn chặn cơ động tiếp tế của đối phương. Các tiểu đoàn đặc công 20 và 45 luồn sâu vào sau lưng địch, phối hợp với dân quân tự vệ tổ chức nhiều cuộc tập kích, phục kích gây cho quân xâm lược những thiệt hại nặng nề.

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng - 5

Tiểu đoàn đặc công 45 cơ động tập kích địch trên mặt trận Cao Bằng.

Hai ngày sau khi Bắc Kinh tuyên bố rút quân, ngày 7-3 quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi Thông Nông, Trà Lĩnh, vừa đi vừa tàn phá các khu vực nằm trên đường di chuyển của chúng. Trước tình hình trên, cùng ngày hôm đó Bộ tư lệnh mặt trận hạ lệnh chuyển sang phản kích, dùng pháo binh bắn phá đội hình hành quân, các điểm tập kết người và xe cơ giới của địch... Trước áp lực tiến công của ta, nhiều đơn vị Trung Quốc vội vã rút chạy bỏ lại cả xe cộ, vũ khí và thương binh tử sĩ. Ngày 14-3, ở Minh Tâm (Nguyên Bình), một đại đội chủ lực địch bị lực lượng địa phương của ta vây hãm đã phải hạ súng đầu hàng vô điều kiện.

Ngày 15-3, quân Trung Quốc rút khỏi thị xã và huyện Hòa An; ngày 16-3 rút khỏi Trùng Khánh, Quảng Hòa và Thạch An; ngày 17-3 rút khỏi Trà Lĩnh; ngày 18-3 rút khỏi Hà Quảng và Thông Nông. Đến đây, chiến sự trên mặt trận Cao Bằng tạm thời lắng xuống. Theo công bố chính thức, trong một tháng chiến đấu trên hướng này các lực lượng vũ trang và nhân dân Cao Bằng đã loại khỏi vòng chiến 18.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn địch, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, giữ kỷ lục về số xe tăng, thiết giáp tiêu diệt được và số tù binh bắt sống. Với thành tích chiến đấu, 5 cá nhân và 17 đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Sư đoàn 311 được mang danh hiệu “Sư đoàn Đông Khê”; Trung đoàn 567 được nhân dân địa phương tặng danh hiệu “Trung đoàn Khâu Chỉa”, “Trung đoàn Phục Hòa”   Theo Trường Sơn (Infonet)

Hậu quả của lãnh đạo bất tài:

Việt Nam rơi vào thế 'lưỡng đầu thọ địch' năm 1979

Đang bị Mỹ và phương Tây cấm vận, đồng thời đánh Pol Pot ở biên giới Campuchia, Việt Nam tiếp tục đương đầu với cuộc xâm lăng từ phương Bắc.

Sáng 15/2, lần đầu tiên hội thảo cấp quốc gia về Cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 được Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Hội sử học Việt Nam tổ chức sau 40 năm. 300 đại biểu tham dự chủ yếu là các nhà khoa học nghiên cứu lịch sử hiện đại, tướng lĩnh quân đội, cựu chiến binh.  

Hơn 60 tham luận được chuẩn bị kỹ lưỡng, tập trung phân tích nguyên nhân sâu xa và những toan tính của Bắc Kinh khi gây chiến, bài học từ cuộc chiến. Hầu hết đại biểu đều thống nhất tính chất sự kiện lịch sử này là cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân Trung Quốc xâm lược.

PGS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội sử học Việt Nam phân tích, sau năm 1975, Việt Nam bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ với "thân mình đầy thương tích khi hàng triệu người bị chết, bị thương, hàng nghìn thành phố, làng mạc bị phá huỷ".

Vậy nên, cuộc tấn công xâm lược Việt Nam của Trung Quốc "đã đẩy Việt Nam vào thế lưỡng đầu thọ địch", trong khi đang bị Mỹ và các nước phương Tây cấm vận và tiêu diệt tàn dư Pol Pot ở Campuchia. Ông so sánh giai đoạn tháng 2/1979, nước ta rơi vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" không khác năm 1945-1946. 

Cuộc xâm lược Việt Nam của quân đội Trung Quốc làm thế giới sửng sốt. Bởi từ chỗ là đồng minh trong "chiến tranh lạnh", nhà cầm quyền Trung Quốc đã coi Việt Nam là kẻ thủ.

"Người bình thường trên thế giới không ai nghĩ rằng một dân tộc vừa trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình và có biết bao công việc phải làm để xây dựng lại đất nước lại đi khiêu khích rồi xâm lược một nước khác - lại là một nước lớn hơn, thậm chí từng là đồng minh trong hai cuộc kháng chiến trước đó", ông Trần Đức Cường lập luận phản bác quan điểm của nhiều học giả Trung Quốc cho rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam chỉ là "phản công tự vệ".

PGS Trần Đức Cường. Ảnh: Gia Chính 

PGS Trần Đức Cường. Ảnh: Gia Chính 

Làm rõ hơn khó khăn của Việt Nam khi đó, PGS Nguyễn Văn Nhật (Hội sử học) dẫn chứng, cuối năm 1978, đúng lúc quan hệ Việt Nam - Trung Quốc xấu đi thì Pol Pot bắt đầu leo thang quân sự, xâm lấn các tỉnh biên giới Tây Nam. Trung Quốc còn tăng viện trợ, cung cấp vũ khí, xe tăng, gửi cố vấn quân sự hỗ trợ Pol Pot. 

Khi Việt Nam phản công Pol Pot ở biên giới Tây Nam thì Đặng Tiểu Bình thăm các nước Đông Nam Á và tuyên bố "phải dạy cho Việt Nam một bài học". Ngày 27/1/1979, Nhân dân nhật báo viết: "Sự thất thủ của Phnom Penh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu".

Để cô lập Việt Nam, tháng 1/1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi thăm Nhật, thông báo ý định tấn công Việt Nam và mong muốn sự hỗ trợ tinh thần từ các nước này. 

"Hai tuần sau chuyến thăm, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo ngoại trưởng Liên Xô Gromyko "tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam để không ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ thông qua hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược (SALT)", ông Nhật nói rõ hơn về tác động chuyến thăm của Đặng Tiểu Bình tới Mỹ nhằm cô lập Việt Nam. 

Tại hội thảo, GS Đinh Xuân Dũng có bài phát biểu cảm động về trăn trở thực hiện chế độ, chính sách với người có công trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. 

"Trên đường quốc lộ lên Hà Giang, tôi thấy dọc hai bên đường là hai hàng quan tài xếp dài đến hàng trăm mét. Đứng cạnh là người thân của những người lính đã ngã xuống", ông kể lại nỗi ám ảnh trong một lần thực tế ở Vị Xuyên.

Trên chiến địa, nhiều chiến sĩ trẻ cắm chốt nhiều ngày, chỉ mặc một cái quần, râu tóc dài như "cụ non" vì chiến đấu không kịp cắt. 

GS Đinh Xuân Dũng. Ảnh: Gia Chính 

GS Đinh Xuân Dũng. Ảnh: Gia Chính 

Ông vẫn nhớ mãi lời một chiến sĩ nói với ông: "Bọn em như những con thằn lằn bám vào đá để sống và bảo vệ bằng được từng mỏm đá, mỏm núi của biên cương Tổ quốc".

Đế nay, khoảng 4.000 hài cốt chiến sĩ chưa được tìm thấy hoặc không thể quy tập bởi rất nhiều mìn còn găm lại chiến địa xưa. "Tôi day dứt vì còn mắc nợ những người đã hy sinh ở chiến trường ác liệt, thầm lặng và dai dẳng ấy", ông Dũng nói.

Theo ông, những năm qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách tri ân, đền ơn những người đã chiến đấu ở biên giới phía Bắc. 250.000 người được trợ cấp một lần và hơn 300 người được trợ cấp hàng tháng. Hơn 100.000 người là dân công hoả tuyến phục vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc đã được giải quyết chế độ một lần. Hơn 30.000 người được thưởng huân chương chiến công vì có thành tích tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc, các bà mẹ Việt Nam anh hùng được nhà nước xây dựng nhà ở, tri ân...

Nhưng ông còn mơ ước Nhà nước có chính sách quyết tâm tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở biên giới phía Bắc. "Chúng tôi khát khao mong như vậy", ông Dũng kết thúc bài chia sẻ. 

Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc khoảng 50.000 quân. Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập; 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn với khoảng 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.

Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố "hoàn thành mục tiêu chiến tranh" và rút quân. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn chiếm đóng trái phép một số điểm cao ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, thường xuyên gây xung đột vũ trang. Đến năm 1989, cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược mới kết thúc. Viết Tuân


'Phải khẳng định đánh VN, Trung Quốc được lợi rất nhiều


Quan hệ Mỹ - TrungBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionÔng Đặng Tiểu Bình gặp Tổng thống Mỹ Jimmy Carter ở Nhà Trắng năm 1979

Không thể nói là không có ai được lợi trong cuộc chiến Biên giới Việt - Trung bốn mươi năm trước, mà phải khẳng định cho rõ rằng 'đánh Việt Nam, Trung Quốc được lợi rất nhiều', ý kiến một sử gia từ Hoa Kỳ bình luận với BBC trong dịp đánh dấu tròn bốn thập niên sự kiện.

Ngoài ra, cần phải rút ra bài học về cách mà Trung Quốc chuẩn bị các chính sách rất 'lâu dài' như 'đi những nước cờ xa' trong chiến lược của nước này, nhà nghiên cứu sử học, Giáo sư Ngô Vĩnh Long nói với BBC Tiếng Việt.

Các ý kiến khác của các nhà nghiên cứu chính trị từ Việt Nam và Mỹ trong dịp này cũng so sánh bang giao quốc tế giữa Việt Nam và các cựu thù là Mỹ và Trung Quốc, và đề cập một số lưu ý mà Việt Nam cần quan tâm khi 'ôn cố tri tân' về cuộc chiến sau 40 năm chẵn.

