Phán quyết PCA và tương lai của biển Đông
10.07.2016 10:57
Bùi Quang Vơm (Danlambao) - Còn hai ngày nữa, ngày 12/07/2016 Tòa trọng tài thường trực (PCA) sẽ đưa ra phát xét chính thức cho phiên xử đơn kiện của Philippines về đường lưỡi bò của Trung Quốc trên biển Đông.
Có thể tin chắc chắn rằng phán quyết của PCA sẽ ủng hộ Philippines, bác bỏ yêu sách chủ quyền đường chín đoạn hay đường lưỡi bò mà Trung Quốc đưa ra chỉ dựa trên “chứng cứ lịch sử”, chiếm hơn 80% diện tích biển Đông Thái Bình Dương, nơi có lưu lượng luân chuyển chiếm gần 50% tổng lượng hàng hoá toàn cầu với giá trị gần 5000 tỷ USD.
Trung Quốc bị dồn vào thế bắt buộc phải lựa chọn thái độ hành xử. Tuỳ theo từng lựa chọn, số phận biển Đông, trật tự thế giới và an ninh toàn cầu có thể thay đổi.
Tất nhiên, trước một sự kiện, sẽ có ba khả năng xảy ra, ba phương án mà Trung Quốc lựa chọn.
- Phương án thứ nhất, Trung Quốc chấp nhận thua kiện, thừa nhận tính phi pháp của đường lưỡi bò, muối mặt rút lại “chủ quyền không thể chối cãi” nhưng không thể chứng minh.
Buộc phải chấp nhận giữ nguyên hiện trạng, huỷ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ biển Đông. Với phương án này, Trung Quốc buộc phải từ bỏ giấc mơ Trung Hoa, từ bỏ “con đường tơ lụa trên biển” và giấc mơ chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ, quay lại chiến lược “thao quang dưỡng hối”, hoàn chỉnh các căn cứ tại Hoàng Sa, âm thầm hoàn thiện vũ trang các thực thể đã chiếm được tại Trường Sa, chờ đợi giàu có lên cho đến khi bằng và vượt Mỹ về năng lực quân sự, chờ đợi khủng hoảng của Mỹ, khủng hoảng của thế giới các cường quốc, mai phục một khủng khoảng toàn cầu. Trong khi tìm mọi các tăng trưởng nhanh nhất về kinh tế, Trung Quốc sẽ tận dụng mọi cơ hội để chia rẽ thế giới siêu cường, kích thích các mâu thuẫn giữa Nga và phương Tây, nuôi dưỡng và duy trì khủng hoảng trung đông và giữ cho biển Đông không có chiến tranh nhưng luôn có xung đột cục bộ, giữ lửa để có thể bùng phát thành chiến tranh bất cứ lúc nào có cơ hội. Đây là chủ trương của Đặng Tiểu Bình, “chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác”. Khát vọng chiếm đoạt biển Đông không bao giờ bị từ bỏ, nhưng không được đưa ra như một mục tiêu có hạn định thời gian.
Kịch bản này tuy vậy, lại rất khó có thể chấp nhận. Vì trên thực tế, nhà cầm quyền Bắc Kinh, thúc đẩy bởi ảo tưởng siêu cường sau 40 năm liền tăng trưởng, đã đi quá xa trong việc kích đ̣ộng chủ nghĩa dân tộc, nhằm tạo ra sự cố kết quốc gia, sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu. Trung Quốc đã đẩy khát vọng thành một thứ ma tuý.
Nhưng trong một xã hội có truyền thống rời rã, bất tuân quyền lực trung ương, lực dính kết bề ngoài, chỉ bằng khát vọng đại Hán, là con dao hai lưỡi. Chấp nhận thất bại đường lưỡi bò là thất bại của giấc mơ siêu cường bá chủ, là thất bại của tính chính danh và uy thế quy tụ, tập trung quyền lực của tập đoàn cầm quyền, nguy cơ phân rã, nội loạn và tan vỡ có khả năng quay trở lại. Nếu quyền lực trung ương tan vỡ, “Quảng Đông, Vân Nam, Tứ Xuyên, Tân Cương, Tây Tạng, thậm chí cả Thượng Hải, vốn chưa bao giờ trung thành với Trung Nam Hải, có nguy cơ cát cứ. Trung Quốc trên thực tế sẽ tan thành từng mảnh. Trong hoàn cảnh quyền lực Trung ương mất hiệu lực, Hồng Kông sẽ xin nhập trở lại Anh và Đài Loan sẽ tuyên bố độc lập, Tân Cương có thể tuyên bố ly khai?!”.
Nguy hại hơn, nếu thừa nhận UNCLOS, yêu sách“chủ quyền lịch sử” bị vô hiệu, các thực thể chiếm đoạt bằng vũ lực, cơi nới, bồi lấp nhân tạo không được coi là căn cứ tạo ra chủ quyền, Trung Quốc đối diện với các yêu sách của Philippines đối với Scarborough, Việt Nam đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa. Các vụ kiện ra Toà quốc tế có thể sẽ chỉ mới bắt đầu và sẽ còn tiếp tục.
Mặc dù vậy, ít ai chịu nhận rằng, đây là phương án duy nhất tốt cho Trung Quốc. Không có quyền chủ quyền trên toàn bộ biển Đông, nhưng bằng hữu nghị hợp tác bình đẳng, từ bỏ tư duy bành trướng và sôvin đại Hán, thực tâm tôn trọng các quốc gia nhỏ, đặc biệt là các quốc gia láng giềng gắn liền như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, và Việt Nam. Với tỷ trọng kinh tế khổng lồ và sức hút các lợi ích kinh tế, Trung Quốc sẽ làm chủ việc chia sẻ quyền kiểm soát trên thực tế không chỉ biển Đông mà cả biển Hoa Đông. Không cần phải đối đầu công khai với Mỹ, gây xung đột và đe dọa an ninh thế giới, thực tế Trung Quốc vẫn có thể thực hiện chương trình “một vành đai một con đường” mà không cần phải có quyền tài phán trên toàn bộ biển Đông.
- Phương án thứ hai, có lẽ là phương án có "xác suất cao nhất". TQ không thừa nhận phán quyết của Tòa và tiếp tục tuyên bố không từ bỏ chủ quyền. Phương án này sẽ dẫn đến tuyên bố ADIZ. Phớt lờ phán quyết của Toà, tăng cường phương tiện quân sự đủ để kiểm soát vùng trời và vùng biển trên toàn bộ biển Đông, bất chấp vùng hải phận quốc tế theo quy chế công ước UNCLOS.
Cự tuyệt phán quyết của PCA, Trung Quốc sẽ buộc phải rút khỏi UNCLOS hay trên thực tế không còn được hưởng các quy chế quốc tế căn cứ trên UNCLOS. Thực tế, Trung Quốc tự đưa mình ra ngoài vòng pháp luật. Không tuân thủ luật pháp quốc tế, nhưng cũng sẽ không có tư cách để đòi hỏi được hưởng các quy chế quốc tế. Tư cách và tiếng nói của Trung Quốc trong các tổ chức, định chế quốc tế sẽ phải chịu áp lực.
Tuy là phương án mong muốn, vì vẫn giữ nguyên lập trường độc chiếm biển đông, không phản bội nguyện vọng dân chúng Trung Quốc vốn bị mê hoặc do chính chính sách tuyên truyền nhiều năm nay của nhà cầm quyền. Nhưng ADIZ chứa đựng không ít nguy cơ thất bại. Bằng tuyên bố vùng nhận dạng phòng không, Trung Quốc tạo áp lực, gây phiền hà cho các hoạt động thương mại, đe dọa an toàn đối với các phương tiện bay và tàu thuyền đi lại của rất nhiều quốc gia liên quan.
Trừ các nước có sức mạnh kinh tế độc lập và sức mạnh quân sự tương ứng như Nhật, Mỹ, Úc, Ấn Độ, các nước nhỏ khác thông thường chấp nhận khai báo và xin phép Trung Quốc, một hình thức thừa nhận chủ quyền trên thực tế. Nhưng ngay các nước nhỏ, dù vẫn trình báo xin phép, nhưng không thừa nhận quyền chủ quyền của Trung Quốc, và xử sự với Trung Quốc như với một bá quyền.
Tuy vậy, tuyên bố thì dễ, điều kiện để đảm bảo hiệu lực kiểm soát đó một cách thường xuyên và các điều kiện duy trì hiệu lực của nó về lâu dài, một mặt là vấn đề đang vượt quá sức của Trung Quốc, một mặt khác, đụng độ dân sự có thể sẽ diễn ra từng ngày, gây căng thẳng cho các lĩnh vực khác trong các quan hệ quốc gia.
