Chiến tranh sẽ xảy ra nếu chính phủ Trump ngăn chặn TQ ở Biển Đông, quân dân VN chuẩn bị tham chiến Cali Today News – Các ký giả của báo WSJ cho hay nhiều chuyên gia quân sự của Trung Quốc cảnh báo là nếu Washington quyết tâm ngăn chặn không cho Trung Quốc tiếp cận với các đảo ở Biển Đông thì hành động này đồng nghĩa với chiến tranh. Báo NYT cũng trích thuật một số chuyên gia của Hải Quân Hoa Kỳ nhận định là nếu chính phủ Trump kêu gọi ngăn chận như thế, chuyện này chắc chắn sẽ đưa đến chiến tranh giữa hai nước. Sợ hãi chiến tranh là “nét yếu đuối của một nền dân chủ, đối diện với một chế độ độc tài toàn trị”, trong lúc báo chí Mỹ lo lắng hiểm họa chiến tranh thì truyền thông một chiều của Trung Quốc chỉ bày tỏ “quyết tâm bảo vệ đất nước”, cho thấy Hoa Kỳ có lỗi trong chuyện này. Thật ra nếu quan sát kỹ, người ta thấy Trung Quốc đã tiến hành nhiều việc“tiến hành chiến tranh” rồi, từ chuyện xây đảo kiên cố ở Biển Đông đến việc bác bỏ phán quyết của Tòa Án The Haye mới đây. Chủ trương “không xương sống” của cựu TT Obama ở Biển Đông, trước các hành động lấn tới liên tục của Bắc Kinh, đã thất bại thảm hại. Ông Trump là “tay cảnh sát trưởng mới trong thành phố” và nhiều người mong ông đừng mềm yếu như ông Obama. Thực ra nhiều quốc gia như Việt Nam, Indonesia, Brunei, Malaysia, Philippines mong ông Trump đừng có chùn bước trước Trung Quốc, nhưng họ lại không dám nói trắng ra trước “gã khổng lồ” như thế. Đào nguyên ( Forbes)
Thế trận gay go giữa Hoa Kỳ-Trung cộng và Việt Nam Nước Việt Nam ở vào vị trí trọng yếu tại khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, tất cả các siêu cường trên thế giới đều muốn dùng Việt Nam như một căn cứ địa để ngăn chận thế lực hùng mạnh của đối phương, tiêu biểu là Mỹ đã từng hỗ trợ Việt Nam Cộng Hòa để ngăn chận Cộng sản Quốc tế. Quân Hán thì xâm lược và đô hộ Việt Nam trên một ngàn năm, ngày nay âm mưu ấy vẫn đang ngấm ngầm. Nhà Thái dịch uyên thâm Lý Đông A (1920 -1946?) cũng là một chí sĩ yêu nước nồng nàn, nhà Thái dịch đã nhìn xa trông rộng, lo ngại bản chất xâm lược và đồng hoá thâm độc của Đại Hán. Thế nên, thiết tha nhắn nhủ đồng bào Việt: “Chúng ta hãy quay về mình xem hình thể của tự mình. Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về tự thủ muôn thuở, bất cứ trên chính trị, quân sự, kinh tế, chiến lược, văn hóa đều đứng vào thiên hiểm của trung tâm. Cho nên tự phần ta nên hiểu: Đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó. Ta chớ nên hòng làm Hòa Lan hay Thụy Sĩ; bọn thân Tàu tất cũng diệt hết đi chớ để nó làm tay trong như Phần Lan với Nga. Ta còn nguy hiểm hơn Phần Lan đối với Nga nhiều. Phần Lan chỉ có một Nga, ta còn phải phòng cả thế giới, vì thế giới kẻ nào chiếm được ta mới xưng bá được lâu dài; tiện nhất và thẳng đường nhất là Tàu, ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc, phải hiểu thế”. Vì sao nói rằng nước Việt Nam ở vào vị trí chiến lược trọng yếu? Xin thưa, nước Việt Nam, diện tích đất liền: 329.245 km2 và diện tích vùng biển lớn gấp 3 lần diện tích đất liền. Vậy diện tích Việt Nam kể cả đất liền và vùng lãnh hải (vùng biển) vào khoảng 1.316.980 km2 (329.245×4). Nước Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á, phía đông bán đảo Đông Dương. Nước Việt Nam phía bắc giáp Trung Hoa, đường biên 1.281 km. Tây giáp nước Lào đường biên 2.130 km, và Cao Miên đường biên 1.228 km, phía nam giáp vịnh Thái Lan và phía đông giáp biển Đông. Tổng cộng chiều dài đường biên giới với các nước láng giềng: 4.631 km. Nước Việt Nam từ điểm cực bắc đến cực nam là 1.650 km (đường chim bay) và bờ biển dài tới 3.444 km (có tài liệu ghi: 3.260 km). Nhìn trên bản đồ Việt Nam, phía bắc giáp China (nước Tàu) phía đông tới 3.444 km bờ biển chạy dọc theo biển Đông, mà vùng biển đang tranh chấp hiện nay đều gần bờ biển của Việt Nam, vì quần Đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) trải dài từ 15 độ 45’ đến 17 độ 15’ Bắc và từ 111 độ 00’ đến 113 độ 00’ Đông, ở phía đông của các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) trải dài từ 6 độ 12′ đến 12 độ 00′ vĩ Bắc và từ 111 độ 30′ đến 117 độ 20′ kinh Đông, quần đảo Trường Sa nằm dọc ngoài khơi bờ biển của Việt Nam từ tỉnh Khánh Hoà đến Cà Mau và đến tận Philippines (Phi Luật Tân). Ngoài ra, vịnh Cam Ranh thuộc thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, vịnh có chiều dài 16 km, rộng 32 km, nơi eo biển rộng 1,6 km, có độ sâu từ 18-20m. Vịnh có núi hai bên, như hai cánh cửa sắt khổng lồ, Hòn Tánh chận sóng lớn từ ngoài khơi gọi là đảo Bình Ba, Bình Ba có nghĩa là dẹp sóng, nên nước bên trong vịnh luôn êm ả. Hải cảng Cam Ranh là một trong 3 hải cảng lớn và tốt nhất thế giới, đấy là: Cam Ranh (VN), San Francisco (Mỹ) và Rio de Janeiro (Brasil: ở bờ biển Đại Tây Dương). Vịnh Cam Ranh có các đảo và cù lao chắn gió nên bên trong vịnh gió yên sóng lặng, tàu lớn ra vào trọng tải tới 100.000 tấn. Địa thế vịnh Cam Ranh hiểm yếu, cửa vào vịnh thu nhỏ nên kẻ thù khó tấn công, ta dễ phòng thủ, có ưu thế về địa lý và vị trí chiến lược quan trọng. Hiện nay, có nhiều quốc gia đang chú ý đến cảng Cam Ranh, vì ai làm chủ vịnh Cam Ranh có thể khống chế được toàn khu vực biển Đông. Do đấy, hiện nay các siêu cường trên thế giới luôn mong muốn tiếp cận với Việt Nam, riêng nước Tàu còn muốn tiến chiếm cả nước Việt. Vị trí Việt Nam trọng yếu, minh chứng rõ ràng là nước Nga muốn trở lại vịnh Cam Ranh. Nước Mỹ đang tìm mọi cách gây thân thiện với Việt Nam, mà gần đây chính Tổng thống Obama đã viếng thăm Việt Nam vào tháng 5-2016, chuyến đi này rõ ràng Mỹ mong củng cố chính sách xoay trục sang châu Á; muốn thắt chặt mối quan hệ về an ninh, kinh tế với một đối tác dù đấy là Cộng sản nhưng ở nơi có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, Tổng thống Rodrigo Duterte của Philippines đã “muốn chào tạm biệt” Mỹ bằng cách dọa sẽ cắt hợp đồng, sẽ không cho phép quân đội Mỹ ghé vào Philippines, điều này càng khiến cho Mỹ mong muốn tiếp cận với Việt Nam hơn. Quan sát tình hình tại khu vực Đông Nam Á, chiến tranh có thể xảy ra tại biển Đông vì ở đấy là nơi nóng hơn hết. Hiện nay, mặc dù Đảng CSVN đã nhường nhịn Đảng Cộng sản Tàu qua 16 chữ vàng là “viên kẹo bọc đường” nhưng không hẳn quân Đại Hán kiềm chế được lòng tham của chúng?! Nếu chiến tranh xảy ra tại biển Đông thì lực lượng Không quân và Hải quân của Việt, Tàu là lực lượng tham chiến nòng cốt. Do đấy, chúng ta hãy tìm hiểu Hải quân và Không quân của Việt, Tàu thế nào? Quân đội của Trung cộng, người viết đã trình bày khái quát qua bài viết: “Thế trận gay go giữa Hoa Kỳ-Trung cộng và Việt Nam (phần I)”. Thế nên, trong phần II này chỉ trình bày khái quát về quân đội Việt Nam hiện nay mà thôi. Quân số của quân đội Việt Nam hiện nay 455.000 người (quân số của Trung cộng: 2.285.000 người, đông hơn khoảng gấp 5 lần). 