40 năm Cuộc chiến 1979: Hé mở để an dân

Chiến tranh 1979: 'Lịch sử đã bị bóp méo bởi phía TQ'

Bàn tròn về Thượng đỉnh Trump-Kim lần II và 40 năm Cuộc chiến Biên giới

Chiến tranh 1979: Báo chí VN được bật đèn xanh?

Chiến tranh 1979: Liên Xô biết là TQ sẽ đánh VN?

Đặng Tiểu Bình 'hiểu rõ lãnh đạo VN'

Hôm 14/2/2019, sử gia thuộc Đại học Maine, Hoa Kỳ nêu quan điểm với Bàn tròn thứ Năm từ London:

"Cuộc chiến tranh 1979 không phải là chỉ bắt đầu vào năm 1978, 1979, nhưng mà có vấn đề lịch sử ở trong đó. Tại sao lại nhắc đến vấn đề đó? Là vì Trung Quốc có những chính sách rất lâu dài. Cái bốn hiện đại mà Mao đưa ra, Chu Ân Lai đưa ra, rồi sau đó Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1975 là cần phải có sự giúp đỡ của Mỹ về mặt đầu tư, về mặt kỹ thuật, về vấn đề quân sự.

"Chúng ta nên nhớ Nixon đã bình thường hóa với [quan hệ của Mỹ] với Trung Quốc vào năm 1972, nhưng tại sao đến năm 1979 mới hoàn tất? Năm 1979 mới hoàn tất vì hai bên mới đồng ý đánh Việt Nam như một cuộc chiến tranh quy ước chống Liên Xô.

Giáo sư Ngô Vĩnh LongBản quyền hình ảnhFB NGÔ VĨNH LONG
Image captionGiáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng Trung Quốc có những chính sách rất lâu dài, như những 'nước cờ xa', mà không nên xem thường

"Mà Trung Quốc muốn chứng minh Trung Quốc bấy giờ thực sự là đồng minh của Mỹ, thành ra nó [cuộc chiến] mới giúp cho Mỹ tin tưởng vào Trung Quốc. Cho nên cứ nói chiến tranh 'không ai có lợi' thì không đúng. Trung Quốc đánh Việt Nam là được lợi rất nhiều và mở cửa ra với Mỹ, với các nước khác, kể cả với Nhật Bản. Bởi vì Mỹ bắt Nhật đưa nhiêu viện trợ sang Trung Quốc, thì Trung Quốc mới được có ngày nay.

"Chúng ta là những người nghiên cứu phải nhìn lại vấn đề này và như BBC đặt câu hỏi về bài học gì rút ra, thì bài học là chúng ta phải thấy Trung Quốc đi những nước cờ xa như thế nào để chúng ta chuẩn bị, chứ không nên xem thường," sử gia từ Đại học Maine nhấn mạnh.

Thái độ của Mỹ khi Đặng đánh VN năm 1979

Đâu là nguyên nhân cuộc chiến Việt-Trung 1979?

Cuộc chiến 1979: Amie Mui Lee 'bị hắt hủi cả đời'

'Nước nhỏ cần luôn cảnh giác'

Quan hệ Trung - MỹBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionÔng Đặng Tiểu Bình, ở vị trí Phó Thủ tướng, tiếp đại sứ George Bush và Tổng thống Gerald Ford ở Bắc Kinh tháng 12/1975

Từ góc nhìn của mình, Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp về chính trị thuộc Viện Đông Nam Á (Iseas-Singapore) nói với Bàn tròn:

"Đã qua 40 năm rồi, nhưng nhìn kỹ ra hơn chút nữa, thì phải nhìn lại mấy nghìn năm lịch sử có những chuyện người ta cứ đánh mình [Việt Nam], người ta cứ xâm lược mình, người ta to, mình bé, người ta cứ bắt nạt.

"Thế thì bài học đầu tiên từ nay trở đi là gì? Là đừng bao giờ quên rằng ở Trung Quốc, có những nhóm lãnh đạo, không phải là tất cả, họ luôn theo chủ nghĩa bá quyền, kể cả lúc họ yếu. Họ yếu nhất vào lúc năm 1940 - 1945, khi mà họ bị chia cắt đất nước, họ bị đủ thứ.

"Từ khi họ sang Việt Nam giải giáp quân đội Nhật, thì họ đã bày đặt ra bao nhiêu chuyện. Rồi cuối cùng là rất phiền cho đất nước này [Việt Nam].

"Năm 1954 họ rất yếu, nhưng họ can thiệp Hội nghị Geneva về Việt Nam, là Hội nghị Hòa bình, rồi đến tất cả những sự kiện như các năm 1972, 1974, 1979, 1984, 1988 và hiện nay nữa.

"Thì tất cả những điều này, về bài học, tôi chỉ nhắc lại là đứng cạnh một anh to như thế, và ở trong ấy lại có những bộ phận người lãnh đạo của họ [Trung Quốc] là theo chủ nghĩa bá quyền, thì đất nước nhỏ như Việt Nam phải luôn cảnh giác. Đấy là bài học thứ nhất.

TS. Hà Hoàng HợpBản quyền hình ảnhFB HA HOANG HOP
Image captionNhìn lại bài học quá khức, TS. Hà Hoàng Hợp cho rằng hiện nay và hướng tới tương lai, đối với Trung Quốc, điều gì Việt Nam hợp tác được thì hợp tác, còn điều gì phải đấu tranh thì đấu tranh.

"Thứ hai, đường lối của Việt Nam từ bấy lâu nay tôi nghĩ rằng họ rất là đúng - là cái gì hợp tác được thì hợp tác. Thế còn những gì phải bàn với nhau, có tính chất đấu tranh, thì người ta đấu tranh. Đấy là cái mà tôi thấy là người ta [Việt Nam] tổng kết và người ta cũng đang thực hiện và nó phù hợp, đúng đắn.

"Thế còn lúc này, giữa Việt Nam và Trung Quốc, về mặt lợi ích quốc gia mà nói, Trung Quốc cứ khẳng định về đảo, biển hơn 90% Biển Đông là của họ, còn Việt Nam cũng như một số nước khác ở Đông Nam Á cũng nói rằng chỗ nọ, chỗ kia là của mình, tức là có tranh chấp.

"Những cái này có lẽ còn lâu lâu nữa mới xử lý được và xử lý không chỉ là Trung Quốc xử lý Việt Nam, hay là mấy nước ở trong khu vực, mà còn phải có sự tham gia của các nước khác, đặc biệt là những nước lớn như là Mỹ.

"Đấy là vấn đề phải rút kinh nghiệm ở trong tương lai, còn những gì hợp tác được, thì vẫn tiếp tục, sẽ làm sao cho bình đẳng mà thôi," Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp bình luận.

Ba vấn đề khi ôn cố, tri tân

Chiến tranh 1979Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionQuân Trung Quốc khi đánh Việt Nam tháng 2/1979

Từ Đại học George Mason, Hoa Kỳ, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng đưa ra mấy luận điểm trước Bàn tròn khi nhìn lại cuộc chiến nổ ra bốn thập niên trước, ông nói:

Cuộc chiến 1979 thực sự đã 'bắt đầu từ trước'

'Ngày này năm 79 là ngày tôi lên biên giới'

Cuộc chiến 1979: Đọc lại lời của Trần Quang Cơ

Đường dẫn tới Cuộc chiến Đông Dương lần Ba

"Vấn đề này, tôi xin nói ba điểm chính. Điểm thứ nhất, cuộc chiến tranh Biên giới là một biến cố lịch sử rất quan trọng, vì vậy cần có sự nghiên cứu, nghiên cứu lịch sử, đặt vấn đề cho đúng. Tôi thấy xét lại việc nghiên cứu là điều cần thiết.

"Điểm thứ hai là yếu tố quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam trên cả chiều dài lịch sử, tôi thấy có hai yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến bang giao giữa hai nước. Thứ nhất là địa lý: Việt Nam ở gần Trung Quốc, Việt Nam nhỏ, Trung Quốc lớn.

"Thứ hai là lịch sử, trong lịch sử với Trung Quốc, Việt Nam chịu nhiều vấn đề gọi là bá quyền và chủ trương mà Việt Nam gọi là chủ trương Đại Hán. Chủ trương Đại Hán này là một yếu tố lịch sử mà chúng ta [Việt Nam] đã trải qua, chúng ta biết.

"Còn yếu tố bá quyền, là một nước lớn bao giờ cũng ép nước nhỏ. Cái đó là một thực tế chính trị trong bang giao quốc tế. Thành ra lịch sử có thể thay đổi, có thể chuyển động khác đi, nhưng địa chính trị không có thay đổi gì cả.

GS Nguyễn Mạnh HùngBản quyền hình ảnhBBC NEWS TIẾNG VIỆT
Image captionVới các 'cựu thù' trong chiến tranh, Mỹ hiện nay không còn là 'đe dọa' cho Việt Nam nữa, trong khi với bang giao Trung - Việt, Biển Đông luôn là một đe dọa 'thường xuyên' với Việt Nam, theo GS Nguyễn Mạnh Hùng.

"Điểm thứ ba, ông Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp có nói chuyện Việt Nam với Mỹ có thù nghịch, cuộc chiến tranh rồi cũng hòa giải, thì tôi thấy trong cái này hơi có điểm phải để ý.

"Đó là Việt Nam với Mỹ trong chiến tranh cũng đã từng thù nghịch, sau chiến tranh dần dần hàn gắn những vết thương đó, Mỹ không ở lại Việt Nam nữa, Mỹ hiện nay không đe dọa gì cho Việt Nam cả.

"Trong khi quan hệ Trung Quốc - Việt Nam, sau chiến tranh rồi, lại hòa hoãn với nhau, rồi tìm cách sống chung hòa bình với nhau, nhưng với điều mà ông Hà Hoàng Hợp mới nói ra về việc Biển Đông, thì yếu tố Biển Đông là một đe dọa thường xuyên cho chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

"Gần đây yếu tố Biển Đông luôn luôn làm cho người dân Việt chống Trung Quốc, thành ra gây nhiều áp lực đối với chính sách của chính quyền Việt Nam," nhà nghiên cứu bang giao quốc tế nói với BBC.