Suy giảm kinh tế và thương mại hai năm vừa qua và khủng hoảng đang đến những năm sắp tới khoét sâu lỗ hổng thâm hụt. Tham vọng lũng đọan kinh tế chính trị thế giới bằng đồng tiền vung tay trên khắp các lục địa, tham vọng mua bán chính trị bằng những hứa hẹn quá trớn đang biến dự trữ ngoại hối của Trung Quốc chỉ còn là một cái túi rỗng, thị tường tài chính của Trung Quốc trở nên không thể bù đắp, đang là một trái hơi và tất yếu sụp đổ.
ADIZ trên một vùng mênh mông hải không gian hàng triệu km2, suốt ngày bão gió, xa hậu cần hàng nghìn km, với chi phí tới hàng trăm tỷ USD một năm, có thể trở thành một vết loét rỉ máu không có thuốc chữa.
Mặt khác, ADIZ biển Đông là sự áp đặt quyền kiểm soát của Trung Quốc lên một phần hải phận và không phận quốc tế theo UNCLOS, vi phạm luật pháp quốc tế và xâm phạm lợi ích quốc gia của hầu hết các nước lớn. Những cản trở tự do sẽ lôi cuốn rất nhiều quốc gia khác không trực tiếp với biển Đông vào cùng một mặt trận phản đối, tạo sức ép không nhỏ trong các quan hệ với Trung Quốc.
Mỹ sẽ buộc phải tăng cường sức mạnh quân sự. Để vô hiệu ADIZ, hai hạm đội hàng không mẫu hạm hiện đang có mặt sẽ không đủ. ADIZ sẽ tạo lý do chính đáng để Quốc hội Mỹ tăng ngân sách quốc phòng cho khu vực biển Đông, và lực lượng hiện diện thường trực tại biển Đông sẽ được tăng lên đủ để chế áp một cuộc chiến với Trung Quốc. Nhưng mật độ phương tiện của Mỹ họat động trên biển đông, đặc biệt những chuyến tàu tuần tra trong ngoài ranh giới 12 hải lý các thực thể cơi nới nhân tạo có trang thiết bị quân sự của Trung Quốc, cũng như các chuyến bay B52 không chỉ là con số một vài như đối với Hoa Đông trước đây, có rất nhiều khả năng xảy ra xung đột. Nguy cơ bùng phát chiến tranh sẽ không thể chỉ coi là khả năng. Thế giới bị đặt trước một nguy cơ bùng phát chiến tranh toàn cầu.
Liên minh Mỹ, Nhật, Úc sẽ buộc phải thực tiễn và hữu hiệu hơn. Một mặt trận quốc tế bao gồm cả Ấn Độ, liên minh châu Âu và NATO sẽ không chỉ thống nhất trên nhận thức và tinh thần... Có thể hình dung gần như một cuộc cấm vận quốc tế đối với Trung Quốc về mặt Ngoại giao và Quân sự. Quan hệ thương mại cũng vì thế mà sẽ trở lại những rào cản bảo hộ mậu dịch, ảnh hưởng trầm trọng thêm khó khăn xuất khẩu đang ở mức cao hiện nay của Trung Quốc.
Thực chất, ADIZ chỉ làm cho Trung Quốc thua thiệt thêm về mặt chiến lược.
Tuy nhiên, với tâm lý thua kiện, mọi tức tối sẽ trút hết lên đầu Philippines, tiếp đến là Việt Nam. Tổng thống mới đắc cử Rodrigo Duterte dù muốn chuyển sang thương lượng song phương, tuyên bố “sẵn sàng đàm phán và chia sẻ tài nguyên biển Đông” với Trung Quốc sau phán quyết cuả PCA. Tờ China Daily phiên bản tiếng Anh của Trung Quốc hôm 4/7 dẫn nguồn thạo tin giấu tên cho hay Bắc Kinh sẵn sàng nối lại đàm phán với Philippines, nhưng với tiền đề là Chính phủ mới của Philippines “phải từ bỏ một cách thực chất kết quả phán quyết của PCA”.
Vì vậy, mặc dù Trung Quốc luôn kêu gào đàm phán song phương, nhưng Trung Quốc sẽ không chấp nhận tha thứ. Những ai hiểu văn hoá Trung Quốc, những ai từng đọc lịch sử thương lượng tay đôi của Trung Quốc thì phải biết rút ra một bài học bất biến là Trung Quốc chấp nhận đàm phán song phương không phải nhằm phát triển hữu nghị mà là lợi dụng tiền bạc và danh nghĩa hữu nghị để thực hiện âm mưu trả thù, bắt chính phủ và người dân Philippines phải đền tội theo kiểu trừng phạt vốn có của người Tàu là sẽ làm cho Philippines khốn khổ tới mức “muốn chết không được chết”.
Trong kịch bản này, Trung Quốc sẽ tiếp tục cơi nới, bồi lấp và trang bị các bãi đá, các rạn san hô thành các đảo nhân tạo. Tiếp tục tăng cường kiến thiết 7 thực thể đã chiếm đọat thành các cơ sở chủ quyền và căn cứ quân sự. Nhưng cho dù Trung Quốc có đầu tư bao nhiêu cho Trường Sa và Hoàng Sa, nếu 21 thực thể Trường Sa còn nằm trong tay Việt Nam, 10 trong tay Philippines... thì việc độc chiếm biển đông còn là chuyện xa vời. Khi đường lưỡi bò không có giá trị pháp lý, Trung Quốc không thể tuỳ tiện “thu hồi” những hòn đảo đá còn lại. ADIZ chỉ cho Trung Quốc cái cảm giác chủ quyền giả tạo, thực chất chỉ là sự phiền toái, bỏ thì thương, vương thì tội.
- Phương án thứ ba, chiến tranh.
Ai cũng biết, thực chất của các tranh cãi hiện nay là xung đột quyền lợi giữa Mỹ và Trung Quốc, đó là mâu thuẫn giữa một siêu cường đang nắm giữ vai trò kiểm soát trật tự thế giới và một lực lượng đang vươn lên với tham vọng phá vỡ cái trật tự đó, chia sẻ quyền kiểm soát toàn cầu với tư cách là siêu cường thứ hai. Trung Quốc đã không giấu diếm tham vọng đó trong ngày 7-8/6/2013, tại khu nghỉ dưỡng Sunnylands ở Palm Springs, California, khi Tập Cận Bình đã nói “Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Mỹ và Trung Quốc”, với gợi ý hình thành câu lạc bộ siêu cường, nghĩa là thế giới chỉ còn hai quốc gia phải chia sẻ với nhau là Mỹ và Trung Quốc. Trung Quốc muốn Mỹ hãy chấp nhận chia đôi thế giới với Trung Quốc.
Bắt đầu từ 1909, đặt mốc chủ quyền trên Hoàng Sa; năm 1947 vẽ đường "lưỡi bò"; năm 1956 Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa chiếm giữ phần phía Đông của Hoàng Sa; năm 1958 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố chính thức yêu sách chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; năm 1974 chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa; năm 1988 đánh chiếm Gạc Ma, Côlin trên quần đảo Trường Sa; năm 1995 đánh chiếm thêm Vành Khăn, phía Nam quần đảo Trường Sa. Tháng 5/2009 chính thức gửi công hàm tới Liên Hợp Quốc tuyên bố chủ quyền theo đường lưỡi bò, bắt đầu chiến dịc bồi lấp, cơi nới và lắp đặt thiết bị quân sự, xây dựng các công trình phục vụ sinh sống dân sự.
Như vậy, ý định và âm mưu chiếm đoạt biển Đông không phải bắt đầu từ năm 2013 khi có vụ kiện của Philippines, do đó, Trung Quốc sẽ không vì phán quyết PCA mà thay đổi hay từ bỏ.
Có thể do phán quyết của Toà Thường trực PCA, ý đồ chính danh đi ra biển thông qua chủ quyền lưỡi bò đã thất bại. Lựa chọn con đường không chính danh, hay là con đường tước đoạt bằng sức mạnh đang nằm trên mặt bàn nhà cầm quyền Trung Quốc. Không phải Trung Quốc thua Philippines hay Việt Nam mà là do có sự hiện diện quân sự của Mỹ. Trung Quốc đã sai về chiến thuật. Thủ đoạn cắt lát salami cho phép Trung Quốc lấn chiếm mà tránh được xung đột với Mỹ. Nhưng chiến thuật này quá chậm và vì vậy mà không còn yếu tố bất ngờ. Mỹ đã kịp chuyển trục và tăng cường từng bước năng lực thích ứng. Trung Quốc buộc phải đối phó với bức tường chắn không thể vượt qua.