1- Không quân Việt Nam: Hiện có 12 máy bay chiến đấu Su-27SK, 24 máy bay chiến đấu Su-30MK2 (tầm hoạt động xa có khả năng chiến đấu trên biển), các máy bay này mua của Nga. Với số máy bay của Việt Nam hiện có, Không quân Việt Nam chủ yếu là phòng ngự. 2- Hải quân Việt Nam: Hiện có hơn 120 tàu tác chiến các loại, gồm có tàu hộ vệ, tàu tên lửa và tàu ngầm. Các tàu của Hải quân Việt Nam hầu hết do Liên Xô chế tạo. Ngoài ra, tàu tên lửa Tarantul cũng do Nga thiết kế và chế tạo là tàu tên lửa mà Nga gọi là sát thủ tàu sân bay, đây là loại tàu tên lửa được xem là tiên tiến. Đặc biệt, Việt Nam mua 6 tàu ngầm diesel-điện Type 636M, gọi là tàu ngầm Kilo, của Công ty vũ khí nước Nga chế tạo, trị giá hợp đồng 3,2 tỷ USD. Đây là tàu ngầm có tầm vóc hiện đại. Nhìn lãnh thổ Việt Nam từ điểm cực bắc đến cực nam là 1.650 km (đường chim bay), từ bờ biển của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đến biên giới phía tây chỉ có 50 km, đây là chỗ hẹp nhất của nước Việt. Thế nên, với Không-Hải quân của Việt Nam hiện nay rất khó phát huy về “ Chiến thuật và Chiến lược” khi xảy ra chiến tranh với Trung cộng?! Còn khoảng 1 tuần nữa, ông Donald Trump chính thức là Tổng thống Hoa Kỳ. Theo dõi những gì ông Trump đã nói, đã làm trong thời gian tranh cử và sau khi đắc cử. Từ đấy, chắc chắn quan hệ Mỹ-Trung sẽ căng thẳng nhiều hơn so với nhiệm kỳ của Tổng thống tiền nhiệm Obama. Hai siêu cường Mỹ-Trung tranh hùng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh nước Việt. Vận mệnh nước Việt sắp biến chuyển thì chính quyền và nhân dân Việt Nam nên nghĩ gì và làm gi???. a- Nhập Trung: Hiện tại Đảng CSVN là kẻ quyết định đất nước Việt Nam và nắm cả chính quyền, nếu Đảng CSVN có ý đồ nhập Trung thì tuổi thọ của Đảng CSVN sẽ kéo dài khoảng 1000 ngày nữa (khoảng 3 năm là tới năm 2020) tha hồ quơ quét tài sản quốc gia, đến khi nhập Trung hoàn toàn thì Đảng CSVN cũng hoàn toàn chấm dứt hay bị tiêu diệt?! b- Thoát Trung: Lấy sức mạnh dân tộc Việt Nam làm chính, hợp tác chặt chẽ với các đồng minh: Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ muốn trị Trung cộng là kẻ vong ơn bội nghĩa (xem lại bài trước, phần I). Nhật đang tranh giành với Trung cộng ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Ấn Độ tranh giành với Trung cộng ở khu vực biên giới Ladakh. Ngoài ra, Người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Người Choang ở Quảng Tây, Người Mông Cổ ở Nội Mông và Người Tây Tạng ở Tây Tạng cũng sẽ nổi lên chống lại Trung cộng quyết liệt khi có điều kiện để giành lại độc lập của họ. Sau đấy, Hoa Lục sẽ chia ra nhiều nước như thời Đông Chu Liệt Quốc (Thế kỷ IX-III TCN) gồm có 7 nước: Hàn, Ngụy, Sở, Tần, Tề, Triệu, Yên. Hiện nay, tình hình tại Việt Nam diễn tiến thay đổi từng ngày. Trước đây 10 năm dân chúng răm rắp thi hành mệnh lệnh từ nhà cầm quyền hay Đảng CSVN chỉ đạo. Trước đây 3 năm dân chúng không muốn cộng tác với nhà cầm quyền hay Đảng CSVN nhưng còn lo ngại công an đàn áp. Hiện nay, dân chúng chẳng những không muốn hợp tác với nhà cầm quyền hay Đảng CSVN, lại còn không sợ sệt công an nữa. Do đâu có hiện tượng này, do hệ thống truyền thông mạng (Internet) đã/đang phơi bày sự thật, sự thật ấy là do nhà cầm quyền và Đảng CSVN gây ra, như: Vụ án Formosa, nhà cầm quyền và Đảng CSVN đã đứng về phía công ty Formosa để đàn áp người dân, chiếm đoạt ruộng vườn dân oan, giết hại dân chúng dã man, vì tâm địa của công an “còn đảng còn mình” đã giết hại nhiều người dân tại đồn công an, mới đây đánh chết anh Phạm Đặng Toàn 29 tuổi ở tỉnh Bình Định, từ đấy người Việt khắp nơi dấy lên sự phẫn nộ. Ngoài ra, vào đầu tháng 4/2016, Đảng CSVN tự ý bổ nhiệm các chức vụ: Chủ tịch nước là Trần Đại Quang, Chủ tịch quốc hội là Nguyễn Thị Kim Ngân, Thủ tướng là Nguyễn Xuân Phúc; những người này làm việc từ ngày bổ nhiệm, thế mà mãi đến 3 tháng sau, tức tháng 7/2016, mới cho bầu cử để hợp thức hóa các chức danh đã chỉ định, đấy là việc làm phi pháp mà trên thế giới chưa từng có quốc gia nào lại lươn lẹo như thế?!. Thoát Trung là điều kiện cốt lỗi để Việt Nam sống còn, Chính phủ Trump muốn làm cho Trung cộng yếu đi, tách Việt Nam ra khỏi Trung cộng là một trong những đối sách cần thiết. Khi Hoa Kỳ nhìn thấy Việt Nam chứng tỏ quyết tâm thoát Trung cả hai mặt đối nội và đối ngoại thì Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Việt Nam ổn định chính trị, phát triển kinh tế và quân sự. Khi đấy, chẳng những Hoa Kỳ hỗ trợ mà các nước: Nhật Bản, Úc Đại Lợi (Australia) , Ấn Độ… sẽ hỗ trợ Việt Nam vì nhu cầu cùng phát triển kinh tế và an ninh chung. Tài nguyên nước Việt có đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long bát ngát, cao nguyên có chất đất bazan màu mỡ rất thích hợp cho cây công nghiệp như trồng Cao su, trà, cà phê… tại bờ biển Việt Nam có nhiều nhiên liệu (dầu khí). Thế nên, khi Việt Nam được độc lập thật sự, không bị nước Tàu khống chế, không bị Đảng CSVN gây khó khăn thì đất nước sẽ phát triển mạnh mẽ không thua kém Nhật Bản, Singapore hay Nam Hàn… mà tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 không thua các nước đó?. Cuối cùng, ai là người Việt Nam còn có lòng tha thiết với quê hương, hãy chuẩn bị để cùng cứu nguy đất nước và dân tộc, vì trong 1000 ngày tới chắc chắn đất nước Việt Nam sẽ biến chuyển. Chúng ta có lo lắng cho Tổ quốc mới không mang tội với các vị Tiên đế, Tiền nhân và anh linh Tử sĩ đã sắt son giữ gìn non nước. Mong mỏi Đồng bào đồng lòng ngăn chận Trung cộng đang ngấm ngầm xâm chiếm nước Việt và đồng hóa người Việt, có vậy nước Việt mới rạng rỡ sánh với năm châu và chúng ta mới hãnh diện là người Việt không quên quê hương của mình. Mong thay. Ngày 13-1-2017 Nguyễn Lộc Yên Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh của Trung Quốc tập trận tại Biển Đông, tháng 12/2016.REUTERS/Stringer Nhà nghiên cứu Ross Babbage trong một bài phân tích trên trang War on The Rocks (trang mạng chuyên phân tích vấn đề an ninh, trụ sở tại Washington) nhận định, bây giờ là thời điểm để nhanh chóng hành động một cách khôn ngoan trước những cuồng vọng của Bắc Kinh tại Biển Đông. Bài viết này là một phần trong báo cáo của tác giả cho Trung tâm Chiến lược và Đánh giá Ngân sách, mang tựa đề « Đối phó với những hành động phiêu lưu của Bắc Kinh trên Biển Đông : Các chọn lựa chiến lược cho chính quyền Trump ». (Xem tiếp phần 2) Biển Đông : Đã đến lúc phải dằn mặt Bắc Kinh Theo tác giả, chính sách của Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận đã thất bại. Những tuyên bố lặp đi lặp lại về lợi ích giới hạn đi kèm với những đợt cho phi cơ và chiến hạm tuần tra không ngăn được chương trình xây lên các đảo nhân tạo của Bắc Kinh, cũng như ý đồ thống trị khu vực về mặt quân sự. Khi tìm cách làm giảm nhẹ nguy cơ đối đầu ở từng giai đoạn, Hoa Kỳ và các đồng minh trên thực tế đã nhường lại việc kiểm soát khu vực mang tính chiến lược cao độ này cho Trung Quốc, mà tác giả coi như một tiến trình đầu hàng tiệm tiến. Tiền lệ xấu đã được đặt ra, và các thông điệp nghèo nàn đã được chuyển đến cộng đồng quốc tế. Tại một phần của Thái Bình Dương, phe đồng minh đang có nguy cơ bị mất đi vị trí lâu nay, là đối tác an ninh khả tín. Tại sao Washington và các đồng minh chủ chốt lại vụng về như thế ? Tại sao lại mất nhiều thời gian đến thế để