Quốc sử và 40 năm cuộc chiến Việt - Trung

Phạm Trần (Danlambao) - Đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã chu toàn nghĩa vụ bề tôi trung thành với Trung Cộng sau 40 năm chiến tranh biên giới 1979-2019.

Bằng chứng này được thể hiện qua 3 hành động: 

Thứ nhất, Tuyên giáo của đảng không lên lịch, ra đề cương tuyên truyền và chỉ thị tổ chức kỷ niệm cấp nhà nước như đã làm đối với “kỷ niệm 40 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh, bảo vệ biên giới Tây Nam và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot (7/01/1979 - 7/01/2019).”

Cũng không thấy có các bài viết nghiên cứu của giới học giả Cộng sản, hay bình luận trên các kênh báo chí-truyền thông chính thức như Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân, Đài Tiếng nói Việt Nam và Việt Nam Thông tấn xã về cuộc chiến 1979 như họ đã làm đối với cuộc chiến biên giới Tây nam và ở Campuchia (1975-1989).

Hơn nữa, khi kỷ niệm 40 năm chiến tranh Campuchia, báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CSVN đã có bài Xã Luận ngày 07/01/2019 gọi là: "Biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết quốc tế thủy chung giữa hai dân tộc Việt Nam - Cam-pu-chia."

Bài viết tự khen chiến thuật đánh bại quân Pol Pot-Khmer đỏ: "Thắng lợi to lớn đó là sự tổng hòa của nhiều nhân tố, trước hết là sự lãnh đạo nhạy bén, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam; sự chỉ đạo tập trung, kiên quyết và chính xác của Quân ủy T.Ư và Bộ Quốc phòng. Đó còn là thắng lợi của nghệ thuật huy động sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh yêu chuộng hòa bình và công lý của nhân dân thế giới, trước hết là của nhân dân và các lực lượng vũ trang yêu nước Cam-pu-chia.”

Ngược lại, trong lần kỷ niệm 40 năm chiến tranh chống Tầu xâm lược năm 1979, báo-đài Việt Nam đã im hơi lặng tiếng không dám hé răng, dù công khai ca tụng dân-quân Việt Nam đã đánh bại cuộc tấn công hoàn toàn bất ngờ của 600,000 quân Trung Cộng.

Tên huý Trung Quốc

Thứ hai, trong khi sách Sử mới của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Cộng sản Việt Nam phát hành ngày 18/8 (2017) và nhiều báo, từ năm 2918 đã được Ban Tuyên giáo cho phép viết về cuộc chiến và gọi cuộc tấn công của quân Tầu vào 6 Tỉnh biên giới 1979 gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai và Yên Bái) và Lai Châu là “cuộc chiến tranh xâm lược” thì trong chính thức, nhà nước CSVN vẫn chỉ dám gọi đó là “cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.” 

Tuy vậy Trung Quốc, thủ phạm đã xâm lược Việt Nam từ ngày 17/02 đến 05/03/1979, sau đó tiếp tục bắn phá lẻ tẻ và nã pháo mở đường cho cuộc tấn công chiếm đất lần 2 từ năm 1984 đến 1989 nhắm thẳng vào Vị Xuyên (Hà Giang), đã không hề được nói tới trong buổi lễ gọi là “cuộc gặp mặt đại biểu là thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ tiêu biểu nhân kỷ niệm 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.”

Bài tường thuật ngày 23/01/2019 của báo Đại Đoàn Kết, Cơ quan thông tin của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) cho biết Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Báo Nhân dân, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội tổ chức buổi lễ nhỏ này tại Hà Nội.

Cuộc lễ được tổ chức trong phạm vị bộ, ngành và ít được quan tâm trong dư luận, nhưng đây là lần đầu tiên trong 40 năm, đảng và nhà nước CSVN mới dám làm việc này. Liệu từ nay, việc làm tương tự có lan ra trong cả nước và được tiếp tục hay không thì chưa biết. 

Chỉ thấy trong phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã không nhắc đến Trung Quốc là nước đã chủ động đem quân tấn công Việt Nam trước. Ngược lại, ông Mẫn đã: "Bày tỏ lòng tri ân các anh hùng, liệt sỹ đã ngã xuống để bảo vệ biên cương Tổ quốc và khẳng định: Đảng, Nhà nước, nhân dân không bao giờ quên công lao của đồng bào, cán bộ, chiến sỹ đã chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Sự hy sinh, cống hiến to lớn của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, gia đình liệt sỹ mãi mãi khắc ghi trong trái tim mỗi người Việt Nam."

Nếu không phải là người Việt Nam, không ai biết ông Mẫn muốn nói đến “cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc” đã chống lại quân thù nào?

Việc ông Trần Thanh Mẫn cố ý tránh né không lên án Trung Cộng đã xâm lăng, không chỉ đích danh nước láng giềng là thủ phạm gây chiến và đã để lại thảm họa cho hàng trăm ngàn dân Việt Nam của 6 Tỉnh biên giới, thực ra không mới mà chỉ nhắc lại cho mọi người thấy dù nay hòa bình biên giới Việt-Trung đã vãn hồi, nhưng phía Cộng sản Việt Nam rất sợ bị Trung Cộng lên án chỉ biết nuôi hận thù mỗi khi nhắc đến cuộc chiến đẫm náu biên giới 40 năm về trước.

Vậy tại sao phía CSVN lo bị Trung Cộng lên án, đổ tội trong khi Việt Nam là nạn nhân của Đặng Tiểu Bình, lãnh tụ chủ chiến hận thù Việt Nam đã đem quân đánh Pol Pot-Khmer đỏ, đàn em của Trung Hoa thời bấy giờ?

Việt Nam sợ vì Tầu là nước lớn, đông người và nhiều quân, vũ khí đạn dược hơn Việt Nam. Trung Cộng cũng từng là ân nhân của đảng CSVN trong 30 năm chiến tranh chống Pháp giành độc lập và xâm lăng Việt Nam Cộng hòa, nhưng gọi là “chống Mỹ cứu nước”!

Mật Ước Thành Đô

Thứ ba, quan trọng hơn, vì tại Hội nghị nối lại bang giao Việt-Trung tại Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990, theo các tin loan truyền trên Internet chưa bị bên nào cải chính, thì Việt Nam đã phải chấp nhận yêu cầu của Trung Cộng không được khơi lại cuộc chiến biên giới 1979 để ổn định bang giao.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CSVN tại Trung Hoa, đã có lần tiết lộ điều cam kết này của Phái đoàn Việt Nam.

Tuy vậy Bách khoa Toàn thư mở không viết gì về thỏa hiệp này mà chỉ cho biết: "Hội nghị Thành Đô (hay gọi là Mật ước Thành Đô) là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt-Trung trong hai ngày 3-4 tháng 9 năm 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc họp mặt này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng. Cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn chưa được công bố.

Thành phần tham dự:

- Phía Việt Nam gồm có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng,

- Phía Trung Quốc có Giang Trạch Dân, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc.”

Vậy liệu phía Cộng sản Việt Nam còn có những thỏa hiệp bí mật bất lợi nào với Trung Cộng tại Thành Đô mà người dân chưa biết? Chỉ thấy rõ một điều là từ năm 1999 lãnh đạo CSVN đã nhượng bộ Trung Cộng nhiều về biên giới, lãnh thổ và ở Biển Đông đã khiến người ta tin vào lời của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, 103 tuổi, vẫn thường cảnh giác âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh.

Bằng chứng trong suốt 40 năm qua, những việc tổ chức kỷ niệm Cuộc chiến chống Tầu xâm lược biên giới tháng 2/1979, hay các lần kỷ niệm quân Tầu chiếm Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19/01/1974 và đánh chiếm Gạc Ma và 6 Bãi, Đá khác của Việt Nam ở Trường Sa tháng 3/1988, đã không được nhà nước khuyến khích và thường bị ngăn chặn hay phá đám ở Hà Nội và Sài Gòn.

Thay vào đó, chỉ có các cuộc thăm viếng lẻ tẻ của thân nhân, của các cựu chiến binh hay đồng đội cũ tại các địa phương dành cho người quá cố và các chiến sỹ vô danh đã bỏ mình vì Tổ quốc.

Đặc biệt, trong khi cho phép một số báo-đài viết về trận chiến Gạc Ma (Trường Sa) chống quân Tầu đánh chiếm và ca tụng hy sinh của 64 tử sỹ của Quân đội Nhân dân thì đảng và nhà nước đã lạnh nhạt với cuộc chiến đấu chống xâm lược Tầu đẫm máu và can trường của Hải quân Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa năm 1974. Hy sinh của 74 Quân nhân VNCH cũng đã bị Đảng lãng quên hèn hạ.

Quốc sử của ai?

Giờ đây, sau 44 năm đảng Cộng sản cai trị cả nước, nhà nước khoe sẽ tập hợp các nhà khoa học để hoàn thành năm đề án gồm: Bộ Lịch sử Việt Nam; Bách khoa toàn thư; Địa chí quốc gia; Hệ tri thức Việt số hoá; Dịch thuật và phát huy giá trị tinh hoa các tác phẩm kinh điển phương Đông.

Bộ Lịch sử Việt Nam, hay Quốc sử sẽ có hơn “300 nhà sử học đầu ngành trong cả nước cùng tham gia biên soạn” , theo báo Vietnam Express, ngày 12/02/2019.

Báo này viết tiếp: "Thông báo về tiến độ triển khai bộ quốc sử, PGS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cho biết, đề án này gồm 25 tập thông sử; 5 tập biên niên sự kiện; cơ sở dữ liệu lịch sử Việt Nam. 