Nhưng nếu không chiếm đoạt và kiểm soát biển đông, không tạo ra con đường thoát ra bên ngoài, thông thương với biển quốc tế, Trung Quốc chỉ là là một con hổ bị hãm trong cũi sắt. Hai lỗ hổng có thể chọc thủng, hai mắt xích có thể bẻ gãy là Trường Sa của Việt Nam và Đài Loan.
Nếu Trung Quốc chớp nhoáng đánh chiếm Trường Sa lớn, Song Tử Tây và Sinh Tồn, những thực thể có hiện diện của hải quân Việt Nam ngay từ trước khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam năm 1995, hoặc ít nhất cũng trước khi Mỹ tuyên bố xoay trục năm 2010, thì không cần viện ra đường lưỡi bò, thực chất biển Đông cũng chỉ có mặt một mình Trung Quốc.
Sai và muộn, nhưng chưa phải là hết. Mỹ vẫn chưa có quyền can thiệp đương nhiên khi xảy ra xung đột theo hiệp định an ninh tương hỗ với Philippines, nếu Philippines không bị tấn công trước, Philippines sẽ không có lý do để cầu cứu Mỹ, và Mỹ sẽ không có quyền can thiệp. Như vậy, với Scarborough, Trung Quốc chỉ cần một lực lượng đủ mạnh dàn thành bức tường ngăn, Philippines sẽ không dám tấn công, và Trung Quốc có thể ung dung bồi lấp cơi nới và biến nó thành một căn cứ nhân tạo. Mỹ chỉ có thể đứng nhìn.
Còn với Việt Nam, trong khi Mỹ và Việt Nam còn chưa có một hiệp định an ninh chung, thì khi Trung Quốc tấn công chớp nhoáng, xoá sổ nhanh chóng và hoàn toàn sự hiện diện của bất cứ người Việt nào trên các đảo hay đá có người trên Trường Sa, Mỹ chỉ có thể ngồi nhìn và chấp nhận việc đã rồi. Việt Nam không dám đơn phương công bố chiến tranh, trong khi Mỹ không có lý do nào để tuyên chiến với Trung Quốc.
Nếu không bằng chiến tranh thì buộc Việt Nam, thậm chí cả Mỹ, lẫn các định chế quốc tế, không làm được gì khác là kêu gọi đàm phán. Trung Quốc đã biến các rạn san hô nửa chìm, và những hòn đá không có sự sống thành các hòn đảo nhân tạo, với đầy đủ trang thiết bị của mộc căn cứ quân sự bằng thủ đoạn vừa làm vừa đàm, đàm để làm. Đàm phán sẽ chỉ đem lại lợi thế nhiều hơn cho Trung Quốc. Thực trạng mà Trung Quốc đạt tới hiện nay là kết quả của nghệ thuật đàm và hãm không cho xung đột xảy ra. Mỹ biết mà không thể làm gì.
Vì vậy, phương án thứ ba là chiến tranh chớp nhoáng chiếm đoạt Trường Sa của Việt Nam, trong khi Hà Nội lúng túng như gà mắc tóc, giằng xé giữa chế độ và chủ quyền, lẫn lộn giữa bạn và kẻ thù. Chiến tranh sẽ phải nổ ra trước khi Hà Nội tỉnh ngộ và một hiệp định an ninh chung giữa Mỹ và Việt Nam được ký kết.
Con đường thứ hai là Đài Loan. Trung Quốc vốn muốn chiếm Đài Loan bằng chiến thuật bao vây phong toả, buộc Đài Loan không có lối ra với thế giới, bị trói hoàn toàn vào Trung Quốc lục địa, và bắt buộc chấp nhận sáp nhập hoà bìng vào Trung Quốc, thực hiện chiến thuật “không chiến tự nhiên thành”.
Nhưng muốn vậy, Trung Quốc cần kiểm sóat hoàn toàn cả biển Đông lẫn biển Hoa Đông. Thất bại đường lưỡi bò sẽ kéo dài vô hạn con đường ra biển về phía Nam của Trung Quốc qua biển Đông, đặt Trung Quốc trước nước cờ sáp nhập Đài Loan ngay lập tức.
Nhưng Đài Loan với xu hướng bài Trung và ly khai là một trở ngại bất lợi sau khi đảng Dân Tiến do bà Thái Anh Văn làm chủ tịch vừa giành ghế tổng thống. Tham vọng biến màu Đài Loan, chuyển đài Loan thành một thứ khu tự trị, điều khiển chính thể Đài Loan không cần một tuyên bố sáp nhập, đã thất bại cùng với thất bại của Quốc Dân đảng. Một trong những sự kiện điển hình là vụ cá chết tại Vũng Áng của Việt Nam. Tập đoàn Formosa đã bị ngay chính chính phủ Đài Loan tố cáo và lật tẩy, trong khi cổ phần cuả Trung Quốc mới chỉ đạt 39%, là một cú đánh trực diện vào âm mưu ra biển của Trung Quốc. Chậm hơn chỉ càng bất lợi. Trung Quốc đứng trước một quyết định sáp nhập Đài Loan trước khi trở thành quá muộn. Mỹ sẽ tăng mạnh sự hiện diện quân sự trong thời gian tới, và khả năng sáp nhập Đài Loan sẽ trở nên không thể, đồng thời, xu hướng độc lập của Đài Loan sẽ chỉ càng phát triển để tiến tới một tuyên bố độc lập sau trưng cầu dân ý.
Một khả năng xảy ra sẽ là hoặc Việt Nam là trận địa giả, các khiêu khích tại Trường sa sẽ tung hoả mù, cuốn hút tập trung của Mỹ và thế giới, nhưng cuộc chiến sẽ xảy ra cấp tập giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Một cuộc đảo chính do Quốc dân Đảng tổ chức có hỗ trợ từ Đại lục, sẽ lập ra chính phủ mới và tuyên bố trưng cầu dân ý sáp nhập vào Trung Quốc, trước khi Mỹ kịp phản ứng. Con đường ra biển sẽ tạo ra từ chỗ này, biển Đông không còn là một nhu cầu bắt buộc. Sẽ thu hồi dần dần.
Nhưng một khả năng khác có xác suất cao hơn là khả năng sự kiện sẽ diễn ra theo chiều ngược lại. Nghĩa là Đài Loan sẽ chơi vai trò trận địa giả. Vũ khí sẽ ồ ạt tập trung phía bờ biển đối diện với Đài Loan. Tuyên bố chống lại chính phủ Thái Văn Anh sẽ liên tục với mức căng thẳng khác thường. Các vụ đụng độ dân sự và quân sự trên biển Đài Loan sẽ có vẻ không thể dàn xếp. Chiến tranh có thể nổ ra bất cứ thời điểm nào. Nhưng tiên lửa lại ồ ạt bắn xuống ba hòn đảo có người ở tại Trường Sa Việt Nam, tàu ngầm bất ngờ nổi lên tại những hòn đảo này và quân đội Trung Quốc sẽ có mặt để đổi ngôi chủ nhân của những hò đảo này, và chôn cất các thi thể của hải quân và dân cư Việt Nam. Hà Nội sẽ kêu gọi “nhân dân bình tĩnh, đảng và chính phủ sẽ kiên quyết đấu tranh và sẽ lập tức đàm phán, yêu cầu Trung Quốc trao trả cho Việt Nam. Thiện chí hoà bình hữu nghị của anh em trong nhà không cần bất kỳ sự can thiệp nào từ phía thứ ba”. Mỹ khoanh tay ngồi nhìn. Ngược lại, nếu Mỹ huy động lực lượng vào Trường Sa, Đài Loan có khả năng bị mất luôn.
Xong cả hai việc này, Trung Quốc sẽ làm mọi việc phục vụ lợi ích quốc gia Mỹ, sẵn sàng cho Mỹ tất cả những gì Mỹ muốn nhân danh lợi ích quốc gia, miễn là Mỹ sẽ không tuyên bố chiến tranh với Trung Quốc.
***
Tóm lại, sau phán quyết PCA, chẳng có gì thay đổi gọi là mới. Vì âm mưu độc chiếm các lối thoát ra biển của Trung Quốc vẫn còn nguyên. Nếu có gì mới thì đó là chiến tranh và nếu là chiến tranh Trường Sa, thì tranh chấp biển đông với Việt Nam sẽ biến mất hoàn toàn. Sẽ chỉ cò là “quyết tâm trước sau như một của đảng và nhà nước (cộng sản)” và “nếu thế hệ này không đòi được, thì con cháu chúng ta sẽ đòi”.