phát triển một chiến lược đối phó hiệu quả với việc Bắc Kinh bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hóa Biển Đông ? Một phần nguyên nhân là cung cách mà Trung Quốc áp đặt chủ quyền lên 80% vùng biển chiến lược này. Biển Đông là nơi mà hơn phân nửa trọng tải hàng hóa thế giới luân chuyển qua đây, là con đường quá cảnh quan trọng cho quân đội Mỹ và nhiều nước đồng minh, thân hữu. Trong năm năm qua, Bắc Kinh đã đặt dấu chân cùng khắp Biển Đông, với việc đào đắp những đảo nhân tạo mới, xây dựng các cơ sở giám sát, phòng không, chống hạm, chống các lực lượng tấn công. Chiến dịch của Trung Quốc được tiến hành một cách khôn khéo, qua một loạt các động thái từ thấp đến cao, mỗi bước đều dưới cái ngưỡng có thể kích hoạt phản ứng đáp trả mạnh mẽ của phương Tây. Kết quả là nay Bắc Kinh đã có những thiết trí quan trọng trên 12 đảo ở Biển Đông, và có sự hiện diện quân đội, tuần duyên, dân quân biển quy mô nhất trong khu vực. Trong số các khả năng quân sự của Trung Quốc, có việc bố trí trên các đảo nhân tạo các thiết bị giám sát, thu thập thông tin tình báo, các hỏa tiễn tầm xa diệt phi cơ và diệt hạm, cũng như vô số hệ thống phòng không. Ba trong số các đảo của Hoàng Sa nằm ở giữa Biển Đông, nay sở hữu các phi đạo dài đến trên 3.000 mét, quá tiện lợi cho các hoạt động của Boeing 747. Các nhà vòm kiên cố sắp hoàn thành trên ba đảo này, có thể chứa được 24 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ ; năng lực bảo trì, các kho chứa nhiên liệu và các thiết bị hậu cần khác được mở rộng. Các máy bay cất cánh từ đây có thể bay đến tận Biển Andaman, Bắc Úc và căn cứ Guam của Mỹ. Các đảo mới được đào đắp cũng có thể dùng để bố trí nhiều hỏa tiễn hành trình, hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, có khả năng bắn vào các mục tiêu trên mặt đất lẫn các chiến hạm ngoài biển, đến tận Biển Sulu của Philippines, hay Singapore, Nam Malaysia. Các hải cảng xây dựng tại các đảo này có thể tiếp nhiên liệu đầy đủ cho nhiều chiến hạm, tàu của lực lượng tuần duyên và dân quân biển. Thêm vào đó, các đảo nhân tạo cũng có thể hỗ trợ cho mạng lưới do thám tàu ngầm trên khắp Biển Đông, có nghĩa là nâng cao năng lực của Trung Quốc chống lại các tàu ngầm của phe đồng minh. Vì ba đảo mới này không quá nhỏ, đây sẽ là nơi phân tán hầu hết tài sản của quân đội Trung Quốc trong trường hợp xung đột, bị các lực lượng đồng minh tấn công. Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) nay có kích thước như một căn cứ quân sự trên đất liền. Đá Xu Bi (Subi Reef) đã lớn hơn đến 50%, có thể so sánh với khu vực căn cứ hải quân Trân Châu Cảng. Đá Vành Khăn (Mischief Reef) cũng rộng hơn và có thể tương đương với quận Columbia. Hậu quả là Trung Quốc có vẻ đang thênh thang trên con đường biến Biển Đông thành con đường hàng hải nội bộ được vũ trang tận răng. Hiện nay việc đi qua vô hại, đặc biệt đối với các tàu buôn, vẫn được tôn trọng. Tuy nhiên Bắc Kinh nói rõ là các điều kiện dành cho hoạt động của các tàu nước ngoài, ngay cả các quốc gia duyên hải, sẽ do Bắc Kinh quyết định. Giới chức liên quan của Trung Quốc cho biết Bắc Kinh đang cân nhắc việc tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông. Các thiết trí quân sự nay gần như hoàn tất cho phép lực lượng Trung Quốc thực hiện tuyên bố trên, với việc cho máy bay chiến đấu lên ngăn chặn những phi cơ không khai báo. Mặc dù hầu hết các nhà quan sát quốc tế tin rằng nhiều hành động của Trung Quốc ở Biển Đông vi phạm nghiêm trọng luật lệ quốc tế, phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye tháng 7/2016 đã làm rõ mức độ vi phạm này. Tòa nhất trí rằng yêu sách « quyền lịch sử » mà Bắc Kinh đòi hỏi đối với Biển Đông và các đảo nhân tạo trong phạm vi « đường 9 đoạn »là vô căn cứ. Khi đối mặt với yêu sách lãnh thổ và bành trướng quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông, các lãnh đạo đồng minh hầu như luôn đáp trả bằng cách lặp lại câu thần chú : Chúng tôi có lợi ích quan trọng trong tự do hàng hải và hàng không, chúng tôi không yêu sách lãnh thổ trong khu vực ; chúng tôi kêu gọi tất cả các bên kềm chế, giải quyết tranh chấp theo luật lệ quốc tế. Tàu bè và phi cơ của đồng minh thỉnh thoảng đi qua khu vực, hiếm khi trực tiếp thách thức yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh. Cách đáp trả này rõ ràng đã thất bại, không ngăn cản được sự bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc. Tại sao phương cách của Hoa Kỳ và các đồng minh thân thiết lại dè dặt và vô hiệu quả như thế ? Theo tác giả, có nhiều nhân tố tác động đến. Trước tiên, nhiều người ở Washington và các thủ đô phương Tây khác nhìn vấn đề Biển Đông như một vấn đề phức tạp, với những hậu quả nho nhỏ, và tốt nhất không nên để ý đến. Một số nhà hoạch định chính sách và nhà bình luận cho rằng không nên gánh lấy nguy cơ đối đầu giữa các cường quốc chỉ vì « một ít đảo đá nằm rải rác » ở một vùng đất xa xôi. Thứ hai, tầm quan trọng của chiến lược Biển Đông tương lai đối với các nước đồng minh và nước đối tác có những khác biệt đáng kể. Quan điểm chung ở Washington là Biển Đông quan trọng, nhưng không phải sống còn ; chỉ đơn giản là một trong nhiều khu vực bất ổn mà Hoa Kỳ phải giải quyết. Tokyo, Seoul và Canberra coi trọng Biển Đông hơn, do giá trị chiến lược nội tại và tầm quan trọng của nó đối với các đối tác thân thiết, là thành viên ASEAN nằm cạnh vùng biển này. Đối với các quốc gia ven Biển Đông, sự cân bằng chiến lược và chủ quyền thực sự của khu vực hết sức quan trọng cho an ninh của họ trong tương lai, và sức khỏe của nền kinh tế. Những khác biệt về ưu tiên giữa các đồng minh Tây Thái Bình Dương và những nước thân hữu gây căng thẳng cho quan hệ đồng minh dài lâu. Một hạn chế quan trọng thứ ba là từ mô hình đồng minh theo kiểu « trục bánh xe và nan hoa »tại Tây Thái Bình Dương từ thập niên 50. Các đồng minh trong khu vực không hợp tác tốt ở vòng ngoài cũng như trong việc phối hợp kế hoạch an ninh. Những năm gần đây đã có một số tiến bộ trong việc tăng cường phối trí giữa Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và vài nước đối tác khác ở Đông Nam Á, nhưng vẫn còn hạn chế và không thường xuyên. Washington hẳn là có khuyến khích hợp tác chặt chẽ hơn, nhưng con đường còn rất dài nếu muốn đạt đến sự phối hợp an ninh thường lệ như ở châu Âu. Một sự hợp tác kịp thời, hiệu quả để đáp trả các hành động của Bắc Kinh tại Biển Đông, không phải là điều đơn giản. Thứ tư, nhiều công dân, hầu như tất cả các nhà báo và nhiều dân biểu, nghị sĩ có rất ít thông tin về các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông, trong khi Bắc Kinh mở rộng các hoạt động chiến lược trong thập niên vừa qua. Các cơ quan truyền thông lớn và hãng thông tấn phương Tây cũng chẳng cố gắng nói lên sự thật về những gì đang xảy ra, hay giải thích về tham vọng của Bắc Kinh. Thứ năm, đáp trả một cách hiệu quả các hoạt động lấn chiếm từng chút một như tằm ăn rỗi của Trung Quốc trên Biển Đông, về bản chất là rất khó. Bắc Kinh sử dụng một chiến lược rất tinh tế, có thể hành động mà không thách thức