Đề án có sự tham gia của khoảng 300 nhà khoa học, trong đó có chuyên gia đầu ngành về lịch sử dân tộc từ cổ đại đến hiện đại; lịch sử Đảng, cách mạng, quân sự, an ninh, văn hóa, khảo cổ học...

Theo ông Cường, bộ quốc sử nhằm xây dựng nhận thức mới về lịch sử Việt Nam toàn bộ, toàn diện; được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đồng ý từ năm 2014. Cố GS Phan Huy Lê (tổng chủ biên bộ quốc sử) từng nhấn mạnh phải viết toàn bộ, toàn diện, khách quan. Vì vậy, đây là bộ quốc sử đồ sộ nhất từ trước đến nay, lần đầu tiên đề cập đến nhiều "khoảng trống lịch sử" vốn được coi là "nhạy cảm" như cải cách ruộng đất, Nhân văn - Giai phẩm, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc, cải tạo tư sản ở miền Nam sau 1975, nạn thuyền nhân..." (theo VNEXPRESS, ngày 12/02/2019)

Tuy nhiên, nếu viết lại lịch sử mà chỉ dựa trên tư duy, quan điểm, tài liệu và phân tích của một bên, nhất là “bên thắng cuộc” thì “Quốc sử” chỉ còn là “Cuốc sử”.

Và liệu cuộc chiến mà người Cộng sản đặt tên là “chống Mỹ cứu nước”, hay “giải phóng miền Nam” có cần được minh bạch với cuộc xâm lăng miền Nam của bộ đội miền Bắc, cũng như Cuộc thảm sát đồng bào Huế của quân Cộng sản trong vụ Tết Mậu Thân 1968 sẽ có chỗ đứng nào trong lịch sử hay không?

Cũng như nếu chỉ nghe ông Hồ Chí Minh nói: "Mối tình thắm thiết Việt – Hoa -- Vừa là đồng chí, vừa là anh em" mà quên đi tính chính danh và sự thật của cuộc chiến chống Tầu xâm lược đẫm máu tháng 2/1979 và sau đó thì vết nhơ Quốc sử sẽ tồn tại muôn đời.

Bởi vì, như Thiếu tướng Lê Mã Lương (anh hùng Lực lượng võ tranh nhân dân) đã nói: "Sẽ là có tội nếu lãng quên một cuộc chiến mà chúng ta đã huy động hàng vạn chiến sĩ xả thân trong các trận đánh ác liệt bảo vệ tổ quốc như hồi năm 1979-1988. Đã có cả chục ngàn người lính và thường dân ngã xuống và chừng đó người khác bỏ lại một phần thân thể mình suốt dọc biên giới phía Bắc hồi năm 1979-1988. Khi nói về lịch sử dân tộc, chúng ta phải công bằng, không ai được phép lãng quên, không ai được cố tình lãng quên sự thật này." (báo Tuần Việt Nam, ngày 27/07/2017)

Cũng y như thế, nếu ta suy rộng ra Cuộc chiến huynh đệ tương tàn do đảng CSVN chủ động và lãnh đạo trong 30 năm sẽ có chân nào trong Quốc sử? -/-

(02/019)

Biên giới 1979 trước 'biển người'
                          phương Bắc...

       Biên giới 1979 trước 'biển người' phương Bắc

                                     LÊ DUẨN: “ Bè Lũ Bành Trướng Bắc Kinh” Năm 1979

                                      https://www.youtube.com/watch?v=kCAoG8GMSq0

Mùa đông năm 1978, những người nước ngoài qua lại Nam Ninh, Côn Minh thường thấy từng đoàn xe lửa chở đầy binh sĩ, xe quân sự bít bùng kín bạt xuôi về phương Nam. Họ không biết những đoàn quân ấy đi đâu. Nhiều người dân Trung Quốc thì tin rằng đây là một cuộc hành quân diễn tập.

Cùng thời điểm ấy, đường phố huyện Nà Po, tỉnh Quảng Tây trở nên chật chội hơn, khi những tốp lính áo xanh tô châu thường xuyên đi lại. Vài chục lượt xe quân sự hoạt động mỗi ngày, làm đất đường cuộn tung lên. Huyện lị của tỉnh Quảng Tây cách đường biên giới vài chục cây số. Bên kia là Hà Quảng của Việt Nam.

Cựu trinh sát Nhan Văn Dĩnh.

Trong những người quan sát đoàn quân, có một người đàn ông Nùng hay mặc áo chàm đã phai. Ông Nhan Văn Dĩnh "sang thăm họ hàng" ở bên kia biên giới. Ông Dĩnh khi ấy, là đội trưởng trinh sát Đồn 167, công an vũ trang Sóc Giang, đóng ở Hà Quảng.

"Lính đỏ, thế là bộ đội chính quy của Trung Quốc rồi", ông nhận ra Quân giải phóng Trung Quốc từ bộ quân phục màu xanh tô châu, phù hiệu đỏ trên cổ áo. Trước Tết Kỷ Mùi, lực lượng tập trung từ vài tiểu đoàn đã tăng lên cấp sư đoàn. Mang tin trinh sát về, ông Dĩnh thấy "trán chỉ huy nhăn lại", dặn tiếp tục nắm tình hình.

Lịch sử bộ đội biên phòng Cao Bằng sau này thống kê, chỉ một ngày trước cuộc tấn công, dọc biên giới Cao Bằng đã có hơn 300 lần ôtô vận tải của Trung Quốc chở binh lính và quân nhu vào các cửa khẩu. Riêng cửa khẩu Tà Lùng, hơn 300 xe tải chở đá tập kết sẵn ở mốc 24, ý đồ lấp sông Bắc Vọng cho bộ binh và xe tăng tiến sâu vào huyện Quảng Hòa.

Trong ký ức của cựu trinh sát, vẻ mặt của người anh em bên kia biên giới bắt đầu "khó coi" từ sau ngày Việt Nam thống nhất, mùa xuân năm 1975. "Lúc mình sang làm việc, cái mặt của nó không được đẹp lắm, ăn nói cũng khác lắm lố". Hai đồn công an vũ trang làm việc xong, không còn ngồi chung một mâm cơm nữa. Bên này thịt lợn, mời cơm, bên kia từ chối.

Xã Nà Sác của nữ dân quân Sầm Thị Đòng có chung 3,5 km đường biên với Trung Quốc. Dân hai bên trước nay uống cùng một mó nước, chung bãi chăn trâu, lấy củi cùng dãy núi Mã Lịp. Con gái bản Lũng Cát, Po Xà còn sang làm dâu Lũng Ỷ, Lũng Pình bên kia biên giới.

Nhưng từ những năm 1970, người bên kia hay gây chuyện, cứ tối trời là sang di dời cột mốc để lấn đất. "Ta gieo cây gì, nó nhổ cây ấy. Nó đợi ngô mình trồng có bắp, nó thả trâu bò sang ăn hết a".

Có lần, nhóm dân quân xã vây bắt thám báo Trung Quốc từ bản Lũng Pỉa sang bản Lũng Loỏng. Cả ngày trời, Đòng chạy đường rừng, không nghỉ ăn cơm.

Bà Sầm Thị Đòng.

"Nếu người Việt Nam vào chợ thì đánh", khẩu hiệu dán đầy các cột ở chợ Kẹp Nhìa ở Tịnh Tây; Bình Mãng bên kia biên giới... Nam giới sang thì bị nam giới đánh, nữ giới sang thì bị nữ giới đánh.

"Ở xã Sóc Hà này, người thôn Nà Sác bị bên kia ghét nhất. Sang bên ấy đi chợ, biết là dân Nà Sác, nặng thì nó đánh, nhẹ thì không bán hàng", bà Sự nhớ lại những ngày còn căng thẳng. Trước khi có cửa khẩu Sóc Giang hôm nay, con đường chạy qua trước cửa nhà bà Nguyễn Thị Sự từng là đường đất dẫn thẳng sang Bình Mãng, Trung Quốc.

Cái thôn ngót nghét bốn mươi nóc nhà người Nùng, nằm ngay chân đường biên giới bị ghét vì "lì lợm", không để bên kia lấn một tấc biên giới. Họ sang gây chuyện, dân Nà Sác bỏ ruộng bỏ nương, cả làng kéo nhau lên đứng thành hàng rào chắn dọc đường biên giới.

Người già trong làng vẫn dặn con cháu "Sớc hạc pác pi" - "Giặc ác trăm năm", luôn phải đề phòng. Nà Sác sẵn tre từ hồi đánh Pháp. Sau 1975, dân Nà Sác mỗi năm trồng thêm tre, vót thêm chông. Cuối 1978, chông sắt, chông tre cắm kín gần 7 km đường biên Sóc Hà.

Pháo sáng mỗi đêm vẫn nổ trên bầu trời biên giới, soi đường cho người "bên kia" sang Nà Sác thăm dò. Đội dân quân của Đòng vẫn cắt cử nhau đi gác bản làng bất kể trời sáng tối. "Đang ngủ, mõ tre cốc cốc hai tiếng là báo động, thì lạnh bao nhiêu cũng phải dậy, sương buốt bao nhiêu cũng phải đi lớ".

Nhiều lần, đụng độ đến đổ máu. Người bên kia dọa bằng tiếng Nùng "Dân mày đông không bằng một phần dân tao, vũ khí của bọn mày cũng không bằng bọn tao".

"Ra Giêng rồi biết tay nhau", bên ấy dọa thêm.

"Chúng mày không sợ chết thì cứ đánh sang đây", bên này cũng không vừa, đáp trả.

Từ mùa thu năm 1977, quân dân xã Nà Sác đào hào dọc biên giới, lập ba điểm chốt: Đồi Cháy, Po Xà, Lũng Cát và chốt phụ Kéo Lỉ trên dãy núi Mã Lịp. Dân quân xã thay nhau canh gác. Cuối năm 1978, bộ đội tỉnh Cao Bằng cũng bắt đầu về đóng tại các bản.