10/07/2016

Diễn trò “bên miệng hố chiến tranh”, Trung Quốc đe Mỹ, gọi phán quyết quốc tế là trò hềVietTimes -- Tốt nhất Mỹ chớ làm gì hại đến an ninh và chủ quyền Trung Quốc ở Biển Đông và Bắc Kinh coi phán quyết của tòa án quốc tế là "trò hề", Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cảnh cáo Mỹ trong cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ John Kerry ngày 6/7. Hải quân Trung Quốc tập trận đổ bộ trên biển. Nước này đang tiến hành cuộc tập trận quy mô "chưa từng có" ở Biển ĐôngBộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã có cuộc điện đàm với Ngoai trưởng Mỹ John Kerry ngày 6/7 cảnh báo Washington về những động thái “xâm phạm chủ quyền” của Trung Quốc, trước khi tòa án quốc tế ra phán quyết về việc Philippines kiện “đường lưỡi bò”, Tân Hoa Xã cho biết. Vương Nghị lặp lại rằng Trung Quốc bác bỏ phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực quốc tế và gọi vụ kiện của Philippines sẽ kết thúc như một “trò hề”. Tòa án dự kiến sẽ công bố phán quyết vào ngày 12/7 tới làm dấy lên quan ngại về đối đầu tại khu vực. Giới chức Mỹ cho biết Mỹ sẽ đáp trả nếu Trung Quốc nhất mực khăng khăng bác bỏ phán quyết của tòa, có thể bao gồm tăng cường các cuộc tuần tra tự do hàng hải sát các đảo, đá do Trung Quốc quản lý trên một trong những tuyến hải lộ quan trọng nhất thế giới. Trong cuộc điện đàm, Vương Nghị yêu cầu Mỹ tôn trọng cam kết không đứng về phe nào trong vấn đề liên quan tranh chấp chủ quyền, cẩn trọng với những hành động và lời nói của mình và không tiến hành bất cứ hành động nào vi phạm cái gọi là “chủ quyền và lợi ích an ninh của Trung Quốc”, Tân Hoa Xã tường thuật. Vương Nghị còn nói bất chấp phán quyết tòa án quốc tế, Trung Quốc sẽ “kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền biển hợp pháp của mình cũng như kiên quyết bảo về hòa bình và ổn định”. Vương nói thêm rằng quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nhìn chung đi đúng hướng và rằng hai bên nên tập trung sâu hơn vào hợp tác, trong khi quản lý đúng đắn những bất đồng. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Gabrielle Price xác nhận có điện đàm và hai bên thảo luận những vấn đề lợi ích chung chứ không đi vào chi tiết trao đổi ngoại giao riêng tư. Trung Quốc tức giận về việc Mỹ tuần tra ở Biển Đông trong những tháng gần đây và ngày 5/7 đã phát động một cuộc tập trận với quy mô “chưa từng có”, huy động lực lượng của cả 3 hạm đội. Bắc Kinh ngay sau đó đã tìm cách xoa dịu nỗi sợ hãi về xung đột Biển Đông sau khi tờ Hoàn Cầu hô hào Trung Quốc nên chuẩn bị cho đối đầu quân sự. Giới chức Mỹ lo ngại Trung Quốc có thể sẽ đáp trả phán quyết của tòa án The Hague bằng cách tuyên bố thiết lập một vùng nhận diện phòng không ở Biển Đông như đã làm ở biển Hoa Đông năm 2013, cũng như tăng cường xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và ông Vượng NghịTrung Quốc luôn khăng khăng từ chối tham gia phiên tòa, nói rằng tranh chấp nên giải quyết thông qua đàm phán trực tiếp giữa các quốc gia liên quan. Trong một bài báo đăng trên tạp chí lý luận Cầu Thị, thứ trưởng bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân cáo buộc tòa án xâm phạm quyền của các bên tranh chấp để chọn con đường riêng đi đến một giải pháp. Tòa án cũng phạm thiếu sót nghiêm trọng trong việc kiểm tra thực tế và áp dụng luật. “Tòa án đã làm việc với Philipppines để che đậy những hành động chiếm đoạt bất hợp pháp lãnh thổ của Trung Quốc ở quần đảo Nam Sa (tên Trung Quốc gọi các quần đảo ở Biển Đông). Việc này không chỉ gia tăng va chạm giữa Trung Quốc và Philippines mà còn tác động nghiệm trọng tới sự ổn định trật tự trên biển”, Lưu Chấn Dân trơ tráo tố ngược Phipippnes. Nguyên ủy viên quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc còn ngang ngược gọi phán quyết của tòa án quốc tế là “mớ giấy lộn” và tuyên bố Trung Quốc “không ngán” Mỹ kể cả có điều tới 10 tàu sân bay tới thị uy ở Biển Đông. Đới Bỉnh Quốc như cái máy nhắc lại luận điệu cũ rích rằng Trung Quốc kêu gọi ngừng ngay lập tức vụ kiện. Những phát biểu của quan chức Trung Quốc được đưa ra trong bối cảnh Bắc Kinh đang cố gắng tăng cường làm mất uy tín phán quyết của tòa, khoe khoang rằng đã nhận được sự ủng hộ của 60 quốc gia ủng hộ lập trường về Biển Đông (trên thực tế cơ quan nghiên cứu Mỹ vạch rõ chỉ có 8 nước mang ơn Trung Quốc công khai lên tiếng, còn lại chỉ là đòn gió của Bắc Kinh). Ngô Sĩ Tồn, chủ tịch viện quốc gia nghiên cứu Biển Đông của Trung Quốc cũng phụ họa, phán rằng Tòa án Trọng tài Thường trực quốc tế không có quyền phân xử về tranh chấp lãnh thổ. Còn Jia Qingguo, phó chủ nhiệm khoa nghiên cứu quốc tế thuộc đại học Bắc Kinh “té nước theo mưa” nói phát biểu của Đới Bỉnh Quốc phù hợp với quan điểm của Trung Quốc rằng cần bác bỏ phán quyết trọng tài quốc tế. Đới Bỉnh Quốc đã sử dụng cơ hội thăm Mỹ để chuyển tải thông điệp của Trung Quốc rằng Bắc Kinh sẽ không để bị đe dọa bởi hành động quân sự, Jia nhận xét. Căng thẳng dâng cao trước ngày 12/7, là thời điểm Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye sẽ ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông. Theo các chuyên gia, Trung Quốc liên tục gia tăng các nỗ lực ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả những nước vốn không có quyền lợi liên quan trực tiếp đến Biển Đông, do sợ rằng phán quyết của tòa có lợi cho Philippines, sẽ khiến Bắc Kinh bị cô lập trong hồ sơ này. Phát biểu tại Việt Nam cuối tháng 5/2016, tổng thống Mỹ Barack Obama khẳng định Washington cam kết bảo vệ quyền tự do lưu thông tại Biển Đông, và nhấn mạnh không chấp nhận để cho nước lớn bắt nạt nước nhỏ, cho dù không trực tiếp nhắc đến tên Trung Quốc. Việc hải quân Mỹ liên tục tiến hành các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải trong phạm vi 12 hải lý của một số thực thể địa lý, do Trung Quốc kiểm soát trái phép tại Biển Đông trong những tháng gần đây, khiến Bắc Kinh giận dữ (mới đây nhất, Mỹ lại điều 3 khu trục hạm và 1 tàu đổ bộ tuần tra sát các đảo nhân tạo của Trung Quốc). Nhiều chuyên gia dự đoán Trung Quốc có thể có các hành động đơn phương tại Biển Đông, chẳng hạn lập vùng nhận dạng hàng không như đã từng làm vào năm 2013 tại biển Hoa Đông. Ngày 7/7, trong cuộc họp báo với ngoại trưởng Trung Quốc tại Bắc Kinh, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon nhấn mạnh rằng, các tranh chấp tại Biển Đông cần phải được giải quyết bằng con đường hòa bình.Biển Đông "bên miệng hố chiến tranh", Trung Quốc nghĩ đủ sức hất cẳng MỹVietTimes -- Những gì đang diễn ra hiện nay là do Trung Quốc tin rằng đã trở nên đủ sức mạnh đối trọng với Mỹ hoặc thậm chí vượt qua Mỹ. Câu hỏi hết sức quan trọng đối với lãnh đạo Trung Quốc là làm sao có thể hất cẳng Mỹ và trật tự khu vực do Mỹ dẫn đầu?, National Interest nhận định. Trực thăng cánh xoay V-22 Ưng biển cất cánh từ tàu sân bay MỹNhững cuộc đụng độ gần đây ở Biển Đông giữa lực lượng hải quân Indonesia và cảnh sát biển Trung Quốc đã tăng cường mối quan tâm chung đối khu vực. Một số hoan nghênh quyết tâm của Indonesia trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trên biển. Tuy nhiên một số vẫn băn khoăn về động cơ của Trung Quốc trong việc kích động xung đột khu vực như vậy với Việt Nam, Malaysia và Philippines. Làm thế nào để giải thích tại sao Trung Quốc lại mạo hiểm dấn thân vào một cuộc chiến lớn có thể kéo theo sự can dự của Mỹ vào việc tranh giành một nhúm đảo, đá?