các cam kết của Hoa Kỳ với đồng minh, hay trực tiếp đối đầu với Mỹ hoặc các lực lượng đồng minh. Hơn nữa, các lãnh đạo phương Tây có rất nhiều vấn đề chính trị và hành chính phải giải quyết, khó thể duy trì liên tục sự quan tâm đến khu vực. Thứ sáu, nhiều doanh nhân phương Tây và chính trị gia muốn tránh né các biện pháp có thể gây trở ngại cho công việc của mình và quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Các quan ngại này có thể thấy rõ nơi các đồng minh Tây Thái Bình Dương, cũng như các công ty của Mỹ và các nước khác đã đầu tư nhiều vào việc siết chặt quan hệ với các công ty Trung Quốc. Các hãng tin Trung Quốc rất tích cực khuếch đại các quan ngại này, tuyên truyền sai lạc về tình trạng khó xử, thổi phồng hậu quả đối với các nền kinh tế khu vực trước bất kỳ hành động nào đối phó với sự hung hăng của Bắc Kinh. Thành công từ các chiến dịch thông tin của Bắc Kinh tại các nước phương Tây là nhân tố thứ bảy khiến các nước này dè dặt trước các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông. Các hoạt động này được hỗ trợ bởi việc Trung Quốc mua lại các cơ quan truyền thông phương Tây, đồng thời khuyến dụ các nhân vật lãnh đạo, nhà báo, trí thức bằng việc mời sang tham quan Trung Quốc, bao trọn mọi chi phí. Bên cạnh đó còn đóng góp vào các quỹ quan trọng của các đảng chính trị, các tổ chức thân Bắc Kinh đủ loại, trong đó có các Viện Khổng tử tại các trường đại học ; thường xuyên chi tiền để kèm các phụ trang tuyên truyền trong các nhật báo phát hành tại thủ đô các nước. Đại sứ quán, lãnh sự quán và các định chế thân Bắc Kinh thường tổ chức các cuộc biểu tình « ái quốc », chương trình văn nghệ và các sự kiện khác. Hoạt động tình báo và tin tặc được sử dụng để tăng sức nặng cho các thông điệp chính thức. Bắc Kinh còn tuyển mộ điệp viên và chuyên gia vận động hành lang ; hăm dọa, cưỡng bức, ngăn trở những hành động phản kháng. Nhân tố thứ tám là văn hóa. Cử tri phương Tây có vẻ lo sợ hơn về khả năng kích hoạt xung đột, so với người Trung Quốc. Huge White, một nhà quan sát nổi tiếng về tình hình khu vực thậm chí còn biện luận rằng Hoa Kỳ không nên đối đầu với sự bành trướng của Trung Quốc, trừ phi các nhà lãnh đạo muốn « thuyết phục đa số người Mỹ rằng nước Mỹ cần phải đối phó với một cuộc chiến tranh nguyên tử để duy trì vai trò lãnh đạo của Mỹ ở châu Á ». Theo tác giả Ross Babbage, các tuyên bố như thế phản ánh những đánh giá sai lầm về quyền lực của Bắc Kinh vốn chỉ tương đối, những giả định không đáng tin cậy về việc Bắc Kinh đã sẵn sàng chuẩn bị cho việc sử dụng vũ khí nguyên tử chống lại Hoa Kỳ. Đồng thời cũng không nhận định đúng mức tầm vóc của việc hình thành liên minh chiến lược, và rất nhiều khả năng ngăn chận cuồng vọng của Trung Quốc mà không cần dùng đến biện pháp quân sự. Trong phần hai « Biển Đông : Đã đến lúc phải dằn mặt Bắc Kinh », ông đưa ra những đề nghị cho chính quyền Donald Trump nhằm chặn đứng việc Bắc Kinh làm mưa làm gió trên Biển Đông. Nhân dân Việt Nam cần lấy lại Hoàng Sa Nhưng đảng CSVN quyết tâm dâng hiến
Ông Võ Ngọc Đồng, Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa (TP Đà Nẵng), đã khẳng định như trên vào chiều 19/1, tại buổi gặp mặt 12 nhân chứng từng sống và làm việc trên quần đảo Hoàng Sa."Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của nước ta nhưng Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm trái phép. Các thế hệ người Việt sẽ cương quyết đòi lại quần đảo này", ông Võ Ngọc Đồng nói. Ông Đồng nói rằng nhiều năm qua UBND huyện Hoàng Sa, Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng đã sưu tầm được rất nhiều tài liệu, bản đồ của các học giả nổi tiếng trong và ngoài nước nói về Hoàng Sa. Tất cả các tài liệu này đều chứng minh quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thời chiến tranh, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã khai thác, sử dụng quần đảo này. Tuy nhiên, đến ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã nổ súng xâm chiếm đảo. Là một trong số 12 nhân chứng Hoàng Sa hiện diện tại buổi gặp mặt, ông Trần Hòa (ngụ Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) kể tháng 10/1973, khi đó ông mới đôi mươi, đã không nề hà khó khăn để ra Hoàng Sa làm y tá. Trong 3 tháng làm nhiệm vụ, ông nhớ rõ có lần biển động, một tàu cá Trung Quốc không kịp vào bờ đã tấp vào đảo trú ngụ trong đêm. Chiếc tàu này sau đó bị bão biển đánh chìm, các ngư dân được cứu giúp lên đảo. Ông Hòa và những người lính địa phương, nhân viên khí tượng giữ đảo nhường cơm xẻ áo cho các ngư dân Trung Quốc, dù lương thực trong 3 tháng đã được tính toán chi li vừa đủ. "Anh em chấp nhận nhịn đói để cưu mang ngư dân nước họ. Thế mà sau đó gần 3 tháng, phía Trung Quốc lại đưa quân lên đảo xua đuổi chúng tôi, rồi ngang nhiên chiếm giữ quần đảo này", ông Hòa kể. Một nhân chứng khác nhớ lại, vào ngày 18/1/1974 đội của ông lên tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) về đất liền thì phát hiện tàu chiến Trung Quốc đang xâm phạm phía nam đảo Hoàng Sa. Lúc này, tàu HQ-16 chặn đường, buộc tàu Trung Quốc rút lui. Sau đó, 6 người trên HQ-16 được yêu cầu xuống xuồng trở lại đảo. Đến rạng sáng 19/1/1974, khi mọi người vào đến đảo thì phía Trung Quốc bắt đầu dội pháo và đổ bộ lính, bắt hết lực lượng Việt Nam Cộng hòa. "Bây giờ Hoàng Sa là của Việt Nam thì cả thế giới đều biết cả rồi. Nhưng họ không chịu trả lại cho chúng ta là điều đáng buồn. Chúng tôi còn sống ở đây và sẽ luôn nói với con cháu là sẽ tìm mọi cách để đòi lại quần đảo Hoàng Sa", nhân chứng Trần Văn Chương (ngụ quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng), nói. Ông Đặng Công Ngữ, nguyên Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa, cho biết từ năm 2014 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa đã làm "nóng" trên tất cả các diễn đàn đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, theo ông Ngữ, trách nhiệm đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, không chỉ dừng lại trên mặt trận truyền thông, sưu tập, tổng hợp các bằng chứng để khẳng định chủ quyền, mà cần phải biến thành hành động. "Bước tiếp theo là phải đưa các bằng chứng đó ra để đấu tranh pháp lý, đấu tranh ngoại giao, tiến tới đòi lại Hoàng Sa từ tay Trung Quốc", ông Ngữ nói. Ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng, cho biết hai năm qua Đà Nẵng đã đưa lịch sử Hoàng Sa vào chương trình giáo dục trong các cấp học. Vị này kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nên đưa lịch sử Hoàng Sa vào sách giáo khoa để giáo dục cho các thế hệ trẻ. "Chúng ta sẽ không bao giờ được phép quên ngày Hoàng Sa thất thủ. Phải nói với con cháu mai sau nhớ mãi sự kiện này. Mười năm, 50 năm hoặc 100 năm sau, nhất định chúng ta phải đòi lại chủ quyền quần đảo thiêng liêng này", ông Tiếng nhấn mạnh. Huyện Hoàng Sa phải có dân Ông Đặng Công Ngữ nói rằng việc TP Đà Nẵng bổ nhiệm chức danh Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa là minh chứng cho quyết tâm đòi lại chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên, theo ông, Nhà nước cần phải cho phép huyện này có dân. "Trước mắt, khi Hoàng Sa đang rơi vào tay nước khác thì chúng ta nên lấy dân ở một số phường thuộc quận Sơn Trà nhập khẩu vào huyện Hoàng Sa", ông Ngữ kiến nghị. Vị này cũng mong muốn chính quyền Đà Nẵng sớm thành lập Hiệp hội nghề cá Hoàng Sa để các ngư dân đùm bọc, hỗ trợ nhau trong quá trình đánh bắt hải sản ở ngư trường Hoàng Sa. Theo Đoàn Nguyên, Zing.vn Luật pháp Quốc tế và Chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa (*)Thái Văn Cầu