Năm ấy được mùa cả lúa cả ngô. Mỗi nhà trong bản Lũng Pỉa đều tích trữ một phần lương thực, chăn màn, quần áo để lên hang Ngườm Siêu. Người Nà Sác ăn Tết Kỷ Mùi không tiếng pháo tép. Đòng cũng mất ngủ từ đấy.

Cuộc xung đột vũ trang biên giới Việt - Trung năm 1979 liên quan mật thiết đến những rạn vỡ trong quan hệ Trung Quốc - Liên Xô. Điều này, không phải đến năm 1979, mà bộc lộ ngay từ những năm 1930, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành đồng thời hai cuộc chiến kháng Nhật và nội chiến chống Quốc dân Đảng.

Việc Liên Xô duy trì quan hệ đồng thời với cả Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch, khuyến khích đôi bên liên kết chống Nhật không được Mao đồng thuận. 

Trong thập niên 1950, Liên Xô viện trợ hơn 6 tỷ rúp cho công cuộc hồi phục Trung Quốc sau chiến tranh. Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ca ngợi mối quan hệ của hai nước là "vĩnh cửu, bền vững không gì phá vỡ nổi, không ai có thể chia rẽ được". Nhưng khi Liên Xô quyết định "chung sống hòa bình, quá độ hòa bình, cạnh tranh hòa bình" với Mỹ năm 1959, Trung Quốc phê phán chủ trương "ba hòa" của Liên Xô là "phản bội chủ nghĩa Marx-Lenin".

Sau thất bại của phong trào "đại nhảy vọt" năm 1960, Mao Trạch Đông quay sang đổ lỗi và phủ nhận đường lối của Liên Xô. Trung Quốc quyết tự đi tìm con đường khác. Tháng 7 cùng năm, Liên Xô ngừng viện trợ Trung Quốc.

Từ tháng 7/1963 đến tháng 8/1964, hai Đảng gửi 11 lá thư công khai đả kích lẫn nhau. Từ đầu năm 1968 đến tháng 3/1969, hơn bốn nghìn cuộc xung đột vũ trang nổ ra dọc biên giới Trung - Xô.

Tháng 2 năm 1972, Mỹ- Trung ký Thông cáo Thượng Hải, có điểm "Mỹ cam kết cùng Trung Quốc phối hợp chống ‘bá quyền’ Liên Xô". Liên Xô đáp trả bằng cách đổ quân vào Ấn Độ, liên minh khống chế Trung Quốc từ biên giới phía Tây.

Năm 1974, Mao Trạch Đông đưa ra học thuyết "ba thế giới", xếp Liên Xô vào "thế giới thứ nhất" ủ mưu bá quyền, cần chống lại.

Trở về từ chuyến thăm nước Mỹ, ngày 11 tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc mở rộng, thông báo về kế hoạch chiến tranh "trừng phạt Việt Nam".

Ba ngày sau, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi thông tư tới Đảng bộ các tỉnh và đơn vị quân đội liên quan, giải thích về cuộc "chiến tranh tự vệ". Văn bản nhấn mạnh: chiến tranh sẽ diễn ra giới hạn về không gian, thời gian, quy mô, và kết luận, hành động quân sự này sẽ "thúc đẩy hòa bình và ổn định dọc theo biên giới".

Pháo nổ rạng sáng thứ Bảy, mùa xuân năm 1979.

Nông Thị Quyên năm ấy 19 tuổi, sống cách cửa khẩu Tà Lùng bảy cây số. Tối thứ Sáu, Quyên rủ mấy chị em xuống thị trấn Quảng Hòa xem chiếu bóng. Đoàn chiếu bóng của tỉnh đang chiếu bộ phim Em bé Hà Nội.

"Xem đến cảnh bé Ngọc Hà cổ quàng khăn tang, đi tìm nhà mình trong đống đổ nát Khâm Thiên sau đêm B52 rải thảm, mấy chị em cứ bíu chặt tay nhau, khóc", bà Quyên nhớ lại.

Ở cách đó 60 km, tại thị xã Cao Bằng, trong rạp ngoài trời ven sông Bằng, người dân thị xã cũng ngồi trước màn chiếu, dõi theo bộ phim "Chiến đấu" của Liên Xô. Buổi chiếu bóng kết thúc lúc gần nửa đêm. Ai nấy chuẩn bị về nhà thì thấy mạn Trà Lĩnh, Quảng Hòa có nhiều ánh chớp lóe lên, thính tai còn nghe tiếng ì ầm. 

Bà Nông Thị Quyên trong nghĩa trang liệt sĩ tại Cao Bằng.

"Không phải mùa mưa, sao có sấm chớp", cậu bé Nông Vạn Ngàn 15 tuổi thắc mắc. Nhưng nỗi băn khoăn mau chóng lắng xuống, mọi người bàn tán về bộ phim, rồi tản  về nhà đi ngủ. 

Mấy chị em Quyên cũng trở về nhà trong cơn mưa phùn lúc nửa đêm. Ra Giêng, khí trời còn lạnh. Đang lơ mơ trong chăn ấm, Quyên bị tiếng pháo rít ầm ầm qua mái nhà dựng dậy.

Cô nữ sinh lớp 10 trường cấp ba Quảng Hòa chỉ kịp vơ cái chăn, rồi nhảy xuống hầm chữ A dựng gần gốc nhãn. Cái hầm che chở cho năm người, rung lên bần bật khi loạt pháo mới nện xuống mặt đất. Ngớt pháo, cả nhà bò ra khỏi hầm. Cây nhãn bị pháo phạt gãy đôi, đổ rạp ngay miệng hầm.

Con nuôi người Trung Quốc của trưởng bản, hóa ra là thám báo. Đêm ấy hắn dẫn đường cho quân bên kia tràn sang. Bản Bó Tờ bị đốt sạch. "Nhà nào có Đảng viên hoặc người đi bộ đội, treo bằng khen, giấy khen, huân huy chương là chúng phá sập". Nhà Quyên lợp mái tranh, trát vách đất, chúng cũng không tha.

Cuộc "trừng phạt giới hạn, quy mô nhỏ" của Đặng đã huy động 600 nghìn quân bộ binh. 32 sư đoàn của tám trong tổng số mười đại quân khu có mặt trong cuộc động binh này. Một con số mà Hứa Thế Hữu, Tổng tư lệnh lực lượng tham chiến gọi là "dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà".

Để "tiền pháo hậu xung", Trung Quốc sử dụng 550 tăng thiết giáp Type-62, Type-59, Type-63, 480 khẩu pháo mặt đất, hơn 1.200 súng cối từ 76,2mm đến 152mm, 160mm và dàn hỏa tiễn 107mm đến 130mm. Không quân và hải quân cũng triển khai 200 tàu chiến; 706 máy bay tiêm kích J-5, J-6, J-7; 120 tiêm kích bom J-6, Q-5 và 122 máy bay ném bom H-5, H-6, để chi viện trong trường hợp cuộc chiến mở rộng.

Để đối phó với tình huống Liên Xô đổ quân đánh yểm trợ cho Việt Nam, mặt trận phía bắc Trung Quốc, bao gồm hai tỉnh Hắc Long Giang và Tân Cương được đặt chế độ báo động cao nhất. 300 nghìn dân cư tại đây được lệnh sơ tán.

Với lực lượng gấp mười lần, được yểm trợ bằng tăng và pháo, họ Hứa tin rằng sẽ nhanh chóng xé nát hệ thống phòng thủ biên giới của Việt Nam, đánh chiếm các thị xã trong vòng vài ba ngày. Và nếu muốn, "không đến hai giờ có thể đánh xuống Hà Nội".

Bên này biên giới, 600 nghìn quân chủ lực của Việt Nam đang bị chia nhỏ ở các chiến trường Campuchia, Lào; miền Nam và quanh Hà Nội. Tổng lực lượng phòng thủ biên giới lúc này chỉ có bảy sư đoàn, một lữ đoàn và dân quân sáu tỉnh, tổng cộng chưa đến 60 nghìn người.

Biển quân 600 nghìn chia làm hai nhánh Đông - Tây. Hứa Thế Hữu cầm cánh phía Đông, đánh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Dương Đắc Chí, Tư lệnh Đại quân khu Côn Minh đảm nhiệm cánh Tây, tấn công Lai Châu, Hoàng Liên Sơn và Hà Tuyên.

Tỉnh Cao Bằng với 333 km đường biên cùng 634 mốc quốc giới, dài nhất toàn tuyến, đã khiến Trung Quốc dốc vào đây 130 nghìn quân - gần một phần tư tổng số, chia hai hướng để đánh chiếm.

Theo tài liệu chính thống, cuộc chiến nổ ra rạng sáng 17 tháng 2 năm 1979. Nhưng trên thực tế, súng đã nổ rất sớm ở biên giới Cao Bằng. Lúc 21h ngày 16 tháng 2, quân Trung Quốc đã pháo kích dữ dội vào xã Cần Yên của huyện Thông Nông. Và gần nửa đêm, chúng mở rộng phạm vi sang mạn Trà Lĩnh, Hà Quảng.

 Tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung Quốc trong cuộc chiến biên giới.

Tiếng pháo đầu tiên nổ ở bên kia biên giới, liền sau là tiếng mõ tre báo động hai nhịp một của dân quân tự vệ bản Lũng Pỉa, Hà Quảng. Sầm Thị Đòng vùng dậy, vơ lấy đôi lựu đạn và cái gậy tre ở góc nhà, chuẩn bị lên chốt chiến đấu.

Đứa em út 5 tuổi tỉnh giấc, khóc nghẽo nghẹt vì những tiếng nổ sáng lòe trời. Bà và mẹ chồng Đòng cùng sáu đứa em cuống cuồng dắt díu nhau lên hang Ngườm Siêu trú cùng dân bản. Ra đến cổng, mẹ chồng còn quay lại ôm vai con dâu mà khóc. "Con đi thế này, có chắc được quay về với mẹ không?". 

Bố chồng Đòng cũng là dân quân, trực trên chốt từ trước Tết. Chồng cô là bộ đội biên phòng, chiến đấu ở Nậm Quét, Bảo Lạc, Cao Bằng. Giờ pháo đã nổ, Đòng cũng quyết đi.