Một vài người cho rằng các nước đang tranh giành quyền kiểm soát trữ lượng dầu mỏ và khí đốt ở những vùng biển này. Nhưng có vẻ điều đó không đúng với trường hợp này. Nhìn chung trong lịch sử hiện đại, các nước lớn hiếm khi đánh nhau trong một cuộc chiến lớn để tranh giành các nguồn lực kinh tế. Hay phải chăng vì “đường chín đoạn” ngang ngược của Trung Quốc? Chắc chắn cần phải phân biệt các cách thức, phương tiện và kết cục của các hiện tượng này. “Đường lưỡi bò” là phương tiện mà Trung Quốc sử dụng để biện minh cho những chính sách tối hậu của mình. Nhưng nó không giải thích được kết cục mà Trung Quốc muốn đạt được, do đó nó không thể được sử dụng để lí giải cho động cơ của Bắc Kinh ở Biển Đông. Hãy nhìn lại thế chỉ XX. Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát khi đế quốc Áo-Hung tuyên chiến và tấn công Serbia. Vậy có phải cuộc xâm lược của đế chế Áo – Hung gây nên Thế chiến I? Không phải như vậy. Đúng là đế quốc Áo – Hung phát động chiến tranh nhưng chắc chắn đó không phải là nguyên nhân của cuộc chiến. Nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến này là mối quan tâm của các nước lớn về trật tự khu vực thịnh hành ở châu Âu và mong muốn thay đổi nó. Người Đức (cùng với đế chế Áo – Hung) không thoải mái với việc thay đổi cân bằng quyền lực nghiêng về phía liên minh Pháp – Nga- Anh. Họ nhận ra sự thống trị của nước Đức trong trật tự châu Âu bị xói mòn và tìm kiếm phương cách để đảo ngược xu hướng này. Pháp và Nga được cổ súy bởi vị thế sức mạnh mới đạt được, đã từng bị nhục mạ trong trật tự do Đức dẫn đầu trước đó và đã tìm cách để trừng phạt Đức cùng các đồng minh của nước này. Tương tự như Thế chiến I, Thế chiến II cũng khởi nguồn với cuộc xâm lược Ba Lan của Hitle. Tuy nhiên, Ba Lan không phải là nguyên nhân sâu xa của sự kình địch giữa Anh- Pháp và Đức dẫn đến leo thang thành chiến tranh năm 1939. Mà là thực trạng Anh – Pháp lo lắng về sự chuyển dịch cân bằng quyền lực theo hướng có lợi cho Đức và tìm cách ngăn chặn xu thế này phát triển xa hơn. Quyết tâm đó cuối cùng đã dẫn đến cuộc chiến vượt qua sự tồn vong của Ba Lan. Theo National Interees, đơn giản có điểm chung giữa Serbia và Ba Lan trước đây với biển Hoa Đông và Biển Đông hiện nay là chúng đều là sân khấu cạnh tranh siêu cường. Nhưng chúng hoàn toàn không phải là nguyên nhân của sự kình địch đó. Mô phỏng cảnh quân đội Trung Quốc tấn công tiêu diệt hạm đội Mỹ của cư dân mạng Trung Quốc Chiến đấu cơ J-15 thử nghiêm trên tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc. Nước này có kế hoạch tự đóng thêm hai tàu sân bay dựa trên thiết kế của tàu Liêu NinhĐể hiểu nguyên nhân của cuộc cạnh tranh Trung – Mỹ cần phải xem xét lại lịch sử và bức tranh chiến lược của khu vực châu Á, hay đơn giản hơn là trên Biển Đông. Sau thất bại của Đế quốc Nhật trong Thế chiến II, Mỹ là siêu cường duy nhất có thể triển khai sức mạnh trong khu vực. Kể từ đó, châu Á luôn nằm dưới trật tự khu vực do Mỹ dẫn đầu. Chỉ bằng một phần nhỏ so với sức mạnh của Mỹ, các nước khác trong khu vực đều chấp nhận vị thế bá chủ của Mỹ. National Interest nhận định, những gì đang diễn ra hiện nay là do Trung Quốc tin rằng đã trở nên đủ sức mạnh đối trọng với Mỹ hoặc thậm chí vượt qua Mỹ để có thể phóng chiếu sức mạnh ở châu Á. Lịch sử đã chứng minh rằng nước nào có sức mạnh, nước ấy có quyền lãnh đạo. Và với sức mạnh mới đạt được, Trung Quốc muốn có vai trò lãnh đạo lớn hơn trong khu vực. Nhà lãnh đạo Singapore Lý Quang Diệu đã từng nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã thiết lập tầm nhìn của mình về việc thay thế Mỹ trở thành siêu cường nổi trội quyết định trật tự ở châu Á. Tham vọng của Trung Quốc với quyền lãnh đạo cao hơn trong khu vực thật không may lại gặp phải những thách thức gay gắt từ phía Mỹ cũng như các nước lớn khác trong khu vực như Nhật Bản và Ấn Độ. Sau những tuyên bố chủ quyền ngày càng gia tăng của Trung Quốc, Mỹ đã cho ra đời chính sách “xoay trục châu Á” (về sau được đổi tên là “tái cân bằng”). Trong khi đồng minh của Mỹ là Nhật Bản đã diễn giải hiến pháp, cho phép Tokyo chủ động hơn cả về chính trị lẫn quân sự ở bên ngoài lãnh thổ. Ấn Độ về phần mình cho ra đời chính sách hướng Đông trong khi cố gắng để củng cố sức mạnh hàng hải để ngăn chặn sự xâm nhập của Trung Quốc vào Ấn Độ Dương. Đối mặt với nguy cơ ngăn chặn, câu hỏi hết sức quan trọng đối với lãnh đạo Trung Quốc là làm thế nào để Trung Quốc có thể hất cẳng Mỹ và trật tự khu vực do Mỹ dẫn đầu khỏi châu Á? Trung Quốc có vẻ tin rằng trật tự khu vực do Mỹ dẫn đầu dựa trên trật tự an ninh chính trị khu vực do nước này tạo ra. Trật tự an ninh chính trị này lại dựa vào hệ thống đồng minh khu vực của Mỹ bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Philippines và Thái Lan. Hệ thống liên minh này cho phép Mỹ tiếp cận các căn cứ tiền đồn, đảm bảo cho Mỹ khả năng nhanh chóng triển khai sức mạnh trong khu vực bất cứ khi nào có khủng hoảng nổ ra. Không có những căn cứ như vậy, Mỹ sẽ không thể triển khai lực lượng một cách hiệu quả, và do đó sẽ chỉ có ảnh hưởng bên lề trong một cuộc khủng hoảng. Việc giảm bớt khả năng đối phó của Mỹ đối với một cuộc khủng hoảng khu vực đồng nghĩa với việc giảm đi rất nhiều ảnh hưởng của Mỹ đối với trật tự khu vực. Theo logic, phá vỡ hệ thống liên minh này sẽ dẫn tới sự đổ vỡ trật tự khu vực do Mỹ lãnh đạo. Câu hỏi hiện nay là làm sao Trung Quốc có thể phá vỡ hệ thống liên minh này? Theo National Interest, liên minh về bản chất là một sự đảm bảo. Bằng việc ký kết một liên minh, Mỹ đã bảo đảm với đồng minh của mình rằng nước này sẽ giúp họ bảo vệ đất nước trong các cuộc khủng hoảng. Giống như một công ty bảo hiểm thương mại, sự thành công của việc kinh doanh phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm của công ty. Miễn là các đồng minh của Mỹ tin rằng Mỹ sẽ thực hiện lời hứa của mình, hệ thống liên minh này sẽ được duy trì. Tuy nhiên nếu các đồng minh của Mỹ không tin vào những lời hứa, nghi ngờ vào độ tin cậy của những lời nói này thì hệ thống liên minh sẽ bị phá vỡ. Cụm tác chiến tàu sân bay Mỹ thường trực tại Biển Đông thời gian gần đây, gửi thông điệp không thể nhầm lẫn tới Trung QuốcHệ quả lại nảy sinh một câu hỏi mới: Làm thế nào để Trung Quốc có thể hủy hoại tín nhiệm của Mỹ đến mức mà có thể dẫn tới sự phá vỡ hệ thống liên minh khu vực? Chắc chắn không có cách nào tốt hơn là làm giảm độ tin cậy của một ai đó hơn là chứng tỏ rằng ai đó không đủ khả năng để thực hiện lời hứa. Nói một cách khác, Trung Quốc phải chỉ ra cho các đồng minh của Mỹ thấy rằng Mỹ sẽ không ở bên khi họ cần. Điều đó có nghĩa là phải kích động một cuộc xung đột với các đồng minh của Mỹ, đảm bảo rằng các nước này sẽ kêu gọi sự hỗ trợ từ Mỹ và cùng lúc đó đảm bảo rằng Mỹ sẽ không thực hiện chính sách bảo hiểm của mình. Đây là một trò chơi nguy hiểm. Trung Quốc phải nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng Mỹ sẽ không ủng hộ đồng minh của mình. Nếu không, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến với Mỹ - một tình huống nghiệt ngã cho cả hai bên khi cả hai đều sở hữu vũ khí hạt nhân, National Interest cảnh báo.