Trong cuộc gặp bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Hạt nhân vào cuối tháng 3 năm 2014 ở The Hague, Hà Lan, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi Mỹ “nên có thái độ công bằng và khách quan, phân rõ phải trái và cần làm nhiều hơn để tìm ra giải pháp thích hợp và cải thiện tình hình” trong tranh chấp Biển Đông và Biển Hoa Đông. Đáp lại, Tổng thống Mỹ Barack Obama “nhấn mạnh việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề này dựa trên đối thoại và luật pháp quốc tế và bày tỏ Mỹ tiếp tục ủng hộ cho nỗ lực này.”[1] Cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước mạnh hàng đầu thế giới, tuy ngắn ngủi, nói lên tính chất nghiêm trọng trong tranh chấp lãnh hải giữa các nước thành viên ASEAN, Nhật Bản với Trung Quốc. Mục đích của bài nghiên cứu này nhằm xét đến một số góc cạnh then chốt của luật pháp quốc tế, qua đó liên hệ đến nỗ lực bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam. Cơ chế quốc tế để giải quyết tranh chấp trên đất liền hay trên biển giữa các nước là Toà án Quốc tế (ICJ), Toà án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Toà án Trọng tài Đặc biệt theo Phụ lục VIII của UNCLOS. ICJ hiện hữu từ năm 1946; ba Toà án còn lại hình thành sau khi UNCLOS có hiệu lực năm 1994. ICJ và ITLOS đòi hỏi mọi bên trong tranh chấp đồng ý tham gia vào quá trình thưa kiện. 1. Việt Nam đánh mất chủ quyền quần đảo Hoàng Sa dưới thời thực dân Pháp ?Dựa vào hoạt động của chính quyền Quảng Đông vào những năm đầu thế kỷ XX, Marwyn S. Samuels, sử gia Mỹ, cho rằng Trung Quốc hành xử chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, hay ít nhất là ở đảo Phú Lâm, thuộc Hoàng Sa, hơn 10 năm trước khi Pháp tuyên bố chủ quyền.[2] Lập luận trên phạm các sai lầm nghiêm trọng sau: a. Theo chứng cứ lịch sử của phương Tây và của Việt Nam, trong hơn 200 năm, trước khi bị Pháp áp đặt chế độ thuộc địa, Việt Nam hành xử chủ quyền ở Hoàng Sa đúng theo những tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế ở thời điểm trước Công ước Berlin hay như quy định trong Công ước này năm 1885: nơi chiếm hữu phải là đất vô chủ (terra nullius) hay đất bị từ bỏ (terra derelicta), bộ phận chiếm hữu thuộc cơ chế quốc gia, và sự chiếm hữu được thông báo.[3] Sau khi ký kết Hiệp ước Thiên Tân với nhà Thanh năm 1885, Pháp hoàn tất chế độ thuộc địa ở Việt Nam, và nắm quyền đại diện cho Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Trong những năm đầu thế kỷ XX khi người Tàu hay người Nhật hiện diện ở Hoàng Sa, Hoàng Sa không còn là đất vô chủ, như công ty Nhật Mitsui Bussan Kaisha hoạt động ở đảo Phú Lâm trong thập niên 1920 thừa nhận: “Khi được thẩm vấn, người Nhật Bản cầm đầu doanh nghiệp này nói rằng đại diện của công ty Mitsui Bussan Kaisha của họ đâu dám tự tiện tiến hành việc khai thác vào cuối năm 1920 mà không thông báo trước cho Tư lệnh Hải quân Sài Gòn, và vị tư lệnh này, đứng về quan điểm quân sự, đã không thấy cần thiết ra lệnh cấm đoán... chính quyền Pháp đã thấy không cần thiết phải hủy bỏ sự cho phép hầu như chính thức mà tư lệnh Hải quân đã cung cấp một cách hơi dễ dãi, (vì) người Nhật đã hành xử đúng phép tắc đối với nhà chức trách Pháp và họ không hề phủ nhận quyền của Pháp đối với các đảo Hoàng Sa."[4] Sau khi Quốc gia Việt Nam được hình thành năm 1949, Pháp trao trả cho Việt Nam quyền hạn trong quan hệ quốc tế. Khi cơ hội đến, phái đoàn Quốc gia Việt Nam chính thức tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam trước sự hiện diện của 51 nước tham dự Hội nghị San Francisco năm 1951.[5] b. Theo luật pháp quốc tế, sự kiện triều đình nhà Nguyễn hay thực dân Pháp không thường xuyên hay tích cực hành xử chủ quyền Hoàng Sa trong một thời gian không cấu thành yếu tố quần đảo Hoàng Sa, một phần hay toàn phần, bị Việt Nam từ bỏ chủ quyền. Trong vụ kiện Tây Sahara, ICJ đề cập đến đặc tính của một vùng đất có thể gây ảnh hưởng đến đời sống, hoạt động xã hội và chính trị trong vùng đất ấy.[6] Trong vụ kiện giữa Hà Lan và Mỹ về đảo Palmas, Max Huber, chuyên gia Thụy Sĩ về luật pháp quốc tế, có ý kiến cho rằng khi một nhóm đảo hình thành một đơn vị, số phận của các đảo chính quyết định số phận các đảo còn lại. Nói một cách khác, hành xử chủ quyền ở một nhóm đảo, như một đơn vị, không đòi hỏi hành xử chủ quyền ở từng đảo riêng biệt trong nhóm đảo đấy. Monique Chemillier-Gendreau, chuyên gia Pháp về luật pháp quốc tế, đề cập đến quan điểm của Max Huber khi nói về hành xử chủ quyền của Pháp ở Trường Sa, và quan điểm này cũng ứng dụng trong hành xử chủ quyền ở Hoàng Sa.[7] Trong vụ kiện giữa Cameroon và Nigeria, ICJ nhận xét, "từ khi giành được độc lập, Cameroon có hoạt động, qua đó, rõ ràng cho thấy là nước này không cách nào từ bỏ chủ quyền vùng Bakassi". ICJ quyết định trao chủ quyền vùng Bakassi cho Cameroon.[8] Sir Robert Yewdall Jennings, chuyên gia Anh về luật pháp quốc tế, đưa ý kiến về nguyên tắc từ bỏ chủ quyền (abandonment), “quốc gia có chủ quyền chỉ cần chứng minh là không có ý từ bỏ chủ quyền hay không chấp nhận đòi hỏi chủ quyền của quốc gia khác”.[9] Monique Chemillier-Gendreau nêu ý kiến, “Triều đình Việt Nam bị suy yếu bởi cuộc chinh phục và bởi chính sách của Pháp nhanh chóng biến đổi quy chế bảo hộ thành thuộc địa, (nên) tiếng nói của họ về biển đảo gần như không được nghe đến. Tuy nhiên khi có cơ hội, họ vẫn lên tiếng.”[10] Tóm lại, phán xử của ICJ, quan điểm của chuyên gia luật pháp quốc tế, và chứng cứ lịch sử của Việt Nam và của phương Tây cho thấy Việt Nam đã không đánh mất chủ quyền biển đảo, một phần hay toàn phần, như Marwyn S. Samuels hay các tác gỉả khác lập luận một cách sai lầm, trong giai đoạn từ đầu thập niên 1850 cho đến giữa thập niên 1920, khi Toàn quyền Đông Dương chính thức tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa.[11] 2. Nguyên tắc “quieta non movere” hay “không làm xáo trộn sự ổn định”Trong nhiều năm qua, quan chức, học giả Việt Nam có ý kiến cho rằng giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa là vấn đề lâu dài, kéo đến đời con, đời cháu, hay ngay cả hàng trăm năm.[12] Ý kiến như trên không phản ánh thực tế Việt Nam phải đối diện trước luật pháp quốc tế. Trong giải quyết tranh chấp giữa hai nước, ICJ vẫn sử dụng nguyên tắc “quieta non movere” hay “không làm xáo trộn sự ổn định”. ICJ có thể đưa phán xét thuận lợi cho nước đang chiếm giữ một vùng đất, vùng biển, mặc dù chủ quyền ban đầu không thiết lập rõ ràng, nhưng có hành xử thích hợp trong một thời gian.