Bà Sầm Thị Đòng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trời không lạnh lắm. Đòng vẫn mặc thêm hai cái quần, bốn cái áo, chít cái khăn lên đầu. Túi quần áo này, Đòng sắp sẵn từ trước Tết. 

"Nếu hy sinh, không có ai về nhà lấy đồ thay cho". Nữ dân quân 24 tuổi đã chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết của mình.

Sau lưng dân quân lên chốt, dân bản từng tốp lũ lượt kéo đi sơ tán. Những cánh đồng thuốc lá trồng từ trước Tết đã lên cao bằng cây cải. Cả vùng trời phía Bắc sáng lòe.

Tổ đội cối do Đòng làm đội trưởng có sáu dân quân nữ. Người ngoài đôi mươi như Đòng, như Liên hàng xóm, nhưng cũng có người chỉ mười sáu, mười bảy tuổi như Nga, như Xuân. Chẳng ai nặng được đến bốn chục cân. Tay không một bó đuốc, sáu cô gái băng hai cây số đường rừng sang hậu cứ ở bản Lũng Loỏng lấy vũ khí để sẵn sàng lên chốt Kéo Lỉ. 

Khẩu cối 60mm nặng hai mươi cân, cùng bốn thùng đạn trên vai sáu cô gái leo thêm bốn km đường núi, lên đến chốt, cũng là khi trời tảng sáng. Tiếng pháo từ bên kia đã vãn. Giọng của tổ trinh sát C5 rè rè qua bộ đàm "chúng nó đang tiến vào".

Sáu cô gái ngay lập tức vào vị trí. Đòng và Liên trực tiếp điều khiển cối. Bốn người còn lại lo chỉnh kính ngắm, núm vặn và tiếp đạn. Chỉ mươi phút sau, biển người bắt đầu tràn vào từ bên kia biên giới mỗi lúc một gần, không cần dùng đến ống nhòm trinh sát cũng thấy được: một rừng xe tăng lẫn người mặc đồ xanh lá, tay cầm súng dàn hàng ngang mà đi. 

Ở đường hào phía trước, cách đó chưa đầy 100 m, bộ đội chủ lực và dân quân nam của xã cũng đang không ngừng chiến đấu. Trên chốt, các cô gái liên tục thả những quả đạn nặng hơn một cân vào nòng súng. Quả đạn bay theo đường vòng cung rồi rơi xuống, một đám khói bay lên cùng những cái xác người. Địch đông đến nỗi bắn đi hướng nào cũng sẽ có một cơ số chết, nhưng "càng bắn càng thấy nhiều người nữa đi ra".

Quá buổi trưa, quân Trung Quốc tràn vào mỗi lúc một sâu, bốn bề xung quanh chỉ thấy xác người và khói lửa. Sáu người họ vẫn chưa ngơi một giây để uống được ngụm nước. Đồng đội ở hậu cứ đều đi hỗ trợ nhân dân sơ tán và vận chuyển thương binh, không có ai tiếp cơm, tiếp nước lên chốt. Cánh rừng giữa tháng hai không có quả gì ăn được, giờ cũng bị pháo đốt cháy xác xơ. Họ chỉ còn biết nhìn về phía trước mà bắn.

               Bộ đội Việt Nam trên chiến trường biên giới, 1979.

Giữa những tiếng mìn nổ của cả hai bên, hai đồng đội của Đòng lúc ấy bỗng thét lên đau đớn. Máu túa ra không ngừng trên đầu Nga và ở mạng sườn của Xuân. Họ bị mảnh pháo của địch găm trúng, ngã xuống đất. Đội cối chỉ còn bốn người chiến đấu. 

Thân và miệng khẩu cối đã nóng như rang suốt từ sáng. Đầu óc Đòng căng như dây đàn, vừa lo cho hai đồng đội, vừa lo chiến đấu. Đến bốn giờ chiều, bốn thùng đạn vừa hết cũng là khi bộ đội và dân quân nam lên giữ chốt thay cho đội của Đòng. 

Nga và Xuân được dìu về hậu cứ chữa trị vết thương. Đòng và những người còn lại tiếp tục giúp dân sơ tán, cùng tiểu đoàn 127 di chuyển bộ đội bị thương và mai táng tử sĩ. Trung Quốc đã tiến vào từng bản làng ngóc ngách của Nà Sác. 

Một đêm tháng hai mưa lâm thâm, Đòng cùng đồng đội được lệnh rút về thị trấn Xuân Hòa. Họ bỏ lại sau lưng, sáu cái huyệt đang đào dở và chục liệt sĩ chưa kịp mai táng. 

Bốn mươi năm trôi qua, bà Đòng vẫn nhớ những cái xác đỏ loét cụt chân, cụt tay, không nhận rõ mặt người mà đêm ấy bà bỏ lại. "Không sợ chết trên mặt trận, chỉ sợ nhớ về những xác người. Cứ nhắm mắt vào là lại thấy".

Sáng 17 tháng 2 năm 1979, khi sương vừa tan, trung sĩ Hồ Tuấn trên chốt cao gần cửa khẩu Tà Lùng nghe tiếng hô vang động sau loạt pháo kích. Qua kính ngắm của khẩu 14,5 mm, Hồ Tuấn lạnh gáy khi thấy từng đợt sóng người tràn qua biên giới. Pháo dọn đường cho xe tăng tiến trước, tiếp đến bộ binh. Có cả kèn trống trợ oai. Đoàn quân lố nhố kéo dài hàng cây số, tắc lại phía sau cửa khẩu.

"Giặc đông như quân Nguyên, không cần ngắm bắn, cứ giã xuống đầu kiểu gì cũng trúng", Hồ Tuấn giữ chắc khẩu KPV 14,5 mm, khai hỏa. Biển người vẫn dâng lên. Tay pháo thủ mỏi nhừ.

Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên cuối năm 1950, bên bờ sông Áp Lục, biên giới tự nhiên giữa bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc, quân Mỹ đã sửng sốt khi nhìn thấy lớp lớp sóng bộ binh "Chí nguyện quân" ào ạt tấn công. Lớp này ngã xuống, lớp khác lại tiến lên. Liên quân Mỹ - Hàn với vũ khí lợi hại, vẫn bị biển người đẩy ngược về phía sau vĩ tuyến 38. Chiến thuật "biển người" chống lại quân đội Quốc dân Đảng một lần nữa được quân Chí nguyện áp dụng thành công.

Mao Trạch Đông trong cuốn Chiến tranh trường kỳ đã khẳng định "Trong chiến tranh, vũ khí rất quan trọng, nhưng không phải là yếu tố quyết định. Con người mới chính là yếu tố quyết định". Năm 1946, trả lời nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Mao nói: "Bom nguyên tử chỉ là con hổ giấy mà Mỹ đem dọa người". Tư tưởng quân sự của Mao từ chỗ đề cao yếu tố con người đã lấn thêm một nấc: coi thường sức mạnh vũ khí.

Ngay cả khi Mao qua đời, người kế nhiệm Hoa Quốc Phong vẫn ủng hộ tư tưởng này. Trong khi Đặng Tiểu Bình, người theo tư tưởng đổi mới, nhấn mạnh cải tổ quốc phòng trong chương trình Bốn hiện đại hóa của Trung Quốc. 

Hội nghị Công tác chính trị toàn quân tháng 4 - 6/1978 trở thành một cuộc tranh luận giữa hai luồng tư tưởng và kết thúc không đạt được sự đồng thuận nào. Giữa lúc ấy, "cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam" diễn ra. Tư tưởng quân sự của Mao vẫn áp đảo. 

Trấn giữ thị xã Cao Bằng trước tháng Hai, chỉ có Trung đoàn 567 bộ đội địa phương, chủ yếu là làm kinh tế. Năm 1978, xung đột biên giới leo thang. Trung đoàn nhận lệnh vào trấn giữ Quảng Hòa. Chiến sĩ đi đào hào, đắp công sự, cắm chông thay cho làm đường, trồng rừng. 

Ông Hồ Tuấn nhớ lại ký ức 40 năm trước.

Tết Kỷ Mùi ấy, đơn vị Hồ Tuấn ăn Tết sớm một tháng. Đầu tháng Hai, đơn vị cấm trại, báo động cấp một, sẵn sàng chiến đấu.

Hồ Tuấn đi ngủ sớm theo quân lệnh, sáng ngày mai có bài tập thể dục lúc 5h. Nhưng 4h30, kẻng báo động trong đơn vị vang dồn dập. Quân Trung Quốc tràn sang. Nhiều người vẫn đang mặc áo lót, chỉ kịp vơ lấy khẩu súng.

Tà Lùng thất thủ. Đêm 17 tháng 2, đơn vị Hồ Tuấn nhận lệnh rút về đèo Khau Chỉa. Các đại đội rải dọc đèo Khau Chỉa, từ đồi Nghĩa Trang đến đồi Không Tên, bắt đầu một cuộc chiến không cân sức.

Khau Chỉa cách cửa khẩu Tà Lùng 12 cây số, gồm một dải đồi liên tiếp nhau. Con đèo án ngữ Quốc lộ 3 - huyết mạch dẫn về thị xã Cao Bằng. Vượt qua được vị trí này, xe tăng Trung Quốc tiến về thị xã chỉ mất một tiếng. Khau Chỉa trở thành yết hầu. Bằng mọi giá phải giữ.

Trong sơ đồ dưới đây, có thể nhìn thấy kế hoạch "hội quân" giữa 2 mũi tấn công của kẻ thù, thành hay bại, nằm ở việc chúng có vượt qua đèo Khau Chỉa hay không.

Sơ đồ 2 mũi tấn công của Trung Quốc vào Cao Bằng, bị chặn lại ở đèo Khau Chỉa.