Việt Nam và chiến tranh “bất đối xứng” tại Biển ĐôngNhững cố gắng hiện đại hoá của quân đội Việt Nam sẽ được nêu lên nhằm phần nào làm sáng tỏ hơn các nền tảng vũ khí hiện có trong trang bị phù hợp với chiến thuật “bất đối xứng” trong hải chiến hiện đại. Tàu ngầm Kilo của hải quân Việt Nam trên vịnh Cam Ranh“Bất đối xứng” là thuật ngữ đã và đang được đề cập nhiều lần khi nhắc tới khả năng xây dựng lực lượng của Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông đang ngày càng trở nên căng thẳng. Bài viết này xin đề cập tới “bất đối xứng” như một chiến thuật giao chiến trên biển trong trường hợp có xung đột xảy ra. Nhiều ví dụ cho thấy các lực lượng hải quân nhỏ hơn có thể sử dụng các phương tiện “bất đối xứng” khác nhau nhằm giành lợi thế trong hải chiến, đặc biệt là hải chiến hiện đại. Về chiến tranh bất đối xứng trên biển Trước hết, cần phải làm rõ hơn về mặt định nghĩa giữa các khái niệm về “chiến lược”, “chiến thuật”. “Chiến lược hải quân” (naval strategies) đề cập tới một kế hoạch hay chiến lược tổng thể nhằm giúp hải quân đạt được thắng lợi cuối cùng trên chiến trường (đầu tư vũ khí; xây dựng con người; hậu cần; kinh tế biển…), cùng với đó là triển khai và bố trí lực lượng sao cho có lợi nhất về mặt tác chiến. Mỗi một lực lượng hải quân, tuỳ vào chiến lược cụ thể mà có các mục tiêu khác nhau, ví dụ như không đề cho kẻ địch tiếp cận được vùng bờ biển của quốc gia mình; bảo vệ tự do hàng hải; tiêu diệt hạm đội đối thủ hoặc tiến hành phong toả hạm đội đối địch… “Chiến thuật hải quân” (naval tactics), trong khi đó, là tập hợp các biện pháp đối đầu và tiêu diệt tàu chiến hay hạm đội của đối thủ trong một trận hải chiến cụ thể. Nói cách khác, chiến thuật hải quân đề cập tới cách thức mà một vị chỉ huy điều khiển tàu chiến hoặc ra lệnh cho toàn hạm đội của mình cơ động trên chiến trường (tấn công, phòng thủ, phản công…) khi chạm trán kẻ địch. Từ tác chiến cũng có một ý nghĩa tương tự, là “đánh trận với một chiến thuật cụ thể”. Có thể thấy, chiến lược là nền tảng lý luận và chính sách giúp hải quân đánh trận (chiến thuật) một cách hiệu quả nhất. Chiến thuật là phương pháp đánh trận giúp củng cố và hoàn thành được mục tiêu tổng thể mà hải quân đã đặt ra. Tiếp theo, chúng ta định nghĩa như thế nào là “bất đối xứng”? Chiến thuật “bất đối xứng” có thể được hiểu là các loại chiến thuật giúp cho lực lượng quân đội yếu hơn có thể chống lại một lực lượng quân đội có ưu thế kỹ thuật vượt trội hơn. Mục tiêu chính là hoá giải năng lực quân sự vượt trội của đối thủ, khiến cho đối thủ không thể đạt mục tiêu chiến thuật và chiến lược đã đề ra. Trong chiến tranh “bất đối xứng” trên biển, lực lượng hải quân của các quốc gia yếu hơn có nhiệm vụ chống lại sự tiếp cận của hải quân đối thủ trên một khu vực chiến trường xác định ở một thời điểm xác định, thường là ở các khu vực ngoại vi của quốc gia đó (ví dụ như Trung Quốc với chuỗi đảo thứ nhất trong cuộc đối đầu giả định với Mỹ, Iran với vịnh Ba Tư, hay Việt Nam với Biển Đông). Trong trường hợp lực lượng đối phương đã có khả năng tiếp cận chiến trường, nhiệm vụ là làm cho đối phương thiệt hại về mặt nhân lực và vật lực càng nhiều càng tốt một khi xung đột xảy ra. Lực lượng Hải quân Iran có thể được xem là điển hình trong việc áp dụng chiến thuật “bất đối xứng” trên biển. Cuộc chiến tranh Iran/Iraq vào năm 1988 đã chứng minh rằng các tàu chiến cỡ lớn (của Mỹ) có thể dễ bị tấn công bởi tên lửa và từ các cuộc không kích. Iran đã phát triển “chiến thuật bầy đàn trên biển” (naval swarming tactics): sử dụng các lực lượng hạng nhẹ, cơ động nhưng có năng lực tác chiến mạnh mẽ tập trung tấn công đối thủ từ nhiều hướng, và sau đó rút lui nhanh chóng. Xương sống của chiến thuật này là các tàu chiến cỡ nhỏ, có khả năng cơ động cao (có thể là tàu pháo, tàu tên lửa hay tàu phóng lôi). Bắc Triều Tiên lại có một cách tiếp cận khác đối với chiến thuật “bất đối xứng”. Bình Nhưỡng tập trung vào việc xây dựng hạm đội tàu ngầm “mini” của mình với các tàu ngầm lớp Yeono. Mặc dù xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1965, nhưng Yeono có các tính năng phù hợp cho các nhiệm vụ bí mật. Phía Hàn Quốc tin rằng chính một chiếc Yeono đã đánh chìm tàu khu trục Cheonan lớp Pohang của nước này. Mặc dù chỉ sở hữu khoảng 10 tàu ngầm Yeono, nhưng năng lực của các tàu này là không thể coi thường trong bối cảnh hải quân Hàn Quốc bị đánh giá là hạn chế trong khả năng chống ngầm. Ngoài tàu ngầm, hải quân Bắc Triều Tiên còn phát triển năng lực rải mìn. Các loại mìn hải quân đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh Triều Tiên - khi 70% thiệt hại của các tàu chiến của hải quân Mỹ trong giai đoạn này đến từ thuỷ lôi của Bắc Triều Tiên. Trung Quốc hiện tại cố gắng phát triển chiến lược “chống xâm nhập/chống tiếp cận” (A2/AD) nhằm mục tiêu ngăn cản sự hiện diện của hải quân Mỹ bên trong chuỗi đảo thứ nhất. Với nguồn lực lớn về tài chính và công nghệ, khả năng tiến hành chiến tranh “bất đối xứng” trên biển của Trung Quốc là toàn diện và đa dạng hơn rất nhiều nếu so sánh với Iran hay Bắc Triều Tiên. Không chỉ đơn thuần đầu tư vào vũ khí, mà Trung Quốc còn đầu tư vào các hình thái chiến tranh khác nhau. Hải quân Trung Quốc đang phát triển các chiến thuật căn bản của “bất đối xứng” trong cuộc chiến giả định với Mỹ nhằm “chiến thắng một cuộc chiến tranh khu vực dưới điều kiện thông tin hoá”, nguyên lý là đánh vào yếu điểm của đối phương. Ba yếu tố được nhắc tới bao gồm: chiến tranh mạng (cyber warfare) với mục tiêu ngăn cản các hoạt động phối hợp tác chiến của Mỹ khi có xung đột; tác chiến không gian (anti-space warfare), mục đích là tấn công vào các hệ thống vệ tinh và các thiết bị có liên quan; và tác chiến thuỷ lôi (sea-mine warfare) với các loại mìn cải tiển có khả năng điều khiển từ xa và phân biệt “địch-ta”. Điều này cho thấy Trung Quốc đã nhận ra sự phụ thuộc quá lớn của quân đội Mỹ vào các hệ thống vệ tinh cho các nhiệm vụ tình báo, trinh sát hay giám sát (ISR), chỉ huy và kiểm soát (C2), hay khả năng định vị chính xác vũ khí. Mục tiêu trong tác chiến hải quân của Trung Quốc là sử dụng những hệ thống vũ khí có chi phí thấp để tiêu diệt các loại vũ khí khí tài có chi phí chế tạo cao hơn của đối phương. Đây có thể được xem là thành tố “bất đối xứng” chủ đạo trong tư duy chiến thuật của hải quân Trung