[13] Trong vụ kiện giữa Norway và Sweden, nguyên tắc này là một trong những yếu tố khiến Sweden nhận được quyết định thuận lợi về Grisbadarna Banks.[14] Trong vụ kiện giữa Bahrain và Qatar, nguyên tắc này cũng là một trong những yếu tố khiến Bahrain nhận được quyết định thuận lợi về quần đảo Hawar.[15] Nguyên tắc “quieta non movere” không được giới nghiên cứu trong nước biết đến nhiều, nhưng Giản Quân Ba, một học giả Trung Quốc, từng gián tiếp nói về nguyên tắc này hơn ba năm trước: “Nếu Bắc Kinh không thể giải quyết vấn đề tranh chấp và xác lập chủ quyền ở những hòn đảo và vùng lãnh hải trước năm 2020, đây sẽ là một thách thức lớn đối với Trung Quốc, bởi vì theo một nguyên tắc của luật quốc tế, nếu một quốc gia chiếm đóng một vùng đất thành công trong hơn 50 năm, vùng đất đó có thể trở thành một phần của lãnh thổ nước này. Nhưng với điều kiện tiên quyết là việc chiếm đóng đó không bị các nước khác phản bác.”[16] Theo Wu Shicun, Giám đốc học viện nghiên cứu Biển Đông cấp quốc gia duy nhất của Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông bắt đầu trở nên căng thẳng vào đầu thập niên 1970.[17] Mặc dù chưa thấy hiện hữu bằng chứng hỗ trợ con số 50 năm như một đòi hỏi cho nguyên tắc “quieta non movere”, một số điểm nên ghi nhận: Suốt gần 20 năm, sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, trong khi Việt Nam thiếu quan tâm đúng mức về vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa, Trung Quốc tận dụng thời gian để xây dựng lực lượng cho tham vọng độc chiếm Biển Đông: Trung Quốc hiện có quan toà đại diện trong hai cơ chế luật pháp quốc tế ICJ và ITLOS; Trung Quốc hoàn tất hàng trăm luận án tiến sĩ, hội thảo về đề tài Biển Đông trong thập niên 2000, hải quân Trung Quốc lớn mạnh và hiện diện rộng khắp trên Biển Đông, v.v.[18] Hậu quả là sự hiện hữu một khoảng cách giữa Việt Nam và Trung Quốc trong nỗ lực nghiên cứu luật pháp quốc tế cũng như trong các lãnh vực khác liên hệ đến Biển Đông. Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên phản đối hành động của nước đối tác liên quan đến Biển Đông và khẳng định chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa (hay Tây Sa-Nam Sa, theo cách gọi của Trung Quốc).[19] Trong vụ kiện giữa Nicaragua và Honduras trong Biển Caribbean, ICJ nhận định rằng sự liên tục khẳng định chủ quyền vùng biển liên hệ của Nicaragua là không đầy đủ so với cách hành xử chủ quyền của Honduras. Khiếm khuyết này của Nicaragua trở thành một trong những yếu tố khiến Honduras nhận được quyết định thuận lợi.[20] Quyết định trên của ICJ cho thấy rằng phản đối hành vi xâm phạm chủ quyền là điều kiện cần trong luật pháp quốc tế, nhưng nó không phải là điều kiện đủ để bảo vệ chủ quyền đất nước. Theo M. Taylor Fravel, chuyên gia Mỹ về quan hệ quốc tế, từ khi thành lập CHNDTH năm 1949 cho đến nay, trong tổng số 23 cuộc tranh chấp lãnh thổ hay lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, Trung Quốc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán 17 lần và sử dụng vũ lực 6 lần. Trong đó, 3 lần sử dụng vũ lực là với Việt Nam: Tại Hoàng Sa năm 1974, khu vực biên giới cực Bắc năm 1979, và Trường Sa năm 1988. Ba lần còn lại là với Đài Loan, Ấn Độ và Liên Xô.[21] Hiến chương Liên hiệp quốc có Chương I, Điều 2, Khoản 4, ngăn cấm thành viên của tổ chức Liên hiệp quốc đe doạ hay sử dụng vũ lực chống toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của thành viên khác. Hiến chương Liên hiệp quốc cũng có Chương VII, Điều 51, đề cập đến quyền tự vệ cá nhân hay quyền tự vệ tập thể khi thành viên bị tấn công vũ trang.[22] Trong hơn 30 năm nay, học giả Trung Quốc và một số học giả phương Tây có quan điểm thuận lợi cho Trung Quốc, trực tiếp hay gián tiếp, bóp méo hay làm lu mờ sự thật khi lập luận Trung Quốc đã thực hiện “quyền tự vệ” hay bảo vệ “toàn vẹn lãnh thổ” trong xung đột biển đảo với Việt Nam.[23] Mặc dù nguyên tắc “quieta non movere” chưa thấy được ICJ nêu lên trong trường hợp sử dụng vũ lực chiếm đóng bất hợp pháp, nhưng Trung Quốc khôn khéo kết hợp nguyên tắc “quieta non movere” và thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của họ để thúc đẩy cán cân thuận lợi trong chứng cứ lịch sử và pháp lý về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam trong hàng thế hệ qua nghiêng dần về phía Trung Quốc. Qua chiến thuật kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa, Trung Quốc từng bước buộc Việt Nam phải đối diện với thực tế về sự chiếm đóng vĩnh viễn quần đảo của Việt Nam, và từ vị trí chiến lược của Hoàng Sa-Trường Sa, Trung Quốc từng bước tăng cường sức mạnh cho đòi hỏi “đường lưỡi bò” của họ trên Biển Đông.[24] 3. Vai trò của chứng cứ lịch sử và mức độ chính xác cần thiếtTrước luật pháp quốc tế, chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý là yếu tố thuyết phục nhất. Tuy nhiên, chuyên gia luật pháp quốc tế cũng nhận định, trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ, trên đất liền hay trên biển, khả năng để các bên có chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý không cao. Theo Nuno Sergio Marques Antunes, chuyên gia Bồ Đào Nha về tranh chấp hàng hải quốc tế, “tranh chấp dựa duy nhất trên lập luận pháp lý ... tương đối hiếm. Tuyệt đại đa số các cuộc tranh chấp lãnh thổ thiếu lập luận pháp lý có ý nghĩa. Trong phần lớn các trường hợp, những lập luận không mang tính pháp lý nổi bật hơn”.[25] Mỗi bên trong tranh chấp lãnh thổ phải tận dụng tất cả chứng cứ nghiêm túc, bất kể hình thức, như Brian Taylor Sumner, chuyên gia Mỹ về luật pháp quốc tế, khẳng định, bao gồm 9 loại khác nhau, trong đó có chứng cứ lịch sử.[26] Chứng cứ lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Trung Quốc, dựa vào cổ sử hay ngay cả dựa vào các sự kiện xảy ra trong 60 năm qua, chứa đựng nhiều sai lầm, lắm lúc với chủ đích để đánh lừa dư luận. Trong khi một số học giả phương Tây, do dựa vào một phần hay toàn phần cổ sử của Trung Quốc, để đưa quan điểm thuận lợi cho nước này, giới nghiên cứu của Việt Nam đã phân tích những thiếu sót nghiêm trọng trong cổ sử Trung Quốc về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Trung Quốc.[27] Trong tác phẩm tiếng Anh xuất bản cuối năm 2013, Wu Shicun sử dụng các lập luận sau cho đòi hỏi chủ quyền biển đảo trên Biển Đông: Trung Quốc là nước khám phá, nước đặt tên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, nước nhận triều cống từ phong kiến Việt Nam, VNDCCH từng công nhận chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Quốc, CHXHCNVN chỉ kế thừa duy nhất từ VNDCCH, v.v.[28] Lập luận cho rằng Trung Quốc, do là nước khám phá hay nước đặt tên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, nên có chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, không thỏa mãn các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế về quyền chiếm hữu đề cập trong phần #1 ở trên. Lập luận cho rằng Trung Quốc, do là nước nhận triều cống từ phong kiến Việt Nam cho đến năm 1885, nên có chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, bị bác bỏ, dựa trên chứng cứ lịch sử và dựa trên vụ kiện giữa Pháp và Anh về khu vực Minquiers-Ecrehos.