Cả trung đoàn khi ấy, có ba khẩu 14,5 mm trực tiếp chiến đấu. Loại vũ khí phòng không chủ yếu của đơn vị nòng cốt trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự cấp huyện đến tỉnh. Phiên bản ZPU-1 được Liên Xô sản xuất hàng loạt năm 1967, từ lời đề nghị của Việt Nam, nhằm đối phó với không quân Mỹ khi đánh du kích trong địa hình rừng rậm hoặc đồi núi. Loại vũ khí tưởng đã hoàn thành nhiệm vụ khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, nay một lần nữa tái xuất trong cuộc chiến bảo vệ biên cương phía Bắc.

"Chúng đánh có quy luật, thường bắn rạng sáng và nghỉ về đêm", ông Hồ Tuấn tổng kết. Muốn tiến công chốt nào, chúng câu pháo vào trước và tập trung bắn. Pháo chuyển làn là bộ binh xung phong. Bộ đội Việt Nam chỉ chờ thế, mang pháo ra mà giã.

Mỗi lần bộ binh Trung Quốc ào lên, pháo đại đội bắn không ngừng nghỉ, nòng đỏ như thép nung, vét cát tút không kịp. Bộ đội để dành nước uống dội vào nòng pháo cho nguội bớt. Bắn đến nỗi loa che lửa đầu nòng bay đi đâu, mất pittong đẩy về, khẩu pháo trong tay trung sĩ Tuấn chỉ còn bắn được phát một. Sau trung đoàn phải vác nòng mới lên thay thì mới bắn tiếp được.

Mười hai ngày trên đèo Khau Chỉa, Hồ Tuấn cầm cự chiến đấu bằng những vắt cơm dân quân Quảng Hòa chuyển lên. Vắt cơm trắng, thi thoảng độn chút muối vừng hoặc con cá mắm. Nhiều người gánh cơm đến lưng đèo thì trúng pháo. Đêm tranh thủ bên kia ngưng bắn, bộ đội lăn xuống lưng dốc tìm, nhặt những nắm cơm đã nhớt, dính đầy đất. Ông nghĩ "không có dân quân tiếp tế, chắc bộ đội chết cả".

Hôm nào nồi cơm khê là Quyên lại khóc. Chẳng hiểu sao, "cơm khê là bộ đội chết nhiều". Sau đêm pháo nổ, Quyên cùng mấy chị em trong làng đi thẳng lên chốt, xin bộ đội cho tải đạn, tải thương.

"Nó đốt nhà mình, giết dân mình rồi nên phải đi thôi", bà Quyên vẫn nhắc lại quyết định của mình năm ấy trong nước mắt.

Những cô bé người Tày sống gần cửa khẩu, thường vỗ tay hoan hô mỗi lần thấy đoàn xe tải bít bạt kín thùng từ phía bên kia sang. Những chiếc xe chở gạo, đạn dược Trung Quốc viện trợ cho chiến trường Việt Nam đánh Mỹ. Những năm "còn tốt với nhau". Những đồng bào người Tày, người Nùng chỉ quen làm nương rẫy, ngày xuân đi hội, uống rượu, giờ cầm súng đi thẳng lên chốt. Ai không cầm được súng thì nắm cơm tiếp tế cho bộ đội, hoặc tải thương, chôn cất tử sĩ.

Sau phút chốc bất ngờ, sự kháng cự của dân quân biên giới Việt Nam, có lẽ là điều mà Đặng Tiểu Bình hay Hứa Thế Hữu không dự tính được.

12 ngày không vượt được Khau Chỉa, Trung Quốc cay cú dồn quân ở thị xã Cao Bằng, theo hướng đèo Mã Phục đánh ngược lên biên giới. Ý định cùng cánh quân bên kia đèo Khau Chỉa tạo thành gọng kìm bóp chết Trung đoàn 567. Thị xã bị chiếm, liên lạc bị cắt. Từ đây, đơn vị Hồ Tuấn gần như bị cô lập và hoàn toàn chiến đấu độc lập.

Chúng đông, bắn không xuể, ngày nào cũng đông như cũ. Hồ Tuấn chỉ nghĩ "Giá mà bộ đội chủ lực về kịp thì biết tay. Nhưng xác định mình cũng là chủ lực rồi, nên cứ dần cho chúng tơi tả trước". Khi ông bắn đến thùng đạn cuối cùng, các quân đoàn chủ lực của Việt Nam đang từ mặt trận Campuchia quay về.

Ngày 28 tháng 2, trung đoàn nhận lệnh rút khỏi Khau Chỉa, chờ phản công. Đại đội hy sinh chín người. Hồ Tuấn bị pháo văng vào đầu. Lúc nhận được lệnh rút, cũng là lúc bộ binh Trung Quốc xông lên đến gần chiến hào. Ông chỉ kịp tháo cơ bẩm, phá pháo, không để vũ khí rơi vào tay giặc, ném lại hai quả lựu đạn rồi lăn xuống lưng đèo. Hành quân về đến Quảng Uyên, đơn vị đụng một tiểu đoàn Trung Quốc, lại bắn nhau một trận long trời lở đất nữa rồi mới về hậu cứ.

Một trung đoàn bộ đội địa phương Việt Nam kìm chân một sư đoàn chủ lực Trung Quốc trong 12 ngày. Họ không tiến thêm được bước nào, ngoài quãng đường 12 cây số từ cửa khẩu Tà Lùng về đến đèo Khau Chỉa. Hơn 6.000 lính Trung Quốc đã bị tiêu diệt trong 12 ngày đêm ở hướng này. Bình quân mỗi ngày 500 lính, tương đương gần một tiểu đoàn. 

Trận đánh giam chân ở đèo Khau Chỉa buộc Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật ở Cao Bằng. Chúng chia quân thành những đơn vị cỡ tiểu đoàn cơ động để tìm kiếm, khóa đường, lùng sục. Nhưng vẫn không vượt qua được con đèo. Thất bại trong việc làm chủ Cao Bằng, Lạng Sơn "trong vài ba ngày", thực quyền chỉ huy cuộc chiến từ Hứa Thế Hữu rơi vào tay Dương Đắc Chí.

24 tháng 2, từ hướng tiến công còn lại, Trung Quốc chọc thủng được phòng tuyến của quân dân và tiến vào thị xã Cao Bằng. Cái gì bằng bê tông, cao quá đầu gối, chúng ốp mìn cho nổ tung. Những cột điện bị mìn bẻ cong, không sửa được. Lúc rút quân khỏi thị xã, chúng đánh sập cầu Bằng Giang. Những trụ cầu nằm dưới lòng sông, chỉ còn lại hai mố. Cả thị xã còn một ngôi nhà lành lặn. Trong nhà có treo ảnh Mao Trạch Đông.

Nữ dân quân Việt Nam và tù binh Trung Quốc năm 1979.

Mười ngày sau mở màn cuộc chiến, 27 tháng 2, quân Trung Quốc bắt đầu tấn công thị xã Lạng Sơn. Lính Trung Quốc cố chiếm từng căn nhà, góc phố để đánh bật lực lượng phòng ngự Việt Nam ra khỏi thị xã. Cho đến ngày 5 tháng 3, quân Trung Quốc đạt được mục đích. Để chiếm thị xã cách biên giới 15 cây số, Trung Quốc đã dốc toàn lực của 10 sư đoàn, mất mười sáu ngày. Mỗi ngày tiến được chưa đầy một cây số.

Mục đích của quân phương Bắc để lại một bình địa kéo dài dọc đường biên. Thị xã Lạng Sơn bị chiến cuộc tàn phá. Năm thị xã còn lại đều là mục tiêu của cuộc phá hoại có hệ thống. Cao Bằng bị đánh sập tất cả những gì là bê tông có thể đứng vững. Trong cuộc chiến này, Trung Quốc đã phá hoại gần như sạch sẽ cơ sở hạ tầng, tiện nghi xã hội căn bản, đẩy 3,5 triệu người dân biên giới vào cảnh không cửa nhà.

Trung Quốc công bố con số thương vong sau cuộc chiến là 20 nghìn người. Trong khi Việt Nam thống kê là hơn 62,5 nghìn. Những thiệt hại cụ thể của cả hai bên, chưa bao giờ có một công bố chính thức.

Nếu cố tiến xuống Hà Nội như lời Hứa Thế Hữu tuyên bố, các cánh quân của Trung Quốc chắc chắn sẽ đụng độ với các đơn vị chủ lực Việt Nam vừa trở về từ mặt trận Tây Nam.

"Khi đó, các quân đoàn chủ lực của Việt Nam đã cơ động lên biên giới phía Bắc và vào vị trí chiến đấu, thậm chí là bao vây, sẵn sàng tiêu diệt các lực lượng xâm lược Trung Quốc. Nhưng chúng ta kiềm chế không đánh. Vì hòa bình, chúng ta để Trung Quốc rút quân. Các đơn vị cũng nhận lệnh để cho họ rút, không tổ chức truy quét", nguyên Viện trưởng Viện lịch sử Đảng Nguyễn Mạnh Hà chia sẻ với VnExpress.

      Khung cảnh chiến trường biên giới phía Bắc năm 1979.

Cuộc tấn công ồ ạt bằng biển người ban đầu tạo lợi thế bất ngờ cho Trung Quốc. Nhưng càng lấn sâu vào đất Việt Nam, cuộc chiến càng giảm dần tốc độ. Một tuần sau khai chiến, Trung Quốc buộc phải tuyên bố chiến tranh hạn chế và "sẽ rút quân sau mười ngày".

Hứa đã gặp may khi Đặng tuyên bố rút quân vào ngày mùng 6 tháng 3 năm 1979. Mười hai ngày sau, Trung Quốc mới hoàn thành việc rút quân. Rút về sau ba mươi ngày đụng độ với các lực lượng bán vũ trang Việt Nam, Trung Quốc thông báo với thế giới "đã hoàn thành mục tiêu chiến tranh".

Thông qua lệnh Tổng động viên, một ngày trước khi Trung Quốc rút quân, Hà Nội khi đó đã tuyên bố "Công cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của bọn phản động Trung Quốc bắt đầu".