Quốc. Công nghệ đã cho phép các loại vũ khí như tên lửa có thể bắn xa hơn, chính xác hơn và được triển khai trên nhiều phương tiện mang vác khác nhau, với giá thành sản xuất rẻ hơn. Xu hướng phản ứng của quân đội Trung Quốc trước cách thức triển khai quân đội của Mỹ có thể được tóm tắt theo bảng sau: Các phương thức triển khai lực lượng của Mỹ | Đối sách của Trung Quốc | Nhanh chóng triển khai các lực lượng hải, lục, không quân tại các căn cứ tiền phương và khu vực ven biển | Sử dụng các cuộc tấn công từ trên không, trên mặt nước và dưới mặt nước chống lại các lực lượng được triển khai | Tạo lập các khu vực hậu phương an toàn cho lực lượng Mỹ và cho công tác hậu cần | Tấn công bằng tên lửa từ trên không, từ tàu chiến và sử dụng tên lửa đạn đạo | Triển khai các chiến dịch theo không gian và thời gian đã được thống nhất | Tình trạng chiến tranh | Triển khai và duy trì lực lượng không quân lớn | Tấn công bằng tên lửa từ trên không, từ tàu chiến và sử dụng tên lửa đạn đạo nhắm vào các sân bay và tàu sân bay | Dựa vào các hệ thống tác chiến phức tạp | Tấn công vệ tinh, tấn công mạng, tác chiến điện tử |
Nguồn: Van Tol, Jan, AirSeaBattle: A Point of Departure Operational Concept, Washington D.C.: Center for Strategic and Budgetary Assessments, 2010, 24. Qua bảng trên có thể nhận thấy rõ chiến thuật tác chiến của Trung Quốc dựa vào hoạt động hiệu quả của các loại tên lửa (đối không, đối hạm, đối hải, tên lửa đạn đạo) và các phương tiện mang vác (máy bay, tàu chiến, các bệ phóng di động…). Vai trò của không quân và hải quân được nhấn mạnh khi khu vực tác chiến chủ yếu là vùng biển Tây Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, tác chiến điện tử cũng là một lĩnh vực mà Trung Quốc ưu tiên khi phải đối đầu với những đối thủ có nền tảng công nghệ thông tin như Mỹ. Các ví dụ khác nhau từ Iran, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc cho thấy các chiến thuật “bất đối xứng” có thể được xây dựng khác nhau tuỳ vào năng lực và triết lý tấn công của từng quốc gia. Đối với Iran và Bắc Triều Tiên là “chiến thuật bầy đàn trên biển” . Đối với Trung Quốc, hải quân sẽ là trọng tâm trong nỗ lực “chiến thắng một cuộc chiến tranh khu vực cấp độ thông tin hoá cao” với sự kết hợp của các loại tên lửa cùng tác chiến điện tử. Năng lực vũ khí bất đối xứng của Việt Nam trên Biển Đông Mặc dù không phải là điều kiện quyết định có thể dẫn tới chiến thắng, nhưng vũ khí cũng là một trong những thành tố quan trọng quyết định sự thành công của “chiến lược xây dựng lực lượng bất đối xứng”, và cụ thể hơn là các chiến thuật có liên quan. Rod Thomton trong cuốn sách Asymmetric Warfare: Threat and Response in the 21st Century đã nêu ra bốn “vũ khí” tác chiến bất đối xứng mà các lực lượng hải yếu hơn có thể sử dụng. Thứ nhất chính là sử dụng các loại tên lửa bờ và pháo bờ biển. Thứ hai là sử dụng tàu ngầm, loại vũ khí “bất đối xứng” nổi tiếng. Thứ ba là các loại mìn dưới nước. Và thứ tư là các loại tàu tấn công nhanh gần bờ. Vai trò của hải quân Nếu dựa trên bốn thành tố của chiến lược tác chiến bất đối xứng do Rod Thomton đưa ra, Hải quân Nhân dân Việt Nam sở hữu đầy đủ cả bốn lực lượng, trong đó mạnh nhất phải kể đến đầu tiên chính là lực lượng tàu ngầm Kilo 636 cải tiến. Lực lượng tàu tên lửa, pháo-tên lửa phòng thủ bờ biển cũng đang được tích cực xây dựng và mở rộng. Hợp đồng mua sáu tàu ngầm Kilo từ Nga chính là ví dụ minh hoạ. Chuyên gia quân sự Nga Viktor Litovkin khẳng định, đối với Việt Nam, việc thành lập hạm đội tàu ngầm là nhiệm vụ rất quan trọng. Không chỉ riêng Việt Nam mà bất kỳ mọi quốc gia giáp biển nếu không sở hữu hạm đội tàu ngầm đều có nguy cơ đe đối với an ninh. Ông Litovkin khẳng định, Trung Quốc cũng có loại tàu tương tự nhưng tính năng kém hơn tàu ngầm của Việt Nam, cả về độ ồn, độ rung chấn, điều kiện sinh hoạt của thủy thủ. Các đặc tính kỹ thuật của loại tàu ngầm này cho phép chúng có thể di chuyển mà ít gây ra tiếng ồn nhất (khi so sánh với các loại tàu ngầm cùng loại khác) đem lại lợi thế cho hải quân Việt Nam. Tàu ngầm Kilo Việt Nam trang bị tên lửa Klub-S đáng sợHơn thế nữa, một lợi thế lớn của tàu ngầm mà Nga cung cấp cho Việt Nam là tàu còn được trang bị hệ thống tên lửa hiện đại, có khả năng tấn công mạnh mẽ bằng ngư lôi hay tên lửa hành trình hải-đối-đất Club S, một đặc trưng mà các tàu Kilo của Trung Quốc không hề có. Club S có khả năng tấn công các mục tiêu trên mặt đất ở khoảng cách 275km, phóng từ độ sâu khoảng 35-40m với tốc độ 240m/s. Loại tên lửa này bay với tốc độ cận âm ở pha đầu. Đến khi tiếp cận mục tiêu, đầu đạn sẽ tách ra từ động cơ chính và tăng tốc gấp ba lần tốc độ của âm thanh, tức lớn hơn 1km/s. Đến gần mục tiêu, tên lửa này bay ở độ cao chỉ 5-10m, khiến cho radar và hầu như các hệ thống chống tên lửa của đối phương không thể phát hiện. Độ chính xác cao, tốc độ lớn cũng với khả năng được phóng tại bất cứ địa điểm nào trên Biển Đông khiến cho các căn cứ của Trung Quốc trên Hoàng Sa hay Trường Sa và cả căn cứ hải quân trên đảo Hải Nam trở thành các mục tiêu khả dĩ. Đó là chưa kể, lực lượng hải quân Trung Quốc hiện tại đang bị đánh giá là yếu kém trong khả năng chống ngầm. Về lực lượng pháo-tên lửa bờ biển, chuyên gia Gary Li từ London cho rằng đặc điểm địa lý khiến cho vùng bờ biển của Việt Nam trở thành một “bệ phóng” hoàn hảo cho pháo binh bờ biển và cả các hệ thống tên lửa bờ. Lực lượng tên lửa bờ đóng vai trò quan trọng trong chiến lược an ninh hàng hải của Việt Nam, là lực lượng đóng vai trò phòng thủ và chống tiếp cận bờ biển. Hiện lực lượng này đang sở hữu nhiều chủng loại tên lửa, xuất xứ từ nhiều quốc gia khác nhau và đa dạng trong tầm bắn. Hải quân Việt Nam đã có thể tự sản xuất tên lửa chống hạm P5 Pyatyorka/Shaddock với tầm bắn lên tới 550 km (sau khi được nâng cấp). Trước đây, Việt Nam là quốc gia duy nhất được Liên Xô chuyển giao loại tên lửa này. Bước hiện đại hoá quan trọng nhất của lực lượng tên lửa bờ là việc đưa vào hoạt động hai hệ thống phòng thủ bờ biển K-300P Bastion-P với tầm bắn 300 km, có thể bảo vệ một vùng bờ biển rộng 600 km. Bên cạnh đó, hải quân Việt Nam cũng được trang bị ra-đa CW-100 được thiết kế cho nhiệm vụ giám sát bờ biển của Tập đoàn Thales có khả năng vượt “giới hạn đường chân trời”. Theo nguồn tin quốc phòng và từ Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) của Thụy Điển, Việt Nam đã nhận thêm hai loại vũ khí mới cho lực lượng pháo-tên lửa bờ biển là hệ thống tên lửa Bal-E của Nga và EXTRA của Israel. Về đặc tính kỹ thuật và tầm bắn, đây lần lượt là hai loại tên lửa tấn công tầm trung và tầm gần. Loại đạn tên lửa mà Bal-E sử dụng là Kh-35 Ural-E có tầm bắn 130km; đây cũng chính là loại tên lửa được sử dụng trên các tàu tên lửa lớp Molniya, tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9 có trong biên chế của Hải quân Việt Nam. Tổng công ty Tên lửa Chiến thuật (KTRV) của Nga khẳng định, Việt Nam là quốc gia thứ hai sau Nga được trang bị tổ hợp Bal-E. Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion-P của Việt Nam Tên lửa Extra của Việt NamRiêng về tổ hợp tên lửa EXTRA, đây là loại vũ khí ngay cả quân đội Israel cũng chưa được đưa vào trang bị. Tầm bắn của tên lửa EXTRA vào khoảng 150km và đặc biệt gây ấn tượng bởi sai số vòng tròn xác suất (CEP) rất thấp, chỉ khoảng 10m; đồng nghĩa với việc tên lửa có độ chính xác rất cao. Thêm vào đó, tên lửa EXTRA có khả năng phóng từ nhiều loại phương tiện, được ghép thành cụm ống phóng từ 2 đến 16 quả để phóng từ mặt đất. Cụm ống phóng có thể lắp lên xe tải cơ động cao hoặc tại trận địa cố định. Đạn EXTRA để trong container kín nên có tuổi thọ dài và chi phí bảo dưỡng rất thấp. Như vậy, có thể thấy, lực lượng phòng thủ bờ biển hiện nay của Việt Nam gồm rất nhiều tầng lớp và hiện đại, đủ sức ngăn chặn các trường hợp xâm nhập, đổ bộ từ đường biển. Một trong những thành tố khác của chiến lược “bất đối xứng” chính là các tàu lớp Molniya mà Việt Nam đang sở hữu, hiện đang có trong biên chế chính thức là 10 chiếc (gồm 6 chiếc lớp Molniya và 4 chiếc lớp Tarantul - một biến thể cũ hơn). Molniya có tốc độ cao, trang bị mạnh, thích hợp với chiến thuật bầy sói kiểu “hit and run” tấn công nhanh, bất ngờ từ nhiều hướng khiến đối thủ không kịp trở tay. Chiến thuật này rất hữu dụng với lực lượng hải quân của quốc gia có bờ biển dài, nhiều đảo và cửa sông dễ ẩn nấp, thuận lợi cho việc phục kích ra đòn bất ngờ. Hiện Việt Nam cũng đã làm chủ được công nghệ đóng loại tàu này dựa trên tài liệu kĩ thuật chuyển giao từ Nga. Vũ khí trang bị chính của các tàu lớp Molniya là 16 tên lửa chống tàu Kh-35 Ural-E với tầm bắn 130 km mà Việt Nam đã nội địa hoá thành công với mã hiệu trong nước là KCT-15. Như vậy, nếu thông tin Việt Nam có hệ thống Bal-E là chính xác, hệ thống này cũng có thể sử dụng các tên lửa KCT-15 nội địa do chính Việt Nam sản xuất. Vai trò của không quân Tuy vậy, nếu chỉ xem chiến lược tác chiến bất đối xứng chỉ bao gồm hải quân là chưa đủ. Đối với một quốc gia có đường bờ biển trải dài trên nhiều vĩ độ và hướng biển như Việt Nam thì sự kết hợp giữa hải quân và không quân là lựa chọn tối ưu. Ngoài các máy bay chiến đấu Su-30MK2V do Nga chế tạo, Việt Nam còn triển khai thêm các máy bay tuần tra hàng hải thế hệ mới như DHC-6, C-212 (của Cảnh sát biển Việt Nam) và máy bay vận tải C-295. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, ngay từ năm 1988, Việt Nam đã đưa máy bay Su-22M ra tuần tra quần đảo Trường Sa mặc dù đây chỉ là máy bay cường kích chuyên nhiệm tấn công mặt đất. Nhiệm vụ này được tiếp tục qua nhiều năm sau đó, với nhiều máy bay thế hệ mới, được thiết kế chuyên hoạt động trong điều kiện trên biển hơn, như Su-27SK/PU và Su-30MK2V. Một lực lượng không thể không kể đến nữa chính là các trực thăng săn ngầm. Sau một thời gian dài nằm bờ, các máy bay trực thăng săn ngầm Ka-28 đã có “đất dụng võ” khi cặp tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9 xuất hiện trong biên chế Hải quân Việt Nam. Đây là sự bổ sung và hỗ trợ trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn thiếu một lực lượng tàu mặt nước chuyên săn ngầm. Trong thời gian tới, nếu có thêm sự xuất hiện của máy bay chỉ huy-cảnh báo sớm trên không, máy bay săn ngầm cánh bằng và trực thăng săn ngầm thế hệ mới, Việt Nam có thể đảm bảo được cả nhiều tầng phòng thủ, từ trên trời, trên mặt nước và dưới lòng biển. Phi đội tiêm kích Su-30MK2 Việt Nam bay tuần tra quần đảo Trường SaTheo ý kiến của GS Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc, chiến lược bất đối xứng của Việt Nam nhắm vào Trung Quốc là để ngăn chặn không cho Bắc Kinh triển khai các tàu chiến của mình trong trường hợp có xung đột cường độ thấp xảy ra. Ở đây có nghĩa là việc triển khai tàu chiến để bảo vệ các tàu bán vũ trang bao vây các đảo của Việt Nam. Các hệ thống vũ khí “bất đối xứng” khiến cho các hoạt động của hải quân Trung Quốc sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm trong khoảng cách 200-300 hải lý tính từ đường bờ biển dài của Việt Nam. Thêm vào đó, so với Trung Quốc, Việt Nam rõ ràng chưa đủ tiềm lực tài chính để mua sắm và trang bị ồ ạt, thành lập nhiều hạm đội hải quân. Do đó, trang bị vũ khí một cách phù hợp theo phương pháp bất đối xứng là lựa chọn phù hợp với một nước có ngân sách quốc phòng khiêm tốn. Điều này đáp ứng được cả hai nhiệm vụ, thứ nhất, không để đất nước bị động trước các tình huống bất ngờ và thứ hai, tạo được niềm tin trong nhân dân, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Các chính sách hợp tác và chuyển giao công nghệ chế tạo với các đối tác quốc phòng nước ngoài cũng ảnh hưởng đến năng lực tương lai của Hải quân Việt Nam. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến bất ngờ và phức tạp, tự chủ được công nghệ chế tạo quốc phòng sẽ đảm bảo đất nước không bị động trong mọi tình huống. Mặc dù sẽ còn mất một thời gian dài nữa để Việt Nam có thể hoàn toàn tự chủ công nghệ, song điều này là hoàn toàn không phải không có khả năng xảy ra. Tuy đã đạt được một số bước tiến trong hiện đại hoá, song hải quân Việt Nam còn nhiều việc phải làm đề nâng cao hơn nữa năng lực tác chiến của mình. Có thể kể đến một số điểm sau còn cần phải hoàn thiện: (1) năng lực ISR vẫn còn nhiều yếu kém, trong bối cảnh Việt Nam có một vùng biển chủ quyền rộng lớn; (2) khả năng đóng các loại tàu chiến có lượng giãn nước lớn vẫn còn là thách thức, đi kèm với đó là năng lực tự chủ các loại vũ khí hải quân; (3) năng lực chỉ huy và huấn luyện dựa trên điều kiện thực tế còn yếu, chủ yếu do hạn chế trong tài chính và đạn dược. * Tác giả Nguyễn Thế Phương là nghiên cứu viên cộng tác thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM. |
|