[29] Lập luận cho rằng, do VNDCCH từng công nhận chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Quốc, và do CHXHCNVN chỉ kế thừa duy nhất từ VNDCCH, nên Trung Quốc có chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, bị bác bỏ, dựa trên sự không thích ứng của nguyên tắc ngăn chặn (estoppel), quyền kế thừa của quốc gia theo luật pháp quốc tế và chứng cứ lịch sử trong quan hệ quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn 1954-1976.[30] Ngoài thoả mãn hai tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế trước thời điểm của Công ước Berlin, chứng cứ lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam trong tư liệu cổ phương Tây, trong hơn 200 năm, từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX đặc biệt thoả mãn tiêu chuẩn nêu lên trong Công ước năm 1885 về nhận thức của cộng đồng thế giới đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam.[31] Trái lại, cho đến ngày nay, Trung Quốc không trình bày được chứng cứ lịch sử nào thuận lợi cho đòi hỏi chủ quyền của họ từ nguồn tư liệu cổ phương Tây trước thế kỷ XX. Trung Quốc đề cập đến hai sự kiện: Kuo Sung-tao, Đại sứ Trung Hoa đầu tiên ở Anh vào khoản năm 1876-1877 tuyên bố Hoàng Sa thuộc Trung Hoa, và Trung Hoa phản đối và ngăn chặn đoàn khảo sát Đức thực hiện công tác đo đạc ở Hoàng Sa và Trường Sa năm 1883. Bên cạnh không có tư liệu độc lập kiểm chứng tính chính xác về tuyên bố của Kuo Sung-tao, thực tế cho thấy năm 1885, Đức phổ biến bản đồ chi tiết khu vực Hoàng Sa mà họ đã khảo sát trong các năm 1881-1883.[32] So sánh với Trung Quốc, chứng cứ lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam rõ ràng, vững chắc hơn. Tuy nhiên, do sự gián đoạn gần 20 năm trong nỗ lực nghiên cứu chủ quyền và giới thiệu nghiên cứu chủ quyền trước dư luận thế giới, và nhằm đảm bảo tính khoa học và nghiêm túc của nó, hồ sơ chứng cứ chủ quyền của Việt Nam còn cần sự quan tâm của giới chuyên gia và nghiên cứu, như người viết đề nghị năm 2011: “Để khắc phục thiếu sót trong quá khứ, và để loại bỏ lỗ hổng trong lập luận chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, nhà nước Việt Nam nên khẩn trương hỗ trợ giới nghiên cứu (độc lập cũng như trực thuộc bộ máy chính quyền), thúc đẩy tham khảo tư liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia và từ các nguồn khác (kể cả ngoài nước), chuyển dịch những nghiên cứu đúng đắn từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài (cụ thể như tiếng Anh, tiếng Hoa), tư vấn chuyên gia ở ngoài nước về giải quyết tranh chấp lãnh thổ, đào tạo lớp người trẻ với chuyên môn nghiệp vụ cao, v.v.”[33] 4. Các kịch bản trong tranh chấp Biển ĐôngVào cuối tháng 9 năm 1975, trong cuộc họp giữa lãnh đạo hai nước, khi Bí thư Thứ nhất đảng Lao động Việt Nam Lê Duẫn nêu vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa, Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thừa nhận có tranh chấp và đề nghị hai nước thảo luận sau.[34] Sau gần 40 năm, cuộc tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa vẫn chưa được giải quyết. Năm kịch bản cho tranh chấp Biển Đông trong 10 năm tới: 1. Trung Quốc sử dụng vũ lực để đánh chiếm một phần hay toàn bộ quần đảo Trường Sa, nhằm “giải quyết vấn đề tranh chấp và xác lập chủ quyền ở những hòn đảo và vùng lãnh hải trước năm 2020” như học giả Trung Quốc khẳng định và các nguồn thông tin khác cho biết.[35]. Trong tranh chấp biển đảo, Trung Quốc từng sử dụng vũ lực với Đài Loan vào thập niên 1950, và sử dụng vũ lực với Việt Nam vào thập niên 1970 và thập niên 1980. Cuộc phiêu lưu quân sự mới của Trung Quốc ở Trường Sa, nhằm kiểm soát toàn bộ các đảo, đá trong phạm vi “đường lưỡi bò”, sẽ gây mất an ninh, ổn định trên Biển Đông, ảnh hưởng đến lưu thông hàng hải của Mỹ, Nhật, Ấn Độ, v.v. Không ai ngạc nhiên với nhận định là Trung Quốc đã theo sát diễn biến ở Ukraine và Crimea để đánh giá phản ứng và biện pháp đối phó của Mỹ và Liên hiệp Châu Âu đối với Nga. Tuy nhiên, do khác biệt lớn với sự sáp nhập của Crimea vào Nga, kịch bản này đưa đến hậu quả kinh tế, quân sự, chính trị, v.v. có khả năng cao nằm ngoài mức dự đoán của lãnh đạo Trung Quốc. 2. Trung Quốc đồng ý để các toà án quốc tế giải quyết tranh chấp Biển Đông.
Do sự yếu kém của Trung Quốc trong chứng cứ lịch sử và pháp lý về chủ quyền, do hành động sử dụng vũ lực năm 1974 và 1988 để chiếm đóng các đảo, đá ở Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam, và do chưa hội đủ điều kiện thuận lợi cho nguyên tắc “quieta non movere”, Trung Quốc phản đối luật hoá hay quốc tế hóa vấn đề biển Đông, kiên trì với chủ trương “đàm phán song phương”, “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Hơn ai hết, Trung Quốc hiểu rõ rằng họ mất nhiều hơn được khi phải đối diện với các toà án quốc tế. 3. Trung Quốc không sử dụng vũ lực nhưng tiếp tục chiến thuật kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp Biển Đông. Dựa trên các nguyên tắc đã nêu lên trong luật pháp quốc tế, Trung Quốc củng cố vị trí của họ trên Biển Đông nhằm chiếm đóng vĩnh viễn các đảo hiện đang kiểm soát bất hợp pháp. Đây là kịch bản thuận lợi cho Trung Quốc và bất lợi cho Việt Nam, nếu Việt Nam không sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc trong thời gian tới. Thực tế cho thấy Trung Quốc đã thành công trong hơn 20 năm qua khi áp lực nước có tranh chấp với Trung Quốc thực hiện “đối thoại hoà bình”, cho đến khi Philippines chính thức khởi kiện Trung Quốc ra Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS đầu năm 2013. 4. Trung Quốc đẩy mạnh chiến thuật “tằm ăn dâu” trên Biển Đông: tiếp tục hành xử chủ quyền ở các khu vực đang chiếm đóng bất hợp pháp, biến khu vực không tranh chấp thành khu vực tranh chấp, áp lực nước có tranh chấp với Trung Quốc thực hiện “đối thoại hoà bình” hay đi theo chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở khu vực “tranh chấp” mới.
Kịch bản này giúp cho Trung Quốc mở rộng ranh giới “đường lưỡi bò” nhưng họ không thể dự đoán được mọi phản ứng, bao gồm khả năng xung đột quân sự có giới hạn, với thành viên khối ASEAN, với Mỹ hay các đồng minh khác của Mỹ. Kịch bản này bất lợi trên nhiều mặt cho Việt Nam: Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.200 km để kiểm soát, các đảo của Việt Nam hiện đang bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp sẽ trở thành vĩnh viễn của Trung Quốc, khu vực thuộc EEZ của Việt Nam, trở thành khu vực “tranh chấp” với Trung Quốc, nếu Việt Nam không sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc trong thời gian tới. 5. Trung Quốc đàm phán nghiêm chỉnh với Việt Nam (và với các nước ASEAN có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc) để giải quyết tranh chấp Biển Đông. Đây là kịch bản thuận lợi nhất cho Việt Nam và các nước khác nhưng bất lợi cho tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
Các sự kiện liên quan đến Biển Đông từ đầu năm 2013 cho đến hôm nay cho thấy tình hình không cho phép Việt Nam chần chờ, trì hoãn trong nỗ lực giải quyết tranh chấp biển đảo với Trung Quốc tận gốc rễ.