Chiến thuật biển người mà Trung Quốc sử dụng từ thời nội chiến dần vô dụng trước chiến tranh du kích của các lực lượng bán vũ trang Việt Nam. Chính cuộc chiến này, đã khai tử chiến thuật mà quân đội Trung Quốc áp dụng với nhiều cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20. Tư tưởng quân sự của Mao hoàn toàn bị triệt bỏ.

"Dạy cho Việt Nam một bài học", Trung Quốc nhận lại bài học về chiến thuật, chiến lược chiến tranh: quân đội Trung Quốc không thể đảm đương một cuộc chiến tranh hiện đại. Những tổn thất trong cuộc chiến cùng thất bại về vũ khí, chiến thuật buộc họ về sau phải hiện đại hóa gấp quân đội.

Tám mươi tư năm cuộc đời ông Nông Văn Niêm từng nhiều lần đánh võ tay không với người Trung Quốc để giữ đất Sóc Hà, từng bị họng súng kề ngực, đá ném thành thương tật. 

Ông không nói được nhiều tiếng Kinh. Nhưng ông nhớ rõ ngày tiếng pháo rót sang cũng là ngày cha mình chết. Lúc ông cụ bị mảnh pháo văng vào bụng, người con đang giữ chốt cùng với dân quân Sóc Hà. Ông cũng nhớ mình mất một tháng hai mươi ngày đi bộ từ Nà Sác xuống Bắc Kạn tìm vợ con thất lạc.

Từ trên chốt trở về sau những ngày chiến đấu, ông thấy ngôi nhà sàn năm gian bị đạn pháo đánh sập một nửa phía sau. Những cột gỗ chống nhà sàn cũng bị gãy đổ. Ruộng ngô trước cửa nhà hôm ông lên chốt còn mới nhú xanh, trâu bò vợ ông vẫn hay chốt then trong chuồng. Bây giờ về lại, cha già đã mất, nhà đã đổ, ruộng ngô đã cháy, chuồng không thấy trâu bò.

"Chẳng ai quên đâu, nhớ hết đấy. Nhưng có ai hỏi đến thì mới nói thôi. Chiến tranh qua rồi thì yên ổn mà làm ăn thôi, chẳng ai thích đi gây sự trước cả".

Tà Lùng, Trà Lĩnh và Sóc Giang, những nơi quân Trung Quốc từng tràn qua, giờ đều là những cửa khẩu được hưởng cơ chế Khu kinh tế cửa khẩu, theo quy định của Chính phủ từ năm 2014. 

Con đường từ cửa khẩu Tà Lùng về thành phố Cao Bằng trở thành tuyến thông thương chính, nơi có tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu đạt hơn 123 triệu USD năm 2018. Những chiếc container từ bên kia biên giới, nhận giấy thông hành, xuôi Quốc lộ 3, qua đèo Khau Chỉa sẽ đưa hàng hóa đi khắp vùng.

Cuộc chiến không kết thúc ở tháng Hai. Cuộc chiến kéo dài mười năm sau đó. Quân Trung Quốc tiếp tục chiếm đóng ở 10 điểm, liên tục tạo xung đột, quấy nhiễu để gây áp lực buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia. Đất nước cùng lúc gánh hai cuộc chiến.

Dải biên giới phía Bắc, một thời trở thành vành đai trắng vì đạn pháo và mìn. Một năm sau, mười người gia đình ông Niêm dắt díu nhau lộn về Hà Quảng. Cả Nà Sác khi ấy vẫn chưa nhà nào dám về. Cũng có những nhà không bao giờ về nữa.

    Ông Nông Văn Niêm trước căn nhà ở bản Nà Sác.

Gia đình ông Niêm phải ở lại bản Giới, cách đó mấy cây số để đợi bộ đội gỡ hết mìn. Đúng mười năm, ông sống trong cảnh có nhà mà không dám về. Năm 1990, khi về lại nhà cũ, cỏ dại đã mọc ngang đầu.

Ông lên rừng chặt củi, nhào đất sét ruộng, dựng lại ba gian nhà trên nền đất cũ. Vợ chồng trỉa lại ngô, nuôi lại lợn. Năm 1996, trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu Sóc Giang động thổ thi công, bên kia lại gây chuyện. Ông Niêm đang cày ruộng cũng vứt đó, cùng dân Nà Sác kéo nhau ra cửa khẩu nói lý.

"Dân Nà Sác này nghèo, nhưng không sợ Trung Quốc đâu", ông đứng dưới sân nhà, vốn là mặt ruộng chỉ về phía đường biên. 

Từ cái sân đất nhà ông nhìn lên, một hàng rào biên giới được phía Trung Quốc dựng lên. Cái hàng rào dây thép gai màu xanh lơ, cao quá đầu. Người ta cố sơn xanh khối thép ấy, nhưng vẫn khác hẳn màu xanh của cỏ cây nơi biên giới.

Bốn mươi năm, bao nhiêu trận lũ sông Bằng cũng không cuốn trôi được khối bê tông nằm ngay dưới chân cầu Bằng Giang mới. Một phần trụ cầu cũ bị đánh sập vẫn nằm đó. Dàn đèn ngũ sắc trên cầu Bằng Giang mới, là điểm nhấn của toàn thị xã này về đêm. Ông Hồ Tuấn mở một quán nhậu chân gà nướng, ngay bên chân cây cầu ấy.

Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Uyên cách Khau Chỉa chưa đầy chục cây số, ông Hồ Tuấn đôi khi rẽ vào thắp hương cho đồng đội. 406 ngôi mộ nằm ở đây, có 250 mộ liệt sĩ Trung đoàn 567. Họ đều hy sinh tháng Hai năm 1979. Nhiều liệt sĩ nằm lại nghĩa trang các đồn biên phòng, các huyện biên giới từ Pa Nậm Cúm đến Pò Hèn đều có chung ngày giỗ. Nhiều ngôi mộ ở Vị Xuyên, Hà Giang thì mới hơn, từ 1984 đến 1989.

Người Cao Bằng như họ ít nhắc những đau buồn của cuộc chiến. Ký ức sẵn trong đầu, ai hỏi thì họ kể. 

Những người sống ở đường biên này, không quên ngày hôm qua nhưng vẫn nhận thức được ngày hôm nay; nhớ như in thời chiến nhưng biết trân trọng thời bình; và cùng một gương mặt, họ luôn biết khi nào coi là thù, lúc nào, cần là bạn.

Bài: Thanh Lam, Hoàng PhươngẢnh: Trần Mạnh Thường, Ngọc ThànhĐồ họa: Tiến Thành

https://vnexpress.net/longform/bien-gioi-1979-truoc-bien-nguoi-phuong-bac-3879866.html
--



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Mặc dầu tàu TQ giết hại hàng trăm ngư dân VN thời CSVN nhưng các ngư phủ miền Trung vẫn trộng lòng nhân ái liều chết chứu 32 ngư dân TQ gặp nạn khi xâm chiếm biển VN!
Thế lực thù địch: Nhân dân VN!
Ráng giúp cho người thiếu ăn được ấm lòng
Thời đại HCM: Người phụ nữ Việt bị chồng Hàn Quốc đánh gãy xương theo kiều Taekwondo vì không nói rành tiếng Hàn!
Tuyệt tác: Cô hái mơ – Chùa Hương Xa Lắm của Nguyễn Bính dịch sang Anh Ngữ bởi nữ sĩ Hương Cau Thomas T N Cao
Nạn nhân thảm sát Mậu Thân trở thành Tướng Hải quân Hoa Kỳ - Tố cáo tội ác CSVN tết Mậu Thân
Những nước đáng sống trên thế giới: Việt Nam lọt Top 10 ho người ngoại quốc đáng sống nhưng ngược lại cho người trong nước
Đi thăm quê hưong Bác đoàn du khách gặp nạn, 15 thương vong - Lấy DNA bác hồ để xác minh người Hoa hay VN
Những đồng bào bán người VN cho TQ làm nô lệ tình dục miền Bắc truỳền thống XHCN 75 năm
Chân dung và con đường hoạn lộ của Triệu Tài Vinh,
60 NĂM TRƯỚC SINGAPORE THÁN PHỤC NGƯỜI VIỆT: "Sài Gòn là HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG"
Bí mật nhà nước ?
TT Trump điểm danh CSVN: ‘Việt Nam lạm dụng tệ hơn Trung Quốc trong thương mại’
Hát lên cho chế độ bạo tàn sụp đổ!
Quân Đội Hoa Kỳ Có Thêm 2 Nữ Chuẩn Tướng giai nhân Người Mỹ Gốc Việt

     Đọc nhiều nhất 
Tổng thống Trump trở thành cứu tinh cho TQ - Tại Shangri-La, Washington kêu gọi Bắc Kinh ngừng xâm lấn chủ quyền của láng giềng [Đã đọc: 690 lần]
Hong Kong: Hai triệu người tham gia biểu tình ngày 16/6/2019 [Đã đọc: 536 lần]
Sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam [Đã đọc: 526 lần]
VN: Một dân tộc bất hạnh! [Đã đọc: 524 lần]
Cách chữa bệnh ung thư. Yên tâm không còn sợ nữa [Đã đọc: 509 lần]
SOS! Kẻ trộm bị nữ gia chủ cuồng dâm cưỡng hiếp! [Đã đọc: 501 lần]
Hoa Kỳ và các nước Tây phương tăng nhập hàng từ Việt Nam vì thương chiến với Trung Quốc [Đã đọc: 494 lần]
Kinh tế Việt Nam được dự báo sớm vượt Singapore và các nưóc ASEAN nếu có chế độ tự do [Đã đọc: 482 lần]
Quân Đội Hoa Kỳ Có Thêm 2 Nữ Chuẩn Tướng giai nhân Người Mỹ Gốc Việt [Đã đọc: 461 lần]
Mê trai Phi Châu gái Việt sùng tín đạo Hồi [Đã đọc: 456 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.