5. Biến chuyển quan trọng ảnh hưởng đến tranh chấp Biển Đông
Từ trong khu vực:Philippines: Sau một thời gian đối thoại hoà bình để giải quyết tranh chấp, trước lập trường không thay đổi của Trung Quốc, vào cuối tháng 1 năm 2013, Philippines quyết định khởi kiện Trung Quốc ra Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS. Vào cuối tháng 2 năm 2014, Francis Jardeleza, luật sư phụ trách tư vấn cho chính phủ Philippines về vụ kiện, kêu gọi Việt Nam và Malaysia tham gia vào vụ kiện. Một tháng sau lời kêu gọi, Philippines chính thức trình hồ sơ pháp lý gần 4.000 trang lên Toà án Trọng tài theo đúng quy trình.[36] Malaysia: Vào tháng 3 năm 2013, các tàu chiến Trung Quốc lần đầu tiên xuất hiện ở bãi cạn James, sâu vào trong EEZ của Malaysia, cách bờ biển bang Sarawak chỉ 43 hải lý. Đây là điểm cực Nam trong “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Trong khoản 6 tháng sau, Malaysia triển khai kế hoạch thành lập một căn cứ hải quân mới ở thị trấn lớn nhất của bang Sarawak để đối phó với đe doạ của Trung Quốc.[37] Indonesia: Từ đầu thập niên 1990 cho đến gần đây, do là nước không có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, Indonesia giữ vị thế trung lập và đóng vai trò trung gian trong hoà giải giữa các bên. Sau khi ký kết “Tuyên bố về ứng xử” (DOC) với những giới hạn của nó năm 2002, trong gần một thập niên qua, Indonesia cùng các nước ASEAN khác soạn thảo "Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông" (COC) mang tính ràng buộc hơn là DOC. Nỗ lực này không gặp đáp ứng tích cực của Trung Quốc. Vào giữa tháng 4 năm 2014, Indonesia thay đổi vị thế trung lập khi tuyên bố nước này quyết định tăng cường lực lượng quân sự ở quần đảo Natuna trước sự kiện “đường lưỡi bò” của Trung Quốc bao gồm cả lãnh hải của Indonesia.[38] Việt Nam: Từ đầu thập niên 2000 cho đến nay, Trung Quốc hàng năm ngang nhiên tuyên bố lệnh cấm đánh cá trên vùng biển của Việt Nam. Không những thế, Trung Quốc còn liên tục gây thiệt hại tài sản và ngay cả thiệt hại nhân mạng cho ngư dân của Việt Nam.[39] Vào đầu tháng 10 năm 2011, trước chứng kiến của lãnh đạo hai đảng, Việt Nam và Trung Quốc ký kết thỏa thuận nhằm giải quyết vấn đề trên biển “thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”.[40] Vào cuối tháng 11 năm 2011, lãnh đạo chính phủ Việt Nam lần đầu tiên đề cập đến sự kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974.[41] Trước sự leo thang gây hấn, khiêu khích, và vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế của Trung Quốc, vào cuối tháng 4 năm 2013, lãnh đạo Việt Nam cũng lần đầu tiên đề cập đến luật pháp quốc tế như một công cụ để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.[42] Vào đầu tháng 5 năm 2014, khi ngang nhiên đặt giàn khoan HD-981 sâu vào trong EEZ của Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc chính thức cho Việt Nam và quốc tế biết rằng các cam kết của Trung Quốc với Việt Nam, bao gồm thoả thuận ký năm 2011, về giải quyết tranh chấp biển đảo trên Biển Đông bằng “đối thoại hoà bình” hoàn toàn không có giá trị.[43] Trong gần 40 năm nay, Việt Nam không ngừng kêu gọi Trung Quốc đối thoại hoà bình để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa. Theo Wang Hanling (Vương Hàn Lĩnh), học giả Trung Quốc, quan điểm của Trung Quốc là: “Không có gì để đàm phán cả… Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc chưa bao giờ là đề tài tranh chấp và Việt Nam đã thừa nhận điều này trong quá khứ. Thảo luận về nỗ lực hợp tác bảo vệ tài nguyên, tìm kiếm cứu nạn và các việc khác là một chuyện, chủ quyền của Trung Quốc là một chuyện khác”. Lập trường của Trung Quốc về Hoàng Sa không thể nào dứt khoát hay rõ ràng hơn: Hoàng Sa là của Trung Quốc. Họ còn ngang ngược đề nghị Việt Nam “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở Trường Sa, ở khu vực biển đảo của Việt Nam.[44]
Từ ngoài khu vực:Vào cuối năm 2011, Mỹ đề cập đến chiến lược mang tên “xoay trục”, hay còn gọi là “tái cân bằng” tại Châu Á-Thái Bình Dương. Trong hai năm qua, có nhiều bàn thảo, tranh luận, ý kiến về chính sách này. Một số điểm nên ghi nhận: Do chiến lược tái cân bằng đến từ một quá trình chuẩn bị tích cực trong hai thập niên dưới chính quyền Clinton và Bush, thuộc đảng Dân chủ và Cộng hoà, chiến lược này được hậu thuẫn của hai đảng và không ngừng lại ở chính quyền Obama. Với 10 tàu chở máy bay đang hoạt động (so với 1 cho Nga và 1 cho Trung Quốc), và hai tàu chở máy bay, với kỹ thuật hiện đại nhất, Ford-class, được thêm vào trước cuối thập niên này, hải quân Mỹ tiếp tục đứng ở vị trí hàng đầu so với hải quân các nước khác trong ít nhất là 20 năm tới. Trước cuối năm 2020, Mỹ sẽ hoàn tất chuyển sang Châu Á-Thái Bình Dương, 60% lực lượng hải quân, 60% căn cứ không quân ở nước ngoài, 60% khả năng đối phó của không quân trong không gian và thế giới ảo. Yếu tố không thể thiếu trong chiến lược tái cân bằng là tiến triển trong quan hệ chính trị, ngoại giao và kinh tế của Mỹ với khu vực: Mỹ hiện có hiệp ước quân sự với 5 nước, là đối tác chiến lược với 7 nước khác; Mỹ là thành viên Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, có đại sứ trong ASEAN; Mỹ hoàn tất hay đang trong quá trình đàm phán với một số nước, trong đấy có Việt Nam, về các hiệp ước để thúc đẩy thương mại, v.v.[45]
Trong thời gian gần đây, trước sự kiện giàn khoan HD-981, lãnh đạo các nước công nghiệp G7, Liên minh Châu Âu EU, Nhật, Australia, Anh, Pháp, v.v., đã có tuyên bố mạnh mẽ và thuận lợi cho Việt Nam, bao gồm lời kêu gọi chống sử dụng vũ lực và sự ủng hộ giải quyết tranh chấp qua cơ chế toà án quốc tế.[46]
6. Bước đột phá trong tranh chấp Biển ĐôngVới diện tích hơn 3.5 triệu km2, Biển Đông là một phần của Biển Thái Bình Dương, tiếp cận với lãnh hải của Việt Nam, Trung Quốc, Taiwan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Singapore. Trong thời đại toàn cầu hoá kinh tế, Biển Đông không những quan trọng với các nước tiếp cận mà còn cực kỳ quan trọng với nhiều nước đã và đang phát triển khác trên thế giới. Hàng năm có hơn 5.300 tỷ dollars mậu dịch quốc tế đi ngang qua Biển Đông trong đấy 1.200 tỷ dollars mậu dịch là của Mỹ. Số lượng mậu dịch này đóng góp vào con số thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc, với gần 320 tỷ dollars trong năm 2013, chiếm 3,5% GDP của Trung Quốc hay gấp đôi GDP của Việt Nam trong cùng năm.[47] Do vị thế chiến lược của hai quần đảo này, Việt Nam nên năng động, tích cực trình bày cho thế giới thấy rõ rằng, Hoàng Sa-Trường Sa đóng vai trò then chốt trong “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông. Khi sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam không chỉ giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh hải giữa riêng hai nước mà còn giúp mang lại an ninh và ổn định cho tất cả các nước phụ thuộc vào giao thông hàng hải ngang qua một khu vực quan trọng hàng đầu thế giới và có diện tích rộng bằng một phần ba diện tích nước Mỹ. Cách hành xử như trên chứng minh mạnh mẽ cho thế giới thấy rằng Việt Nam là một nước tôn trọng luật pháp và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Để tạo đột phá trong bế tắc và để tranh thủ thuận lợi hiện có, xét từ góc độ luật pháp quốc tế, chứng cứ lịch sử và tình hình khu vực như đề cập trong bài, Việt Nam, trong thời gian sớm nhất, nên hoặc tự mình, trong trường hợp Hoàng Sa, hoặc cùng Philippines, Malaysia, Indonesia, hay Brunei, trong trường hợp Trường Sa, hoặc một kết hợp khéo léo của cả hai phương án, công khai kêu gọi Trung Quốc đồng ý để các toà án quốc tế giải quyết tranh chấp Biển Đông. Bên cạnh đấy, do điều kiện đảo, đá, do nhu cầu giảm thiểu mức độ xung đột, tranh thủ ủng hộ của quốc tế, và do nhu cầu vô hiệu hoá “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, Việt Nam nên chủ trương quy định ngay cả đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa-Trường Sa có lãnh hải 12 hải lý và không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Trung Quốc có quan toà đại diện trong Toà án Quốc tế và Toà án Luật Biển; Trung Quốc luôn luôn khẳng định trước dư luận thế giới là họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý hậu thuẫn cho đòi hỏi chủ quyền “đường lưỡi bò” nói chung và quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa nói riêng. Nếu Trung Quốc muốn chứng minh họ cũng là nước tôn trọng luật pháp và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, nếu khẳng định của Trung Quốc về chủ quyền dựa trên cơ sở sự thật, khó có bất cứ lý do chính đáng nào khác cho Trung Quốc viện dẫn để từ chối vai trò giải quyết tranh chấp giữa các nước mà Toà án Quốc tế hành xử hữu hiệu trong hơn 60 năm nay.[48] Việt Nam đang thật sự đối diện với một trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó: sử dụng luật pháp quốc tế để duy trì hoà bình trong một khu vực trọng yếu của thế giới. Thái Văn CầuChuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ
|